Chuyên đề rèn luyện kĩ năng nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học - Pdf 33

MỤC LỤC
Nội dung

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU

01

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

01

II. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

02
PHẦN NỘI DUNG

03

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

03

1. Cơ sở lý luận

03

1.1. Văn nghị luận

03

3.1. Rèn kĩ năng viết mở bài

14

3.2. Rèn kĩ năng viết thân bài

16

3.3. Rèn kĩ năng viết kết bài

19

III. PHẦN VẬN DỤNG

19

1. Giới thiệu một số đề bài và hướng dẫn làm bài

19

1.1. Đề 1

19

1.2. Đề 2

21

1.3. Đề 3




Chuyên đề: Rèn luyện kĩ năng nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học

A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1. Rèn luyện kĩ năng làm văn cho học sinh là một yêu cầu cần thiết, quan trọng trong
hoạt động dạy học Ngữ văn. Nếu chỉ trang bị kiến thức mà bỏ qua hoạt động rèn kĩ năng thì
cũng giống như việc đã vất vả cày xới, gieo trồng nhưng rồi lại không quan tâm đến khâu
hoàn thiện sản phẩm và thu hoạch. Cho dù học sinh có kiến thức sâu rộng, mới mẻ đến đâu
cũng là không đủ để tạo nên những bài làm tốt. Các em sẽ lúng túng khi làm bài, nhất là
trong bối cảnh Bộ GD&ĐT chủ trương đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh
giá các môn khoa học xã hội (trong đó có Ngữ văn) theo tinh thần “... nâng cao yêu cầu vận
dụng kiến thức vào thực tiễn, tăng cường ra các câu hỏi mở, gắn với thời sự quê hương đất
nước để học sinh được bày tỏ chính kiến của mình về các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội”.
[Theo công văn Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ GDTrH, năm 2013].
2. Ở môn Ngữ văn THPT, thì phần làm văn trong tất cả các kì thi đều yêu cầu học
sinh thực hiện kiểu bài nghị luận. Do đó, rèn kĩ năng làm văn nghị luận với đặc trưng riêng
của kiểu bài này hẳn là yêu cầu có ý nghĩa quan trọng. Đặc biệt là việc rèn cho học sinh kĩ
năng làm những dạng đề có tính chất tích hợp, đòi hỏi khả năng lập luận sắc bén, biết kết
hợp giữa vốn sống trực tiếp và vốn sống gián tiếp một cách uyển chuyển, nhuần nhị như
dạng bài: Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học. Đây là một trong
những dạng bài rất phù hợp với tính chất của các kì thi học sinh giỏi môn Ngữ văn, vì nó có
khả năng kích thích sự sáng tạo, khơi gợi những cách nhìn nhận đa chiều về các vấn đề văn
học và đời sống; dễ dàng đánh giá năng lực tư duy, năng lực diễn đạt của người viết. Việc
rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học, do đó là
yêu cầu xuất phát từ thực tiễn dạy học Ngữ văn nói chung và công tác bồi dưỡng học sinh
giỏi Ngữ văn nói riêng.
3. Để đáp ứng được mục tiêu dạy học Ngữ văn, nhất là tính hiệu quả khi ôn tập cho

văn.
II. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

Với mục tiêu mở ra một cái nhìn có ý nghĩa tổng quát về kiểu bài nghị luận về vấn đề
xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học, đồng thời rút ra những kinh nghiệm rèn kĩ năng làm
dạng bài này cho học sinh và chia sẻ một số tư liệu hữu ích phục vụ công tác dạy học; chúng
tôi chủ trương trình bày những vấn đề sau trong chuyên đề:
- Giới thiệu kiểu bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học trên các
cơ sở lí luận và thực tiễn.
- Đưa ra những biện pháp cụ thể để rèn kĩ năng thực hiện kiểu bài nghị luận về vấn đề
xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học.
- Giới thiệu một số đề bài và đáp án để phục vụ việc ôn tập và thực hành làm kiểu bài
nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học.

3


Chuyên đề: Rèn luyện kĩ năng nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học

B. PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1. Cơ sở lý luận
1.1. Văn nghị luận
a. Khái niệm:
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Nghị luận: Bàn và đánh giá cho rõ về một vấn đề nào đó.
Văn nghị luận là thể văn dùng lí lẽ và dẫn chứng để phân tích giải quyết một vấn đề”.
Từ điển thuật ngữ văn học cũng nêu rõ: “Văn nghị luận: Thể văn nghị luận viết về
những vấn đề nóng bỏng thuộc nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau: chính trị, xã hội, triết
học, văn hoá. Mục đích của văn chính luận là bàn bạc, thảo luận, phê bình hay truyền bá

Chuyên đề: Rèn luyện kĩ năng nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
lực tư duy, giúp con người có thể đối diện với các vấn đề xã hội và biết cách giải quyết những vấn
đề ấy.
- Nghị luận xã hội thường được chia thành ba dạng:
+ Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
+ Nghị luận về một hiện tượng đời sống
+ Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
Ba dạng đề này có những nét tương đồng và khác biệt:
Dạng đề
Nghị luận về một
hiện tượng đời sống

Bàn luận về một vấn
đề tư tưởng, đạo đức,
lối sống… của con
người.

Bàn luận về một hiện
tượng, một vấn đề có
tính thời sự, được dư
luận xã hội quan tâm.

Bàn luận về một vấn đề
xã hội (một tư tưởng, đạo
đức, lối sống hoặc một
hiện tượng đời sống)
được rút ra từ một câu/
một đoạn trích hoặc rút
ra từ nội dung của một
tác phẩm văn học nào đó.

Khác nhau

Nghị luận về một vấn
đề xã hội đặt ra trong
TPVH

Nghị luận về một tư
tưởng, đạo lí

* Về nội dung: Cùng đề cập đến những vấn đề xã hội, góp phần nâng cao
nhận thức và định hướng về lối sống, cách ứng xử cho con người.
Giống nhau

* Về phương pháp nghị luận: Để thực hiện các dạng bài trên, người viết
đều cần vận dụng kết hợp các thao tác lập luận như: giải thích, bình luận,
phân tích, chứng minh, bác bỏ để bàn luận, trình bày quan điểm của mình
xoay quanh vấn đề xã hội được đề cập.

1.3. Kiểu bài Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
a. Cơ sở hình thành kiểu bài
5


Chuyên đề: Rèn luyện kĩ năng nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
- Xuất phát từ chức năng phản ánh của văn học mà hiện thực trở thành thuộc tính tất
yếu của mỗi tác phẩm văn học. Trong bất kì tác phẩm văn học nào, chúng ta cũng thấy hơi
thở, bóng dáng của hiện thực đời sống khách quan được nhà văn phản ánh. Cho nên, dù các
tác phẩm văn học ra đời ở giai đoạn, thời kì nào thì những vấn đề xã hội mà nó đề cập vẫn có
ý nghĩa với cuộc sống hiện tại. Tiếp nhận một tác phẩm văn học, người đọc không chỉ suy tư,
chiêm nghiệm về những vấn đề xã hội ở thời đại mà tác phẩm ra đời ; mà họ còn có cơ hội

Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học là một kiểu bài đặc biệt, có
tính chất giao thoa giữa nghị luận văn học và nghị luận xã hội, để thực hiện nó người viết

6


Chuyên đề: Rèn luyện kĩ năng nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
cùng lúc cần huy động cả kiến thức văn học và kiến thức xã hội, kĩ năng đọc hiểu và kĩ năng
làm văn.
Để nhận diện được các dạng đề ra cụ thể chúng tôi cho rằng: có ba căn cứ để phân
biệt các đề thuộc kiểu bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học. Đó là:
Nội dung nghị luận; Hình thức/cách hỏi của đề bài và Đặc điểm của tác phẩm văn học được
lấy làm cơ sở để ra đề. Cụ thể:
- Về nội dung nghị luận: Vấn đề xã hội được yêu cầu bàn luận có thể là một tư tưởng
đạo lí hoặc một hiện tượng đời sống.
- Về hình thức đề ra: Đề bài có thể trực tiếp đưa ra một vấn đề xã hội nào từ tác
phẩm văn học cho học sinh bàn luận hoặc yêu cầu học sinh tự rút ra vấn đề có ý nghĩa xã hội
từ tác phẩm để luận bàn.
- Về đặc điểm của tác phẩm văn học được lấy làm cơ sở để ra đề: Tác phẩm văn
học chứa đựng vấn đề xã hội (là nội dung nghị luận) có thể là một đoạn trích/ một tác phẩm
hoặc một nhóm tác phẩm được học trong chương trình hoặc một đoạn trích/ một tác phẩm
ngoài chương trình.
Dưới đây là một số ví dụ về các dạng đề cụ thể thuộc kiểu bài Nghị luận về vấn đề xã
hội đặt ra trong tác phẩm văn học:
Yêu cầu nghị luận về một Qua bài thơ Từ ấy của nhà thơ Tố Hữu, hãy trình bày suy nghĩ
tư tưởng đạo lí được rút ra của mình về ý nghĩa của lý tưởng sống với thanh niên.
từ tác phẩm văn học.
Trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, nhà văn Nguyễn Minh
Yêu cầu nghị luận về một Châu đã đề cập đến một vấn đề có tính chất nhức nhối trong xã
hiện tượng đời sống được hội hiện nay, đó là: Nạn bạo hành gia đình.

con trong gia đình (Nguyễn Thi) và Chiếc thuyền ngoài xa
(Nguyễn Minh Châu); anh/chị hãy viết một bài văn trình bày suy
nghĩ của mình về vai trò của gia đình với cuộc sống của mỗi con
người.
Mùa đông đang đến rất gần
Các loài chim bắt đầu thấy lạnh
Rủ nhau bay về nam lẩn tránh,
Dù suốt mùa hè ca ngợi quê hương

Yêu cầu nghị luận về một
vấn đề xã hội đặt ra trong Chỉ đại bàng vẫn ngồi im
một đoạn trích/một tác Lặng lẽ nhìn những hàng cây trút lá
phẩm ngắn ngoài chương
Khi đất nước gặp những ngày băng giá
trình.
Đại bàng không bỏ bay đi
(Thơ Rasul Gamzatov, Thái Bá Tân dịch)
Từ hình tượng của chú chim đại bàng trong bài thơ trên, anh/chị
hãy viết một bài văn ngắn để trình bày suy nghĩ của mình về
tình yêu quê hương, tổ quốc của mỗi con người.
2. Cơ sở thực tiễn
Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy rằng: Kiểu bài Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra
trong tác phẩm văn học là một thử thách với số đông học sinh. Dưới đây là một số đề thuộc
kiểu bài này hoặc ít nhiều có mối liên quan đến nó mà chúng tôi tập hợp lại từ các đề thi
trong một số năm gần đây:
- Đề thi HSG các trường chuyên vùng duyên hải Bắc Bộ, năm 2009
Từ hình ảnh đồng tiền trong Truyện Kiều (Nguyễn Du), anh/chị hãy bàn về đồng tiền trong
cuộc sống hôm nay.
- Đề thi HSG Tỉnh Bắc Giang, môn Ngữ văn 12, năm 2010
Đối thủ đáng sợ nhất

lạch, nhờ vậy nước trong hồ này luôn sạch và mang lại sự sống cho cây cối, muông thú và
con người.
(Theo Quà tặng cuộc sống)
Theo anh (chị), bài học cuộc sống rút ra từ câu chuyện trên là gì?
- Đề thi Tốt nghiệp, môn Ngữ văn 12, năm 2014
Trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ có đoạn:
Hồn Trương Ba : Ông Đế Thích ạ, tôi không thể tiếp tục mang thân anh hàng thịt
được nữa, không thể được!
Đế Thích: Sao thế? Có gì không ổn đâu!
Hồn Trương Ba : Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn
được là tôi toàn vẹn.
9


Chuyên đề: Rèn luyện kĩ năng nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
Đế Thích : Thế ông ngỡ tất cả mọi người đều được là mình toàn vẹn cả ư? Ngay cả
tôi đây. Ở bên ngoài, tôi đâu có được sống theo những điều tôi nghĩ bên trong. Mà cả Ngọc
Hoàng nữa, chính người lắm khi cũng phải khuôn ép mình cho xứng với danh vị Ngọc
Hoàng. Dưới đất, trên trời đều thế cả, nữa là ông. Ông đã bị gạch tên khỏi sổ Nam Tào.
Thân thể thật của ông đã tan rữa trong bùn đất, còn chút hình thù gì của ông đâu!
Hồn Trương Ba : Sống nhờ vào đồ đạc, của cải người khác, đã là chuyện không nên,
đằng này đến cái thân tôi cũng phải sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghĩ đơn giản là cho
tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết!
(Ngữ văn 12, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013, tr. 149)
Phân tích khát vọng của nhân vật Hồn Trương Ba trong đoạn trích trên. Từ đó, trình
bày suy nghĩ của anh/chị về vấn đề : con người cần được sống là chính mình.
* * *
Như vậy: Kiểu bài Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học xuất
hiện chủ yếu trong các đề thi dành cho học sinh giỏi. Bên cạnh đó, vào năm 2014 trong đề
thi tốt nghiệp đã xuất hiện đề văn tích hợp cả hai câu: nghị luận văn học và nghị luận xã hội.

1. Rèn kĩ năng tìm hiểu đề
Tìm hiểu đề là bước đầu tiên nhưng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình
làm văn; chính thao tác đầu tiên này sẽ quyết định bài viết của học sinh có được triển khai
hợp lí, hiệu quả hay không. Do đặc điểm của kiểu bài Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra
trong tác phẩm văn học thường hướng tới kiểm tra năng lực phát hiện vấn đề xã hội trong tác
phẩm văn học, phân tích và luận bàn về vấn đề đó; nên trong khâu tìm hiểu đề học sinh cần
thiết trả lời được các câu hỏi: Đề bài yêu cầu nghị luận về vấn đề gì ? Đâu là nội dung nghị
luận quan trọng nhất ? Vấn đề nghị luận thuộc phạm vi nào ? Có bao nhiêu ý cần triển
khai ? Mối quan hệ giữa các ý như thế nào ? Cần sử dụng những thao tác lập luận nào để
thực hiện yêu cầu của đề bài … Để học sinh thực hiện tốt bước tìm hiểu đề, giáo viên cần
chú ý rèn luyện cho các em kinh nghiệm đọc đề, phân tích và xác định yêu cầu của đề theo
trình tự hợp lí.
Việc Đọc là cơ sở để Hiểu yêu cầu của đề bài nhưng thực tế các em học sinh thường
rất qua loa khi đọc đề, dẫn đến tình trạng xác định sai vấn đề nghị luận hoặc không xác định
được yêu cầu cơ bản. Giáo viên cần lưu ý học sinh đọc kĩ đề, chú ý từ hình thức đến nội
dung của đề (thể hiện qua câu chữ, cách diễn đạt, những yêu cầu cụ thể…). Trong đó, cần
hướng dẫn học sinh tìm hiểu những từ ngữ quan trọng trong đề bài, những cách diễn đạt
nhằm nhấn mạnh ý, những cách nói bóng bẩy, nhiều nghĩa... Với một đề bài có nhiều thông
tin được diễn đạt bằng nhiều câu, nhiều vế; học sinh cần biết chia tách đối tượng để tìm hiểu
từng nội dung cụ thể, nhìn nhận mối tương quan giữa các nội dung và khái quát để thấy được
yêu cầu chung của đề.
Xét các đề bài ví dụ dưới đây:
Đề 1. Phải chăng hiện tượng người trong bao không chỉ có trong truyện ngắn của Sêkhốp mà đã trở thành một hiện tượng khá phổ biến trong xã hội ngày nay ?
Đề 2. Từ tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu, anh (chị)
có cảm nghĩ và suy tư gì về mối quan hệ giữa cuộc sống nghèo khó và tình trạng bạo lực gia
đình trong xã hội hôm nay ?
Tiếp xúc với các đề bài trên, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh đọc kĩ từng câu chữ,
cách diễn đạt trong đề rồi rút ra nhận xét về hình thức và nội dung của từng đề. Cụ thể:
Ở đề 1, cấu trúc “Phải chăng…” là một câu hỏi tu từ, mục tiêu nhấn mạnh và khơi gợi
suy ngẫm của học sinh về sự xuất hiện ngày càng nhiều hiện tượng người trong bao trong xã

một bài văn Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học như sau:

12


Chuyên đề: Rèn luyện kĩ năng nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học

Cũng giống như kết cấu chung của một bài văn nghị luận, ở kiểu bài Nghị luận về vấn
đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học chúng ta cũng phải tuân thủ việc thực hiện bài văn
theo kết cấu 3 phần: Mở bài, Thân bài và Kết bài. Trong đó, mỗi phần có một nhiệm vụ
riêng.
Cụ thể:
a. Mở bài
- Dẫn dắt, giới thiệu tác phẩm, tác giả có liên quan.
- Giới thiệu vấn đề cần bàn luận trong tác phẩm.
b. Thân bài
b.1. Làm rõ vấn đề xã hội được đề cập trong tác phẩm văn học
- Nếu đề bài đã chỉ rõ yêu cầu nghị luận về một vấn đề xã hội cụ thể đặt ra trong
tác phẩm văn học thì cần sơ lược giới thiệu, phân tích về biểu hiện của vấn đề xã hội đó
trong tác phẩm văn học. Có thể dựa vào những câu hỏi dưới đây để tư duy, sắp xếp ý :
+ Vấn đề xã hội được nhắc đến trong tác phẩm như thế nào ?
+ Tác giả đã nhìn nhận, đánh giá về vấn đề xã hội đó ra sao ?
+ Cắt nghĩa, lý giải : cơ sở nào hình thành vấn đề xã hội đó trong tác phẩm (do bối
cảnh lịch sử, do thực tế đời sống, do quan niệm của con người... ?)
13


Chuyên đề: Rèn luyện kĩ năng nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
- Nếu đề bài yêu cầu nghị luận về một vấn đề xã hội được đặt ra trong một tác
phẩm chưa được học hoặc chưa nêu cụ thể đó là vấn đề xã hội nào; thì cần thực hiện

- Nếu vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học là hiện tượng đời sống, học
sinh có thể bàn luận về vấn đề đó theo trình tự:
+ Giải thích (nếu cần)

14


Chuyên đề: Rèn luyện kĩ năng nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
+ Bàn luận: Làm rõ về hiện tượng thông qua biểu hiện của hiện tượng, ý nghĩa của
hiện tượng (tích cực hay tiêu cực), cắt nghĩa nguyên nhân của hiện tượng và rút ra những bài
học có ý nghĩa giải pháp để khắc phục hiện tượng tiêu cực hoặc nhân rộng hiện tượng tích
cực ...
b.3. Đánh giá, nhìn nhận nét ổn định hoặc chuyển biến của vấn đề xã hội từ tác phẩm
văn học đến cuộc sống.
Để bài viết được sâu sắc, toàn diện; sau khi bàn luận về vấn đề xã hội thì người viết
nên có cái nhìn đối sánh về nội dung xã hội được đề cập trong tác phẩm văn học và hiện thực
cuộc sống hiện nay. Chỉ ra nét ổn định và biến đổi của vấn đề; lý giải nguyên nhân của nét
ổn định và biến đổi đó (do hoàn cảnh, điều kiện xã hội, cái nhìn riêng của tác giả ...)
c. Kết bài: Khái quát lại vấn đề cần bàn luận.
Rút ra bài học nhận thức và hành động.
3. Rèn kĩ năng diễn đạt, trình bày bài văn
Diễn đạt, trình bày, hoàn thiện bài văn là bước thực thi kế hoạch làm bài đã được vạch
ra từ dàn ý; cũng là chỗ thể hiện rõ nhất năng lực ngôn ngữ của học sinh, quyết định chất
lượng của bài viết. Với bất kì dạng đề văn nào, giáo viên cũng cần chú ý đến khâu rèn kĩ
năng diễn đạt, trình bày cho học sinh. Từ việc rèn kĩ năng thực hiện bài văn theo bố cục ba
phần: Mở, Thân, Kết với yêu cầu về nội dung, hình thức của từng phần; đến việc rèn những
thao tác, kĩ năng cụ thể như viết câu, dựng đoạn, liên kết – chuyển ý giữa các câu, các đoạn;
cách mở rộng, nâng cao vấn đề…
Trong phạm vi của chuyên đề này, chúng tôi không có điều kiện cụ thể hóa phương
pháp rèn luyện từng kĩ năng để diễn đạt và hoàn thiện một bài văn; mà chỉ nêu lên một số

dẫn dắt và nêu hai loại thông tin cần thiết này không khiến cho phần mở bài dài dòng, cứng
nhắc là một thử thách với học sinh.
Trong quá trình rèn kĩ năng mở bài cho một bài văn nghị luận về vấn đề xã hội được
đặt ra trong tác phẩm văn học, chúng tôi thường hướng dẫn học sinh thực hiện một trong hai
cách:
- Cách 1. Giới thiệu vấn đề cần bàn luận rồi khẳng định vấn đề đó không chỉ là câu
chuyện/ tình tiết được đề cập trong một tác phẩm văn học cụ thể mà còn là một vấn đề có ý
nghĩa với xã hội hiện nay.
- Cách 2. Giới thiệu về tác phẩm văn học có liên quan, khẳng định một phương diện
quan trọng làm nên giá trị nội dung của tác phẩm chính là vấn đề có ý nghĩa xã hội được tác
giả đề cập. Sau đó nêu rõ vấn đề xã hội đó là gì.
Ví dụ xét đề bài dưới đây:
Trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ), nhân vật Trương Ba
đã nói: Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn
vẹn. Câu nói của Trương Ba, gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì về tình trạng con người không
được sống là mình ?
Mở bài theo cách 1
Trong cuộc sống, nhiều khi vì hoàn cảnh mà con người không được sống là chính
mình. Hiện tượng con người phải sống “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo” không chỉ
là bi kịch của nhân vật Trương Ba trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu
Quang Vũ, mà còn là một thực trạng đau lòng trong xã hội hiện nay.
(Trích: Bài làm của học sinh)
Mở bài theo cách 2
Nhờ có Hồn Trương Ba, da hàng thịt mà Lưu Quang Vũ đã trở thành cây bút xuất
sắc nhất của sân khấu kịch Việt Nam (không chỉ trong những năm 80 của thế kỉ trước). Tuy
16


Chuyên đề: Rèn luyện kĩ năng nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
nhà văn đã đi về thế giới của Hồn Trương Ba, ẩn mình trong từng vòm cây, khóm lá…

câu văn/ đoạn văn.
Để rèn khả năng liên kết các câu trong đoạn văn của bài văn nghị luận về vấn đề văn
học đặt ra trong tác phẩm văn học, trên cơ sở bồi dưỡng kiến thức về các phép liên kết câu
(phép thế, phép nối, phép lặp, phép liên tưởng…) chúng tôi thường ra các đề bài luyện tập để
học sinh thực hành, nhất là yêu cầu chữa lỗi về liên kết câu.
Bên cạnh đó, liên kết các đoạn trong bài nghị luận về vấn đề văn học đặt ra trong tác
phẩm văn học cũng là kĩ năng đòi hỏi học sinh rèn luyện nhiều. Trong bài văn, vị trí quan
17


Chuyên đề: Rèn luyện kĩ năng nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
trọng cần liên kết thường tập trung ở vị trí: giữa 3 phần bố cục của bài là Mở - Thân - Kết và
giữa các đoạn (các luận điểm) trong phần thân bài.
Chúng tôi thường hướng dẫn học sinh các cách liên kết đoạn văn như:
- Dùng từ ngữ để liên kết:
Tùy theo mối quan hệ giữa các đoạn, các phần mà học sinh có thể dùng các từ nối
thích hợp.
+ Nếu muốn nối các đoạn có quan hệ thứ tự để làm rõ tính hệ thống của việc sắp xếp
ý trong bài, ta có các từ ngữ liên kết như: trước tiên, trước hết, thoạt nhiên, tiếp theo, sau đó,
cuối cùng, một là, hai là, bắt đầu là…
+ Nếu cần nối các đoạn văn được triển khai theo quan hệ song song (có điểm tương
đồng về vai trò trong bài văn) ta có thể dùng các từ liên kết như: một mặt, mặt khác, ngoài
ra, bên cạnh đó, cũng vậy,…
+ Nếu cần nối các đoạn văn có quan hệ tăng tiến (đoạn sau nhấn mạnh, phát triển nội
dung của đoạn trước) ta có thể sử dụng các từ liên kết như: hơn nữa, thậm chí, không chỉ/ mà
còn…
+ Nếu cần nối các đoạn văn có quan hệ tương phản (để làm rõ những luận điểm có nội
dung khác nhau, nhất là việc chuyển ý từ chính đề sang phản đề trong bài nghị luận xã hội)
ta có thể sử dụng những từ nối kết như: nhưng, tuy nhiên, tuy vậy, thế nhưng, trái lại, ngược
lại, …

(Trích bài viết của HS - Đề bài: Từ bài thơ Khóc Dương Khuê của
Nguyễn Khuyến nghĩ về tình bạn trong cuộc sống hôm nay)
Nhìn chung có nhiều cách chuyển ý/ chuyển đoạn khác nhau; sự đa dạng này tạo cơ
hội chọn lọc cách diễn đạt phù hợp với văn phong của từng người.
b. Tổ chức điểm nhìn cho bài văn:
Điểm nhìn trong bài văn nghị luận tất nhiên không thể phong phú đa dạng như điểm
nhìn trong tác phẩm văn chương. Việc lựa chọn điểm nhìn có liên quan tới việc thể hiện thái
độ, bày tỏ cảm xúc làm nên sức hấp dẫn cho bài văn. Trong văn nghị luận, thường thì người
viết luôn kết hợp điểm nhìn bên ngoài (để tạo tính chất khách quan, khoa học) với điểm nhìn
bên trong (để thể hiện sự đồng cảm và sự tâm huyết, say mê) đối với vấn đề cần bàn luận.
Điểm nhìn bên ngoài thường được lựa chọn khi lí giải, phát biểu cảm xúc, suy nghĩ về vấn
đề. Khi thể hiện điểm nhìn bên ngoài, người viết là người đi tìm hiểu, khi thể hiện điểm nhìn
bên trong, người viết là người cảm nhận như một người trong cuộc.
Chẳng hạn, trong bài viết về đề bài: Từ một số câu hát ru hãy trình bày cảm nhận của
mình về tình mẫu tử, người viết có thể lựa chọn điểm nhìn bên trong hoặc bên ngoài để trình
bày vấn đề:
- Điểm nhìn bên trong: Viết bằng cảm xúc, ấn tượng của bản thân – người đang chiêm
nghiệm về lời ru và tình mẫu tử thiêng liêng.
Ở tuổi 17, có lẽ điều ý nghĩa nhất mà tôi chiêm nghiệm được là: Chỉ có những mái
nhà tồi tàn chứ không có những gia đình rách rưới. Bởi lẽ, mái nhà có thể chỉ là những
vách lá liêu xiêu, những đồ dùng sứt mẻ; còn hai chữ gia đình thì bao giờ cũng được vun
đắp bằng tình yêu, kiên cố bằng tình thương của từng thành viên một. Với tôi, gia đình trở
thành mái ấm vì có ngọn lửa hồng trong trái tim của mẹ và những tiếng hát mẹ ru tự thuở
nào đã ken đầy trong kí ức của tôi.
(Trích: Bài làm của học sinh)
- Điểm nhìn bên ngoài: Người viết đóng vai một người đang tìm hiểu để phân tích,
đánh giá về vấn đề cần nghị luận một cách khách quan.
19



bài văn Nghị luận về vấn đề xã hội được đặt ra trong tác phẩm văn học, trong phần tiếp theo
của chuyên đề chúng tôi giới thiệu một số đề và định hướng làm bài cụ thể. Trong phạm vi
một chuyên đề nhỏ, chúng tôi chỉ có điều kiện trình bày số lượng đề nhất định.
1. Giới thiệu một số đề bài và hướng dẫn làm bài

1.1. Đề 1
Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ
20


Chuyên đề: Rèn luyện kĩ năng nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
(Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Chuyện Quạt nồng, ấp lạnh của Thuý Kiều gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì về cách cư
xử của con cái với cha mẹ trong xã hội ngày nay.
Hướng dẫn làm bài
* Xác định yêu cầu của đề
- Yêu cầu về nội dung: Đối tượng nghị luận là một vấn đề đạo lí đặt ra trong tác
phẩm văn học: Cách ứng xử của con cái với cha mẹ.
- Yêu cầu về thao tác lập luận: Sử dụng các thao tác: giải thích, bình luận, phân tích,
chứng minh, kết hợp với phương thức biểu cảm...
* Gợi ý lập dàn bài.
a. Mở bài
- Giới thiệu, trích dẫn hai câu thơ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.
- Giới thiệu vấn đề cần bàn luận: cách cư xử của con cái đối với cha mẹ trong xã hội
hiện nay.
b. Thân bài
b.1. Tấm lòng hiếu nghĩa của Thuý Kiều với cha mẹ trong Truyện Kiều (Nguyễn Du)
* Giải thích: Quạt nồng, ấp lạnh (Tức: Hạ Sảnh, Đông Ôn). Sách Hiếu kinh nói: “Hiếu
tử đông ôn, hạ sảnh” nghĩa là người con hiếu thờ cha mẹ, mùa lạnh ấp chăn cho nóng để cha

- Khách quan: do cuộc sống, xã hội thay đổi (đời sống vật chất và tinh thần đã khá
hơn rất nhiều so với trước kia); Cha mẹ quá nuông chiều, chưa chú tâm dạy con…
- Chủ quan: do nhận thức của một số người chưa đầy đủ về vị trí, vai trò, trách nhiệm
của người con đối với cha mẹ, chỉ biết “nhận” mà không biết “cho”…
* Giải pháp khắc phục:
- Về phía gia đình: Cần có quan điểm giáo duc đúng đắn đối với con cái.
- Nhà trường: không chỉ dạy chữ mà còn phải chú trọng dạy người.
- Xã hội: cần có biện pháp giáo dục và can thiệp khi cần thiết.
- Bản thân mỗi con người: cần có ý thức tu dưỡng bản thân (Đạo hiếu là đạo lớn nhất
của đạo làm người).
c. Kết bài
- Khẳng định cách cư xử của con cái đối với cha mẹ cũng là một vấn đề thuộc văn
hoá ứng xử. Nó thể hiện đạo đức, nhân cách của con người.
- Mỗi người cần có cách cư xử đúng mực, giữ trọn đạo làm người, đạo làm con.
--------------------------------------------------------------1.2. Đề 2
Bài thơ Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng của Lí Bạch gợi cho
anh (chị) suy nghĩ gì về vai trò của tình bạn trong cuộc sống?
Hướng dẫn làm bài
* Xác định yêu cầu của đề
-Yêu cầu về nội dung: đối tượng nghị luận là một vấn đề đạo lý được đặt ra trong tác
phẩm văn học: vấn đề tình bạn trong cuộc sống của con người.

22


Chuyên đề: Rèn luyện kĩ năng nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
- Yêu cầu về thao tác lập luận: sử dụng thao tác giải thích, bình luận kết hợp với phân
tích, chứng minh và nêu những trải nghiệm của bản thân.
* Gợi ý lập dàn bài
a. Mở bài

23


Chuyên đề: Rèn luyện kĩ năng nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
c. Kết bài
- Bài thơ viết về một tình bạn đẹp đẽ và cảm động của hai thi nhân đời Đường.
- Bài thơ còn nguyên giá trị và giáo dục cho thế hệ học sinh hôm nay về vai trò của
tình bạn trong cuộc sống…
--------------------------------------------------------------1.3. Đề 3
Từ truyện ngắn Đời thừa của Nam Cao, anh (chị) hãy trình bày quan điểm của
mình về tình trạng sống thừa của con người trong xã hội.
Hướng dẫn làm bài
* Xác định yêu cầu của đề
- Yêu cầu về nội dung: đối tượng nghị luận là một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm
văn học: hiện tượng sống thừa của con người.
- Yêu cầu về thao tác lập luận: sử dụng kết hợp các thao tác giải thích, bình luận, phân
tích, chứng minh, bác bỏ…
* Gợi ý lập dàn bài
a. Mở bài
- Giới thiệu tác phẩm Đời thừa của nhà văn Nam Cao.
- Giới thiệu vấn đề cần bàn luận: tình trạng sống thừa của con người trong xã hội.
b. Thân bài
b.1. Khái quát bi kịch tinh thần của nhân vật Hộ trong Đời thừa (Nam Cao).
- Bi kịch ở đây hiểu theo nghĩa những mâu thuẫn giằng xé trong nội tâm con người,
nó căng thẳng, không có cách nào giải quyết.
- Bi kịch của Hộ được xây dựng trên mâu thuẫn: giữa một bên là khát vọng được sống
có ích, có ý nghĩa, muốn xác định sự tồn tại cá nhân bằng một sự nghiệp lao động sáng tạo
có ích cho xã hội với một bên là sự ngăn cản của xã hội. Nêu khái quát hai bi kịch tinh thần
của nhân vật Hộ trong tác phẩm (bi kịch vỡ mộng văn chương và bi kịch tình thương).
b.2. Tình trạng sống thừa của con người trong xã hội.

sống có ích, có ý nghĩa…
c. Kết bài
- Nhấn mạnh, khẳng định: sự sống là quý giá nhất đối với mỗi con người.
- Song, mỗi người cần phải làm cho cuộc sống ấy có ý nghĩa, có ích không chỉ đối với
bản thân mà còn đối với gia đình, nhà trường và xã hội.
- Liên hệ bản thân.
--------------------------------------------------------------1.4. Đề 4
Nhà thơ Vũ Quần Phương từng viết:
Có bao giờ sông chảy thẳng đâu em
Sông lượn khúc, lượn dòng mà tới bể.
Hai câu thơ trên gợi cho em suy nghĩ gì về dòng sông và những bài học cuộc đời rút
ra từ đó?
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status