Mục đích canh tân của Nguyễn Trường Tộ - Pdf 33

1. Hoàn cảnh lịch sử:
Khoảng giữa thế kỷ XIX, hoàn cảnh lịch sử trên thế giới và trong nước ta
thật là sôi động và phức tạp. Chủ nghĩa tư bản ồ ạt tung lực lượng hùng mạnh ra
khắp toàn cầu để tìm kiếm thị trường, khai thác tài nguyên, nhân công và
tranh giành thuộc địa. Đại công nghiệp cơ khí của tư bản chủ nghĩa đang dùng
những “đoàn tàu hỏa” để đè bẹp những “xe cút kít” ở các nước lạc hậu về kinh tế.
Quan hệ tiếp xúc Đông – Tây đã chuyển từ thương mại tự do sang đối địch. Thay
vì tôn trọng chủ quyền, thiết lập mối quan hệ buôn bán như trước đây, các nước tư
bản châu Âu bắt đầu thực hiện chính sách “ngoại giao pháo hạm”, sử dụng vũ lực
để từng bước thực hiện ý đồ thực dân.
Thực tế rõ ràng, sự bành trướng thuộc địa của các nước thực dân đế quốc ở
châu Á đẩy các nước trong khu vực đứng trước nguy cơ bị mất chủ quyền. Nhưng
khi các nước phương Tây đã phát triển chủ nghĩa tư bản tới trình độ cao làm thay
đổi toàn bộ diện mạo thế giới với những lực lượng sản xuất hùng hậu, với nguồn
hàng hóa dồi dào hơn tất cả các thế kỷ trước cộng lại, với sự ra đời của giai cấp
công nhân công nghiệp tiên tiến đã tự ý thức về mình với ngọn cờ lý luận chủ
nghĩa Mác, thì phương Đông vẫn đắm chìm trong nền quân chủ chuyên chế và
phương thức sản xuất phong kiến lạc hậu, khép kín.
Nước Việt Nam dưới triều Nguyễn, đặc biệt là dưới triều Tự Đức, do những
chính sách sai lầm của triều đình mà nền kinh tế ngày càng kiệt quệ: nông nghiệp
sa sút, thương nghiệp đình đốn. Nhà Nguyễn phải luôn dồn lực lượng đối phó
với các cuộc khởi nghĩa của nông dân và “tiểu phỉ”. Tất cả làm cho tiềm lực đất
nước ngày một hao mòn, suy yếu. Bên cạnh đó, quan hệ lương - giáo ngày càng
trở nên căng thẳng, nghiêm trọng mà triều đình lại rất lung túng và sai lầm
trong việc giải quyết vấn đề này. Khi Việt Nam đang trong tình trạng khủng
hoảng như vậy thì tư bản Pháp nhòm ngó, gõ cửa và mở rộng xâm lược nước
ta.
Những khó khăn về kinh tế ngày càng gay gắt, sự rối loạn về chính trị xã
hội và giặc ngoại xâm đó đặt ra yêu cầu canh tân đổi mới đất nước như một yêu
cầu bức thiết. Trong hàng nghìn quan lại, chỉ có một số người nhận thức được tình
thế hiểm nghèo của dân tộc, đưa ra được nhiều đề nghị đổi mới giáo dục, cải

tân, đổi mới đất nước thì mới thu hồi được 6 tỉnh Nam Kỳ và bảo vệ vùng đất còn
lại của đất nước. “Nếu không canh tân để tiến bộ thì dù có tạm thu hồi được, vá
hôm nay ngày mai lại rách, rốt cuộc cũng không thể không có chuyện gì xẩy ra.
Nếu nhất luật canh tân để tiến bộ thì việc giữ không khó mà việc thu hồi không
chóng thì chầy cũng có thể hy vọng được”. (Di thảo số 52)
Hay như trong di thảo 54 (phải gấp thực hiện các kế hoạch), ông cũng nhắc
lại: “…Họ là người ta là quỷ, con đường lợi hại được mất đã thấy hết rồi.
Nhưng rốt cuộc cũng không khỏi hai con đường là canh tân và mở rộng giao
thiệp mới có thể bảo đảm không bị chúng vồ lấy. Như thế đó không phải là kế
độc nhất vô nhị, đến chỗ tuyệt vọng mà được sống sao”.
Trong bản điều trần “Tế cấp bát điều”, ông cũng nói rõ hơn về mục đích
trước mắt này: “…Nếu làm đúng như thế sẽ được như người ta hoặc hơn người
ta. Nếu không làm nhất định phải thua sút thiên hạ…Giờ đây vẫn là lúc những
Xu Hướng Canh Tân

Trang 2


việc làm của ta không chỉ nhằm thi hành trong nước mà còn phải đối phó với
thiên hạ”.
Do mục tiêu trước mắt, Nguyễn Trường Tộ đặt gấp rút cải cách võ bị, nâng
cao sức chiến đấu của quân đội lên hàng đầu, cùng lúc là tìm mọi cách tăng nguồn
của cải, phát triển kinh tế. Hai việc này sẽ giúp dân giàu nước mạnh, đủ sức chống
lại sự xâm lược của kẻ thù, bảo vệ chủ quyền dân tộc. Nguyễn Trường Tộ cho đến
cuối đời vẫn nhắc lại mục đích này: “Đường lối chắc chắn có thể chống lại họ
đều quy vào con đường cải cách canh tân và quảng giao các nước”.
b.Lâu dài:
Ngoài mục đích trước mắt trên, còn có một mục đích lâu dài hơn mà Nguyễn
Trường Tộ hướng tới, đó là nhằm đưa đất nước ta phát triển kinh tế, chính trị, văn
hóa, từng bước đi lên sánh ngang, thậm chí vượt các nước phát triển đương

điều biết mà địch lại một điều biết như ở đoạn giữa của bài Lục lợi từ tôi đã trình
bày. Như thế ai dám khinh rẻ nước mình?”
Nguyễn Trường Tộ viết tiếp “Giả như có một nước nào ngày nay muốn
đóng cửa không tiếp khách để hưởng yên vui một mình cũng không thể được.
Bởi vì ta không đến người, người cũng sẽ đến ta”.
4. Chủ trương canh tân của Nguyễn Trường Tộ:
a. Về kinh tế:Nguyễn Trường Tộ đã đề nghị lên triều đình nhiều chương
trình phát triển kinh tế. Ông nêu lên tầm quan trọng của ngành kinh tế nông nghiệp
và thực trạng của nó lúc bấy giờ. Ở di thảo số 53, ông viết “Trời sinh ra con người
không phải chỉ sinh con người trơ trụi mà trước tiên sinh vạn vật để đủ cho con
người sinh sống”. Nguyễn Trường Tộ đã nhận thức rất đúng, vấn đề là làm sao để
giàu, để thực hiện được dân giàu nước mạnh, ông viết “cách làm cho đất nước
mạnh là ở chỗ tạo ra nhiều lương thực, của cải, khí giới, thành trì vững quốc
khí đầy đủ” (di thảo số 5), phải biết khai thác nguồn lợi tự nhiên “Nay nước ta,
của công chỉ nhờ vào thuế, mà thuế đánh có hạn, chứ không có cách gì để làm
cho của cải được nhiều như phương Tây. Cái tôi gọi là làm cho có nhiều của ở
đây không có nghĩa là nói bòn rút của dân để làm cho nước giàu, mà là nhân
nguồn lợi tự nhiên của trời đất để sinh ra của. Do đó nước giàu mà dân cũng
giàu” (di thảo số 5). Trong kinh tế, vấn đề đầu tiên ông đề cập đến nông nghiệp
Nông nghiệp: vì nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, lúc bấy giờ 99%
dân chúng sống bằng nông nghiệp. Chính Nguyễn Trường Tộ cũng nhìn nhận
rằng: “Nông nghiệp là gốc, ăn mặc và hàng trăm nhu cầu khác cho đời sống
đều nhờ vào nông nghiệp” (Di thảo số 27). Nguyễn Trường Tộ đề nghị mở
khoa “Nông chính”, đề nghị soạn cuốn sách “Nông chính toàn thư”, lập “Bộ
canh nông” như các nước ở phương Tây. Bởi vì, ông nói: “Ngành trồng trọt
chăn nuôi của nước ta đều phó mặc tự nhiên, không có quan viên bày vẽ,
giáo dục, đốc suất...” (di thảo số 27). Nhất là trong nhân dân có nhiều tập tục
mê tín dị đoan cản trở việc khai hoang phục hóa, tưới tiêu mà không có ai dám
chủ xướng cải cách.
Nguyễn Trường Tộ đề nghị lập chức “nông quan”, chức này thì ông đề nghị

một thêm thân cận, quan bình dị gần gũi dân thì dân sẽ quy phục. Thứ mười là
hình thế đất đai đều hiểu rõ thì từ đó nắm vững được địa lý về binh pháp”.
Tất cả những đề xuất của ông về nông nghiệp đều nhằm mục đích là phải
phổ biến rộng rãi các kiến thức trong nhân dân. Thời Nguyễn Trường Tộ “nước ta
đối với vấn đề nông nghiệp từ lâu đã phế bỏ không giảng dạy. Nay bỗng nhiên
muốn thi hành, thì trên quan chẳng biết dạy cái gì, còn dưới dân thì nghĩ rằng
cứ mặt trời mọc thì đi làm, mưa xuống thì vác cày ra cày, đợi gì phải dạy! ”. (Di
thảo số 53).
Công nghiệp: Nguyễn Trường Tộ cho rằng nước ta hoàn toàn có khả năng
phát triển công nghiệp, ông chỉ ra bốn nguồn lợi lớn là hải lợi, lâm lợi, thổ lợi và
khoáng lợi. Đối với bốn nguồn lợi này có thể tổ chức khai thác và xuất khẩu đó là
lợi ích trước mắt, còn về lâu dài tổ chức chế biến các nguồn lợi thành sản phẩm.
Theo Nguyễn Trường Tộ, thì: “Đấy là một điều lợi lớn. Vì rằng những hàng hóa
mình có, trừ số cần dùng ra, còn thì đem chở bán cho họ, họ lại bán cho nước
Xu Hướng Canh Tân

Trang 5


khác, như thế thì họ không cần phải đến nước mình làm gì. Nếu như họ muốn đưa
hàng hóa sản vật của họ sang, thì đã có tàu của nước mình chở về để trao đổi với
người cùng quê hương xứ sở, chẳng dễ hơn là mua ở bên nước họ hay sao? Như
thế thì tự nhiên họ không cần phải tìm đến nước mình nữa. Sở dĩ họ tìm đến cầu
thông thương với mình là vì người mình không thể đi xa mà thôi” (Di thảo số 5).
Trong bài Khai hoang từ (Di thảo số 8), Nguyễn Trường Tộ đề nghị mở
cửa cho các nước vào thông thương buôn bán và đầu tư khai thác tiềm năng của
đất nước. Bởi vì, theo ông, người Tây phương, nhất là người Pháp đã thấy được là
Việt Nam có nhiều tiềm năng: “Hiện nay các hội buôn của họ sang nước ta, có
hội thì muốn xin mở đường xe lửa suốt cả Nam Bắc; có hội muốn xin khai mỏ
dọc theo các núi; có hội muốn xin cho thuyền đi dọc theo biển để tiễu phỉ; có


rằng: Triều đình mở cửa đón kẻ cướp vào? Sao không biết rằng lúc thời thế đã
đến, thì không thể ngăn được, lúc thời thế đã lui thì không thể chặn được? (...)
Cửa bể khắp các nước phương Đông… đã khai thông cả, thì tại sao một mình
nước ta lại có thể đóng kín được?”. Trong bài Khai hoang từ (Di thảo số 8 ), ông
nói: “Ngày nay, nếu ta nhân có họ xin mà mở các cảng khẩu để thuyền bè các
nước ra vào, ta ngồi mà thu thuế để tăng quốc dụng, như ở Trung Quốc. Có
thuyền máy qua lại trên mặt biển thì bọn cướp biển dần dần sẽ tiêu”.
Về nội thương thì mối băn khoăn lớn của Nguyễn Trường Tộ là đường giao
thông, vận chuyển hàng hóa. Bởi vì nước ta là một nước có chiều dài và lúc bấy
giờ vận chuyển từ Bắc - Trung - Nam chủ yếu bằng đường biển, do đó thì có hai
đe dọa lớn là gió bão và cướp biển. Đó là chưa nói đến, khi xảy ra biến cố, Việc
giao lưu hàng hóa từ Bắc vào Nam bị tắc nghẽn. Trong Tế cấp bát điều (Di thảo
số 27, 15-11-1867) ông đã nói rằng: “Như về việc vận chuyển lương thực, Triều
đình đã hết sức lo liệu mà vẫn chưa ổn. Phần nhiều một thạch lương thực đến
được kinh đô đã phải hao hụt dọc đường mất năm sáu đấu. Đó là chưa nói đến
nhiều vụ chìm ghe, bị đánh cướp. Các sản vật khác cũng vậy. Còn ghe thuyền của
dân chìm mỗi năm không biết bao nhiêu mà kể. Dân nghèo thì nước cũng nghèo.
Cái hại lớn đó đều do đường biển gây ra”.
Cũng trong Tế cấp bát điều, Nguyễn Trường Tộ đề nghị đào một con kênh
từ Hải Dương đến Huế để tránh tai nạn của đường biển. Nguyễn Trường Tộ lại gởi
lên Triều đình một văn bản nữa về việc “Tiễu trừ giặc biển” (Di thảo số 38 )..
Trong văn bản này, Nguyễn Trường Tộ vẫn cho rằng kế đào kênh là “Kế hay
nhất”. Tuy nhiên để tiễu trừ giặc biển, ông đề nghị bốn biện pháp:
1. Thương lượng với người Pháp ở Sài Gòn để họ cho tàu tuần tiễu giúp dẹp dọn
bọn cướp biển.
2. Đóng tiền cho hội bảo hiểm ở Sài Gòn để họ tiễu trừ giặc biển.
3. Mỗi tỉnh mua một hai thuyền máy để tự mình tiễu trừ giặc biển.
4. Bắt buộc các thuyền buôn của người Trung Quốc phải có giấy thông hành, để
tránh nạn thuyền buôn thuyền giặc lẫn lộn.

nguồn lợi về rừng, nguồn lợi về đất đai, nguồn lợi trong lòng đất
Bốn là, vay vốn của dân, trước hết là vay tiền của nhà giàu và trả lãi suất
cho họ 1%, cứ 1 vạn quan thì trả 100 quan. Khi nào số tiền lời được gấp đôi số
tiền cho vay thì chấm dứt và không hoàn vốn lại.
Năm là, vay tiền của nước ngoài. Nguyễn Trường Tộ đề nghị triều đình
vay tiền của nuớc ngoài để mua sắm khí giới, lập các nhà máy chế tạo súng và
hàng tiêu dùng “hãy sai người đến các thương gia Hương Cảng vay độ 8-9 triệu
quan, mỗi năm trả tiền lời cho họ, hoặc giao ước ta sẽ trả bằng hàng hoá cho họ rồi
tính khấu trừ, xuất các mặt hàng nông,lâm, khoáng sản rồi trừ nợ dần. Có như vậy
ta mới có vốn lớn để giải quyết mọi việc, vốn lớn chắc chắn sẽ có lợi lớn” .
Sáu là, kêu gọi nước ngoài đầu tư. Khi phân tích vấn đề này, Nguyễn
Trường Tộ nêu lên nhiều điều lợi như sau: thu thuế chia lợi nhuận, giải quyết công
việc làm, học tập kỹ thuật, quản lý, mua bán hàng hóa, dịch vụ, tận dụng các công
trình giao thông, y tế. Ông viết: “Nếu để cho nước ngoài vào đầu tư khai thác thì
không những nhà nước thu lợi mà nhân dân cũng có việc làm,lại được học tập,làm
quen khoa học, kỹ thuật phương Tây, dân là dân của ta, đất là đất của ta, họ có
đem đi đâu mà lo sợ”.
Xu Hướng Canh Tân

Trang 8


c. Về chính trị
Nguyễn Trường Tộ không phải là một nhà chính trị, không giữ chức vụ nào
trong hệ thống chính trị, do vậy ông không thể triển khai trực tiếp các dự án canh
tân của mình. Muốn thực hiện những cải cách đó thông qua những người có chức
có quyền. Chính vì thế mà ông đã gởi những đề nghị cải cách của ông lên Triều
đình Huế và chỉ gởi cho những người có chức có quyền trong Triều đình Huế. ông
nói “Người xưa có nói dân là gốc của nước. Nói như vậy cũng chưa đúng. Tôi
cho rằng vua quan là gốc của nước. Vì không có vua quan thì chẳng bao lâu

Trang 9


Nguyễn Trường Tộ cho rằng, những tệ nạn trong chốn quan trường đã trở
thành “tập quán kiên cố,sâu đầy, khó một sớm một chiều mà thay đổi được”.
Nguyễn Trường Tộ cũng đưa ra những biện pháp thay đổi thực trạng đó:
Một là, phải đổi mới học thuật, đào tạo quan lại theo lối mới. Vì “ học xưa
thì lòng hướng về xưa”, “học nay thì lòng hướng về nay” và “có học thì mới hiểu
rõ đạo lý, mới cứu được đất nước ra khỏi sự suy yếu”.
Hai là, phải trị nước bằng luật pháp bất luận quan hay dân đều phải học
luật nước .Vì có luật mới dành đựoc kỷ cương, uy quyền và chính lệnh của quốc
gia, hạn chế được sự lạm dụng quyền hành. Cai trị bằng luật pháp, thì sẽ đảm bảo
được công bằng.
Ba là, phải hạn chế quyền hành của nhà vua. Ông cũng đề nghị là Tòa án
phải được độc lập: Nhà vua chỉ có quyền ân xá, chứ không có quyền kết án.
Bốn là, phải thận trọng trong việc tuyển chọn quan lại, phải chọn quan giỏi,
thanh liêm, siêng năng, sáng suốt, thải quan dở dù là con cháu công thần, con nhà
tập ấm, vì “bất tài thì chính bản thân cũng không sắp xếp được nói được nói gì đến
quản lý người khác”.
Theo Nguyễn Trường Tộ, muốn giữ thanh liêm cho quan lại thì một trong
những biện pháp là phải tăng lương và để tăng lương thì phải biên chế bộ máy
cho gọn nhẹ, lấy quỹ lương dư ra cấp cho các quan lại tại chức
Nguyễn Trường Tộ cũng đề nghị lập thêm bộ Nông nghiệp, bộ Ngoại giao
(trước chỉ có 6 bộ: Bộ Binh, Bộ Lại, Bộ Lễ, Bộ Công, Bộ Hình, Bộ Hộ).
e. Đổi mới về quân sự:
Quốc phòng: Nguyễn Trường Tộ tuy là một người "chủ hòa", nhưng không
có tư tưởng "chủ hàng" hoặc hòa bình vô nguyên tắc, mà bắt nguồn từ sự phân tích
sâu sắc tương quan lực lượng giữa ta và địch. Và để rút ngăn khoảng cách giữa hai
bên thì cần phải đổi mới về quốc phòng. Trong bài Tế cấp bát điều (1867), có tám
điều, thì điều thứ nhất là “xin gấp rút sửa đổi việc võ bị”. Ông viết, “Nay nước ta

đã đề nghị triều đình Huế phải đặt đất nước vào một trận thế chống giặc, phải xây
dựng hệ thống đồn bốt, “chọn nơi hiểm yếu đắp thêm một thành lớn, dự bị cho đại
thành, phòng khi rút lui”, phải dự trữ vật liệu và vũ khí, phải dự bị phương án tác
chiến trong thành phố.
Năm là, phải ngầm xây dựng lực lượng trong vùng địch chiếm đóng, để
đánh úp thực dân Pháp, giành lại những vùng đất bị Pháp chiếm đóng, Nguyễn
Trường Tộ đề nghị triều đình: “1. Lập mưu, bí mật xây dựng lực lượng của ta
ngay trên địa bàn Pháp chiếm đóng; 2. Phải cài người vào trong hàng ngũ của địa
phương; 3. Cho người sang Pari nắm bắt tình hình nước Pháp xem khi nào thì có
thể đánh úp được Pháp”. Theo ông, cơ hội để đánh úp Pháp là khi diễn ra chiến
tranh Pháp – Phổ”.
f. Về giáo dục:
Về giáo dục: để hình thành và phát triển một nền giáo dục phục vụ cho sự
nghiệp canh tân đổi mới đất nước, Nguyễn Trường Tộ đã đưa ra các biện pháp
như: phải áp dụng một nền giáo dục, dạy và học mang tính thực dụng, nhà nước
phải lựa chọn người gửi đi đào tạo nước ngoài,chú ý học tiếng nước ngoài và mời
các chuyên gia phương Tây vào giảng dạy ở nước ta.
Xu Hướng Canh Tân

Trang 11


Ở Di thảo số 18 “về việc học thực dụng”, Nguyễn Trường Tộ quan niệm:
“Học tập bồi dưỡng nhân tài tức là con đường đưa đến giàu mạnh”. Tuy nhiên,
Nguyễn Trường Tộ chỉ đề cao lối học thực dụng, lối học lấy thiên nhiên làm đối
tượng, chứ không trực tiếp đả phá lối học cũ, ông chưa đặt vấn đề loại bỏ Nho học.
Ông nói: “Học những gì thực tế thì sẽ có thực dụng, học những cái vụn vặt thì
chỉ được cái vụn vặt, trồng đậu, được đậu, đó là lẽ tự nhiên”.
Ông xin cải cách việc học: “Không có một nền học thuật sáng suốt thì
phong tục ngày một bại hoại, lòng người ngày một giả dối, phù phiếm trống

Trang 12


khóa sinh đến vài ba nghìn người mà số nhiêu sinh trong dân chúng còn gấp bội
hơn nữa. Trong số đó những người sau này ra làm việc nước nhiều lắm vài ba trăm
người là cùng, còn lại là khóa sinh, nhiêu sinh cho đến già. Một tỉnh mà đã có lắm
người nhàn như thế, hợp cả nước con số sẽ đến một tỉnh nhỏ”.( Di thảo số 27).
Trong văn bản Về cải cách phong tục ( Di thảo số 47, ngày 29-4-1871)
Nguyễn Trường Tộ đã lưu ý triều đình về những việc rất nhỏ nhưng là những việc
quan trọng đối với một dân tộc muốn có nếp sống văn hóa mới: Như vệ sinh
chung quanh nhà quan cũng như nhà dân ở nơi đô thị, vệ sinh dọc đường xá,
không đổ rác, không phóng uế bừa bãi. Ông cũng chống lại luật lệ không cho dân
đi xe, đi giày”.
h. Về ngoại giao:
Phải thực hiện chính sách ngoại giao đa phương. Nguyễn Trường Tộ cho
rằng, không giao thông với thiên hạ thì chẳng những nước mình bị cô lập mà
“không hiểu thấu tình thiên hạ, không hiểu rõ thời cơ của ta, của địch hư
thực như thế nào, thành luỹ thật kiên cố không thể phá được”. Không mở
rộng ngoại giao, “không hiểu được thời thế thì tri thức câu chấp, tâm trí hẹp
hòi”, “không mở rộng được kiến văn”.
Nguyễn Trường Tộ đề nghị triều đình hòa với Pháp, bởi vì theo ông, ta
chưa đủ điều kiện để đuổi Pháp ngay được. Hòa với họ để khống chế họ, buộc họ
phải gom quân lại một số điểm và theo dõi nắm bắt tình hình để đánh úp Pháp lấy
lại sáu tỉnh Nam Kỳ.
Nguyễn Trường Tộ còn mách bảo triều đình tìm một nước thứ ba làm trung
gian cho cuộc gặp gỡ Việt – Pháp.
Theo, Nguyễn Trường Tộ, sự giao thiệp với các nước cường quốc là một sự
cần thiết đệ nhất. Có giao thương với bên ngoài “mới biết rõ lý thế của ta,của họ
để tùy cơ ứng biến, chọn đường lối cứng rắn hay mềm dẻo”. Một nước nhỏ nằm
giữa sự cạnh tranh của các nước lớn phải khéo léo kiềm chế Pháp và kiềm chế lẫn

nhiều đến thế khi mà những phương pháp cũ của ta cũng rất đầy đủ để điều khiển
quốc gia rồi”. Ông đã nhận thấy được sự cần thiết của canh tân, đổi mới đất nước
nhưng lại thiếu quyết tâm, thiếu tính quyết đoán của người chỉ huy tối cao ví dụ
như khi bị tình thế bức bách phải thực hiện một vài điều đổi mới nào đó thì làm
một cách nửa vời, mang tính chắp vá, lẻ tẻ, miễn cưỡng. Các điều sửa chữa đó
chưa kịp phát huy thì đã bị đình chỉ. Rốt cuộc các điều trần canh tân đất nước chỉ
được các bộ “sưu tầm, cho vào ngăn tủ rồi bị lãng quên”.
Rõ ràng, các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ đã không được triển
khai trên thực tiễn, hiện thực hóa theo đúng nghĩa của nó, do đó nó chỉ dừng
lại ở khuynh hướng tư tưởng canh tân, không thể trở thành một phong trào
canh tân, mà vào đầu thế kỷ XX dưới vai trò của các sĩ phu yêu nước như Phan
Bội Châu, Phan Châu Trinh,…nó mới thực sự trở thành phong trào.
Nhược điểm lớn của Nguyễn Trường Tộ là gửi gắm hi vọng của minh vào
chính quyền Tự Đức. Muốn cải cách đầu tiên phải có một bộ máy chính quyền đủ
sức đảm đương, đủ xung lực tiến hành một cuộc chuyển mình. Sai lầm về nhận
thức cơ bản đó là làm cho điều trần canh tân của Nguyễn Trường Tộ thành những
trang giấy lộn. Khách quan mà nói thì trách nhiệm của người đứng đầu là không
thể bác bỏ.
Tự Đức phải chịu tránh nhiệm trước lịch sử về việc bỏ qua một khả năng tự vệ
cho dân tộc, khi về căn bản đã không chấp nhận đề nghi vải cách. Tuy vậy, trong
Xu Hướng Canh Tân

Trang 14


những giới hạn không thể tránh khỏi, khi phải đương đầu với những vấn đề nan
giải về kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, Tự Đức đã cố gắng vượt lên trên bản
thân, chấp nhận với tinh thần tránh nhiệm một số đề nghị cải cách, tuy lẻ tẻ, thiếu
hệ thống và không nhất quán. Với những hạn chế cá nhân và sự nghiệt ngã của
thời đại, Tự Đức là đại diện cho bi kịch của một nhà cầm quyền thiếu khả năng

Xu Hướng Canh Tân

Trang 15


thời gian. Đối với Tự Đức và triều thần lúc bấy giờ, khi tiếng súng đại bác của
Pháp đã nổ bên tai, đất đai dần dần lọt vào tay giặc, dẫu có muốc thực hiện các cải
cách cũng đã muộn.
4. Sai lầm chính trong những tư tưởng canh tân của Nguyễn Trường Tộ:
Sai lầm về kẻ thù, ông coi thực dân Pháp chỉ từ yêu cầu thương mại mà đi
chiếm đất chứ không có âm mưu xâm lược Việt Nam, cũng như coi sự truyền giáo
của đạo Thiên Chúa chỉ là vì đạo chứ khôngh có mưu đồ xâm chiếm đất đai, nô
dịch các dân tộc thuộc địa … Sai lầm trong tư tưởng “tôn quân”, Nguyễn Trường
Tộ vì có ý muốn giữ sao cho tình hình nội bộ triều đình được ổn định mới có được
sức mạnh thống nhất để chống lai ngoại xâm. Trước tình hình “khủng hoảng cung
đình” vẫn còn có thể tiếp diễn sau cuộc nổi dậy của Đoàn Trưng, Đoàn Trực, ông
đã đưa ra thuyết: “ngôi vua là quý, chức quan là trọng” với những luận điểm rất
sai lầm.
Nguyễn Trường Tộ không tin ở khởi nghĩa đấu tranh vũ trang của dân tộc.
Ông đánh giá quá cao sức mạnh của địch, đánh giá quá thấp sức đề kháng của ta,
biện luận một cách chủ quan cho đường lối chủ hòa …Nhận thức về sức mạnh của
địch, ông thiên về tài năng khoa học kỹ thuật của chúng mà không thấy được cái
nguyên nhân căn bản là tính chất phi nghĩa của cuộc đấu tranh xâm lược và những
mâu thuẫn nội trị của địch (sau này cách mạng tháng Tám đã biết khai thác một
cách có hiệu quả)
Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ nói chung nặng về ảnh
hưởng bên ngoài mà thiếu cơ sở vật chất để tiếp nhận từ bên trong. Mặt khác, nội
dung các bản điều trần không đả động gì đến yêu cầu cơ bản của lịch sử Việt Nam
lúc đó là giải quyết hai mâu thuẫn chủ yếu của lịch sử Việt Nam lúc đó là giải
quyết hai mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam: giữa toàn thể dân tộc Việt Nam

Thứ, Lê Đình…, các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ đã mở ra một khuynh
hướng mới trong văn hóa và tư tưởng Việt Nam: Khuynh hướng Duy Tân và đến
đầu thế kỷ XX thì nó đã thực sự trở thành một phong trào.

Xu Hướng Canh Tân

Trang 17




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status