MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC ........................................................................................................................... 1
LỜI MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 2
I/ Diễn biến tỷ giá USD/VND trên thị trương Việt Nam từ năm 2008 đến 2010: ......... 3
1. Năm 2008:. ........................................................................................................................ 3
2. Năm 2009:. ........................................................................................................................ 4
3. Năm 2010: ......................................................................................................................... 5
II/ Giải pháp để bình ổn tỷ giá trong điều kiện hiện nay: .............................................. 7
1.
Giải pháp trong ngắn hạn: ......................................................................................... 7
2.
Giải pháp trong dài hạn: ............................................................................................ 10
III/ KẾT LUẬN................................................................................................................. 11
1
LỜI MỞ ĐẦU
Sau khi gia nhập vào Tổ chức Thương Mại Thế Giới (WTO) năm 2007, nền kinh tế Việt
Nam nói chung và hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng đón nhận nhiều cơ hội nhưng cũng
đối mặt với không ít thách thức. Đó là tình trạng thâm hụt cán cân thương mại ngày càng gia
tăng, cán cân vốn đặc biệt là nguồn vốn ngắn hạn bị biến động mạnh. Thực trạng cán cân
thanh toán toán tổng thể cộng với tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính 2008 đã ảnh
hưởng đến nền tài chính tiền tệ của Việt Nam.
Trong lãnh vực tiền tệ, Ngân hàng Nhà Nước (NHNN) đã liên tục điều chỉnh chính sách
tiền tệ, vừa thắt chặt tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát vào đầu năm 2008 thì đến cuối năm
Trong quý 1, tỷ giá USD/VND trên thị
liên ngân hàng giảm mạnh từ 16.112 đồng
xuống còn 15.960 đồng. Tỷ giá trên thị
trường tự do có lúc rớt xuống thấp hơn tỷ giá liên ngân hàng. Bên cạnh các nguyên nhân như
lượng kiều hối (5,5 tỷ USD) chuyển về tăng mạnh trong dịp Tết dương lịch, lượng vốn FDI
và vốn FII vào Việt Nam tiếp tục đà tăng mạnh từ năm 2007, VND lên giá chủ yếu do USD
đã mất giá quá mạnh trên thị trường thế giới trong giai đoạn đầu năm 2008. NHNN đã tăng
biên độ tỷ giá từ ±0,75% lên mức ±1% vào ngày 10/3/2008. Khác với các lần điều chỉnh tỷ
giá khác, tỷ giá USD/VND đã về mức sàn ngay sau khi có quyết định tăng biên độ của
NHNN.
Sang quý 2, tỷ giá diễn biến trái chiều với quý 1 với sự mất giá của VND so với USD,
tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng lên 16.541 VND/USD vào cuối tháng 6/2008, tỷ giá
giao dịch tại các NHTM lại đụng trần, tỷ giá trên thị trường tự do tăng tới mức 19,400
VND/USD (giữa tháng 6/2008), khoảng cách chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá chợ
đen lên tới trên 2000 đồng. Nguyên nhân chính của sự mất giá của VND là do những số liệu
cho thấy nền kinh tế có dấu hiệu lạm phát tăng cao và thâm hụt cán cân thương mại (xấp xỉ
15 tỷ USD tính đến hết tháng 6/2008). Nhu cầu USD để nhập khẩu vàng do chênh lệch lớn
giữa giá vàng trong nước và giá vàng quốc tế và nhu cầu rút vốn của nhà đầu tư nước ngoài
do những lo ngại về nền kinh tế trong nước và các tin đồn cũng là những nguyên nhân chính
dẫn tới sự trượt giá của VND so với USD. Vào ngày 27/6/2008, Ngân hàng nhà nước đã
quyết định tăng biên độ tỷ giá từ ±1% lên ±2%.
Sang quý 3, Nhận thấy tình trạng sốt USD đã ở mức báo động, lần đầu tiên trong lịch
sử, NHNN đã công khai công bố dự trữ ngoại hối quốc gia 20,7 tỷ USD khi các thông tin
trên thị trường cho rằng USD đang trở nên khan hiếm nhờ vậy mà cơn sốt USD đã được
chặn đứng, tỷ giá trên thị trường tự do giảm mạnh từ 19.400 đồng/USD xuống 16.400
đồng/USD và giao dịch bình ổn quanh mức 16.600 đồng trong giai đoạn từ tháng 8 – tháng
3
rất nhiều, dao động trong khoảng 17.450 đồng - 17.800 đồng, cao hơn tỷ giá trên thị trường
liên ngân hàng trên 100 điểm.
Sang quý 2, tỷ giá liên ngân hàng sát giá trần của NHNN trong khoảng 10 ngày sau khi
NHNN tăng biên độ tỷ giá (từ +/- 3% lên +/- 5% vào ngày 23/3/2009). Tuy nhiên đến 9/4, tỷ
4
giá liên ngân hàng tăng mạnh và duy trì biên độ 200 - 600 điểm so với giá trần. Còn tỷ giá thị
trường tự do dao động từ 18.180 đồng - 18.250 đồng nhưng từ nửa cuối tháng 6/2009, tăng
lên mức 18.450 đồng - 18.500 đồng.
Đến quý 3, tỷ giá thị trường liên ngân hàng tăng mạnh và đến ngày 10/11, cao hơn giá
trần 1.000 điểm. Biến động tỷ giá rất dữ dội, có ngày tăng 200 - 300 điểm và đạt đỉnh ở mức
19.750 vào 24/11. Chỉ đến khi NHNN cho phép nhập vàng trở lại, tỷ giá ở thị trường này
giảm trong 2 ngày nhưng vẫn cao hơn 1.200 - 1.500 điểm so với giá trần. Còn tỷ giá thị
trường tự do tăng rất nhanh, đạt đỉnh 20.000 đồng rồi giảm nhanh về 18.700 đồng trước khi
tăng trở lại và duy trì ở mức 19.000 đồng - 19.300 đồng.
Sang quý 4, tỷ giá giao dịch liên ngân hàng giảm từ mức cao 19.800 đồng xuống
18.500 đồng, sát với giá trần. Kéo theo tỷ giá thị trường tự do giảm mạnh.
Nếu như tỷ giá hai thị trường trên biến động mạnh thì biến động của tỷ giá bình quân
liên ngân hàng do NHNN qui định lại rất ít. Ở quý 1, chúng biến động nhỏ và xoay quanh
mức 16.980 đồng. Sang quý 2, sau khi nới biên độ, tỷ giá giảm từ 16.980 đồng xuống 16.935
đồng (- 0,26%) và duy trì đến hết tháng 5/2009. Từ tháng 6/2009, mặc dù NHNN điều chỉnh
tăng dần nhưng mức tăng thấp. Trong quý 3, nhịp độ tăng của tỷ giá bình quân liên ngân
hàng vẫn không nhiều và tính đến 19/11/2009, mức tăng của chúng so với cuối 2008 chỉ
0,3%. Đến quý 4, kể từ 26/11, NHNN điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng 5,44%
và so với cuối năm 2008, mức tăng của chúng chỉ 5,81%.
3. Năm 2010: tỷ giá lại tiếp tục căng thẳng, giá mua bán USD tại các NHTM luôn chạm
trần USD Tỷ giá thị trường tự do có thời điểm đạt trên 21.500 VND/USD (11/2010), lệch
2.000 VND/USD so với tỷ giá chính thức, Việt Nam 2 lần hạ giá đồng nội tệ .
VND/USD giao dịch trong tuần đầu tiên tháng 11. Trước những diễn biến đầy phức tạp của
giá USD trên thị trường tự do, trong buổi họp báo sáng 4/11, Ủy ban giám sát tài chính cho
biết, Chính phủ tái khẳng định sẽ không phá giá từ giờ cho đến cuối năm. Thêm vào đó, để
hạ nhiệt thị trường, Chính phỉ còn dự kiến bơm mạnh ngoại tê phục vụ vào các ngành sản
xuất lương thực thực phẩm, phân bón … phục vụ nhu cầu nhập khẩu thiết yếu (dự kiến
khoảng 200-500 triệu USD). Thị trượng tự do phản ứng tích cực trược thông báo này khi giá
USD giảm từ mức đỉnh 21.000 (buổi sáng) xuống còn 20.700-20.800 (vào đầu buổi chiều),
rồi xuống mức 20.400, thậm chí có lúc chỉ còn 20.300.
Tuy nhiên việc giá vàng thế giới trong phiên giao dịch ngày 8/11/2010 lên mức đỉnh
1.420 USD/ounce đã khiến giá vàng trong nước tăng theo. Lợi dụng điều này, nhiều cửa
hàng vàng đã tăng mạnh giá mua-bán, tao sự khan hiếm giả tạo để lấy chênh lệch giữa giá
6
vàng trong nước và thế giới lên mức kỉ lục 1,8 triệu đồng vào sáng ngày 9/11, kéo theo giá
USD trên thị trường tự do bị đẩy lên mức kỉ lục 21.350. Trước sự chênh lệch quá lớn giữa
giá vàng trong nước và thê giới vào cuối buổi sáng ngày 9/11, NHNN đã tuyên bố sẽ cho
nhập vàng nhằm bình ổn thị trường vàng cụng như ngoại tệ tự do. Động thái này làm giá
vàng giảm từ mức đỉnh 38,2 triệu đồng/1 lượng xuống dao động quanh mức 36,7 triệu
đồng/1 lượng, và xuống 35,8 triệu đồng/1 lượng vào ngày 12/11. Đồng thời, giá USD trên thị
trường tự do cũng giảm nhẹ tuy vẫn duy trì ở mức khá cao khoảng 21.000-21.500.
Biểu đồ: Diễn biến tỷ giá VND/USD từ 1/2007 đến 12/2010
Nhìn chung, từ 2008 đến 2010, thị trường ngoại tệ diễn biến phức tạp, nên mặc dù
NHNN đã có những can thiệp mạnh vào tỷ giá, biên độ tỷ giá, lãi suất cũng như nguồn cung
ngoại tệ nhưng chỉ có thể kiềm chế phần nào sức nóng của thị trường, vấn đề căng thẳng
cung cầu trên thị trường ngoại tệ vẫn thực sự chưa được giải quyết. Các biện pháp sử dụng
để điều hành chính sách tỷ giá vẫn chủ yếu là các biện pháp hành chính, sự can thiệp trực
tiếp vào cung ngoại tệ của NHNN còn nhiều hạn chế. Các công cụ được sử dụng đồng loạt
cùng tác động lên các hoạt động của nền kinh tế. Sự khập khểnh giữa chính sách lãi suất và
tỷ giá có thể gây ra những hậu quả bất lợi như: bản tệ bị mất giá gây nguy cơ lạm phát, “chảy
máu” ngoại tệ, đầu cơ tiền tệ, hạn chế nguồn vốn đầu tư nước ngoài v.v.. Vì vậy, trong quản
lý vĩ mô, chính sách lãi suất và tỷ giá phải được xử lý một cách đồng bộ và phù hợp với thực
trạng của nền kinh tế trong từng thời kỳ nhất định. Cụ thể, NHNN tiếp tục thực hiện chính
sách lãi suất thoả thuận và hạn chế dần sự can thiệp trực tiếp vào tỷ giá. Khi nền kinh tế vượt
qua khủng hoảng, theo học thuyết ngang giá lãi suất, chính sách tự do hoá lãi suất đòi hỏi cơ
chế tỷ giá cũng phải được thiếp lập trên quan hệ cung cầu tiền tệ. Nói cách khác, chế độ tỷ
giá thả nổi được kiểm soát bằng các giải pháp kinh tế và chính sách tự do hoá lãi suất là giải
pháp lâu dài mà NHNN cần thực hiện để điều hành chính sách tiền tệ trong tương lai
1.3. Sử dụng nghiệp vụ thị trường mở ngọai tệ một cách thận trọng
Nghiệp vụ thị trưởng mở là một công cụ của chính sách tiền tệ. Khi cung ngoại tệ dồi
dào, NHNN thu hút ngoại tệ trong nền kinh tế bằng cách bán giấy tờ có giá bằng USD;
ngược lại, khi cầu ngoai tệ gia tăng, NHNN mua lại các chứng từ này. Bằng cách này,
NHNN có thể điều tiết tỷ giá một cách hiệu quả, nhanh chóng. Tuy nhiên, việc vận dụng
nghiệp vụ thị trường mở ngoại tệ ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu lực của chính sách tiền tệ.
Thật vậy, trước hết, NHNN phát hành giấy nợ bằng USD, NHNN sẽ bị rủi ro tỷ giá khi USD
8
tăng giá. Đối phó vời việc USD tăng giá là một việc làm phức tạp vì giá trị USD trên thị
trường Thế giới phụ thuộc vào sự thăng trầm của nền kinh tế Mỹ, nền kinh tế nhỏ như Việt
Nam không thể tác động đến nó. Thứ hai, việc các NHTM, các định chế tài chính trung gian
trong nước nắm giữ các giấy nợ bằng USD của Chính phủ sẽ làm gia tăng hiện tượng dollar
hóa nền kinh tế, làm ảnh hưởng đến hiệu lực điều hành chính sách tiền tệ của NHNN trong
tương lai. Do vậy, như đã phân tích ở trên, NHNN không nên hoặc rất thận trọng trong việc
sử dụng nghiệp vụ thị trường mở ngoại tệ trong điều hành tỷ giá tại Việt Nam
1.4. Phát triển thị trường ngọai tệ liên ngân hàng.
Trong thời gian qua, thông qua thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, NHNN đã đưa ít
năng kiểm soát tiền tệ là việc cần làm trong việc thống nhất quản lý ngoại hối của Chính phủ.
Mọi nguồn thu phải được tập trung về một mối để cân đối mọi nhu cầu ngoại tệ hợp lý và
cân bằng cán cân thanh toán. Chính phủ tiếp tục khuyến khích các doanh nghiệp bán ngoại tệ
thu được cho NHTM. Bên cạnh đó, NHNN cần nghiêm cấm việc niêm yết, quảng cáo, thanh
toán hàng hóa dịch vụ trong nền kinh tế bằng ngoại tệ. NHNN cần giám sát chặt chẽ việc cấp
phép, tổ chức và kinh doanh của các bàn trao đổi tiền tệ
2. Giải pháp trong dài hạn:
2.1. Điều chỉnh tỷ giá linh hoạt hơn tiến dần đến thả nổi tỷ giá
Loại bỏ dần các công cụ kiểm soát tỷ giá mang tính hành chính: tỷ giá phải được thả nổi
và hoàn toàn được xác định dựa trên cung – cầu tiền tệ, NHNN không nên áp đặt trực tiếp
lên tỷ giá mà chỉ được quyền tác động gián tiếp đến tỷ giá thông qua hoạt động mua bán
ngoại tệ trên thị trường ngoại hối.
2.2. Gia tăng tính độc lập trong điều hành chính sách tiền tệ của NHNN
Thị trường tiền tệ là thị trường cấp cao, năng động và diễn biến phức tạp. Để nâng cao
hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ nói chung và tỷ giá nói riêng; Chính phủ nên giao cho
NHNN mục tiêu chung như tỷ lệ lạm phát mục tiêu, mức tăng trưởng cung tiền trong từng
năm (hoặc từng quý) tài chính. Việc điều hành các công cụ của chính sách tiền tệ như lãi
suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng trưởng tín dụng, biên độ xác định tỷ giá kinh doanh, việc
công bố tỷ giá cơ bản .v.v… là hoạt động thường xuyên hằng ngày của NHNN. NHNN chủ
động trong việc điều hành các công cụ trên theo biến động của thị trường và bám sát các chỉ
số mục tiêu do Chính phủ hoạch định. Chính phủ tăng cường hệ thống giám sát qua hệ thống
đánh giá và dự báo kinh tế vĩ mô của Chính phủ. Được như vậy, trách nhiệm và nghĩa vụ của
NHNN được nâng lên. Hiệu quả của chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá được nâng cao đáng
kể.
2.3. Giám sát chặt chẽ nợ công
Thâm hụt NSNN trong những năm qua không ngừng gia tăng. Thâm hụt ngân sách góp
phần làm thâm hụt cán cân thương mại kéo dài, làm cung – cầu ngoại tệ mất cân đối, làm
phần gia tăng sức mạnh cho đồng tiền Việt Nam trong một tương lai không xa.
III/ KẾT LUẬN
Tỷ giá hối đoái là một công cụ hữu hiệu, linh hoạt trong quản lý và điều hành chính sách
tiền tệ. Đây là nhân tố vô cùng nhạy cảm, có tác động sâu rộng đến các mặt đời sống kinh tế
- xã hội của một quốc gia, tỷ giá cũng được xem là chiếc cầu nối quan trọng giữa kinh tế
trong nước với nền kinh tế khu vực và trên thế giới thông qua các hoạt động thương mại,
đầu tư và tài chính quốc tế; do đó, việc đi sâu nghiên cứu để có cơ sở vững chắc nhằm định
hướng chính sách và các đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái là vấn
đề quan trọng hiện nay.
Trong xu hướng hội nhập, chính sách tỷ giá phải không ngừng được hoàn thiện nhằm
phù hợp với những biến động của nền kinh tế, Việc điều hành tỷ giá cần phải có sự thận
trọng nhất định và việc thực hiện các biện pháp quản lý cần phải đặt trong mối quan hệ hữu
cơ hình thành nên hệ thống đan xen và hỗ trợ lẫn nhau để có được sự kết hợp linh hoạt, đồng
bộ nhằm khai thác thế mạnh và hạn chế nhược điểm của từng biện pháp.
11