NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ KINH TẾ CÂY CÀ PHÊ CỦA CÁC HỘ NÔNG DÂN TẠI BUÔN ÊA NA XÃ ÊA NA HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH DAKLAK - Pdf 33

Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục

PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Cây cà phê được tròng ở nước ta hơn 100 năm nay và nó đã dần dần khẳng
định được chỗ đứng của mình trong sự nghiệp phát triển kinh tế nông nghiệp của
đất nước, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi nước ta đã gia nhập Tổ chức
thương mại thế giới (WTO). Diện tích, năng suất, sản lượng cà phê tăng nhanh, kim
ngạch xuất khẩu cà phê ngày càng tăng đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách. Công
nghiệp chế biến cà phê ngày càng phát triển với nhiều sản phẩm đa dạng đã làm
tăng giá trị gia tăng của hàng cà phê này.
Hiện nay cà phê là một trong những mặt hàng cà phê xuất khẩu hàng đầu của
nước ta. Tuy nhiên do việc phát triển thường chạy theo giá cả chưa có quy hoạch cụ
thể, công nghiệp chế biến còn ở trình độ thấp, chủ yếu là xuất khẩu cà phê nhân thô
chưa qua chế biến, hơn nữa cà phê của nước ta còn thấp so với các nước khác trên
thế giới nên hiệu quả kinh tế trong sản xuất cà phê còn thấp. Trong những năm tới
để phát triển mạnh hơn nữa ngành sản xuất cà phê của nước ta, góp phần cải thiện
đời sống của các hộ sản xuất cà phê cần có nhiều biện pháp cụ thể nhằm nâng cao
hiệu quả kinh tế trong sản xuất cà phê của các nông hộ.
Hiện nay trong quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nhiều loại cây trồng
được thay thế và đã đem lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên cây cà phê là cây trồng
khó có thể bị thay thế được, đời sống nhân dân phụ thuộc rất nhiều vào cây cà phê
mặc dù có những biến đổi của thị trường, đất đai ,khí hậu, đã làm ảnh hưởng đến
năng suất và giá cả. Việc phát triển và nâng cao năng suất, chất lượng cà phê là yếu
tố quyết định tạo thêm thu nhập cho các hộ ổn định đời sống cũng như việc làm
giàu là xu hướng tất yếu từng địa phương cũng như từng hộ nông dân đang thực
hiện và đã đạt được nhiều thành tựu trong công cuộc xoá đói giảm nghèo.
Xã Êa Na huyện Krông Ana cũng nằm trong cơ cấu kinh tế đó. Trong những
năm qua việc phát triển cây cà phê đã đem laị nhiều thành quả nhất định cho xã, nền
kinh tế của xã có những bước phát triển hơn, các hộ gia đình ở đây đã phát huy tiềm

Do điều kiện nghiên cứu và thời gian thực tập có hạn ( từ ngày 17 tháng 10
đến ngày 10 tháng 11 năm 2007), nên trong đề tài này em chỉ tìm hiểu, phân tích
trong thời gian hạn hẹp.
1.4.3. Về nội dung
- Nghiên cứu đặc điểm địa bàn nghiên cứu.
- Đặc điểm của hộ điều tra.


Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục

- Thực trạng sản xuất nông nghiệp của các hộ điều tra.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế cây cà phê của hộ điều tra.
- Xác định những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế đối với cây cà phê
của hộ điều tra.
- Một số giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả kinh tế đối với cây cà phê
của hộ nhằm nâng cao thu nhập và phát triển kinh tế hộ.


Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục

PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu
2.1.1. Cơ sở lý luận
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền
kinh tế quốc gia. Nông nghiệp Việt Nam từ một nền nông nghiệp lạc hậu, tiến lên
xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa có
sự quản lý của nhà nước. Nông nghiệp nước ta là khu vực kinh tế truyền thống, tập
trung tuyệt đại đa số lao động của xã hội, phát triển hiệu quả kinh tế cây cà phê phụ
thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên như: đất đai, khí hậu… và từ cây cà phê tạo ra

như tạo công ăn việc làm, nâng cao mức sống cho người dân và góp phần cải thiện
môi trường sinh thái.
2.1.1.1. Khái niệm về hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân
+ Hộ nông dân
Hộ nông dân là người chung sống dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có
chung ngân quỹ (weberster 1990 )
Hộ nông dân là đơn vị cơ bản liên quan đến sản xuất, tái sản xuất đến tiêu
dùng và các hoạt xã hội khác( Martin 1988 ).
Là tập hợp những người có chung huyết tộc có quan hệ mật thiết với nhau trong
quá trình sáng tạo ra sản phẩm để bảo tồn chính bản thân và cộng đồng ( Raul 1989)
+ Khái niệm kinh tế nông hộ
Kinh tế nông hộ là đơn vị sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế nông thôn,
kinh tế nông hộ chủ yếu dựa vào lao động gia đình để khai thác đất đai và các yếu
tố sản xuất khác nhằm đạt thu nhập thuần cao nhất.
Kinh tế nông hộ là đơn vị kinh tế tự chủ, căn bản dựa vào sự tích lũy tự đầu
tư để sản xuất nhằm thoát khỏi nghèo đói và vươn lên giàu có, từ tự túc tự cấp vươn
lên sản xuất hàng hoá gắn với thị trường.
2.1.1.2. Khái niệm, nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế
a) Khái niệm
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó đạt cả hiệu quả kỹ thuật và
hiệu quả phân bổ, điều này có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến
khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp. Nếu đạt được một trong
các yếu tố hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ mới là điều kiện cần chứ chưa
phải là điều kiện đủ cho đạt hiệu quả kinh tế, chỉ khi nào việc sử dụng các nguồn


Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục

lực đạt cả hai chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó sản xuất mới
đạt hiệu quả kinh tế.

sử dụng đất để trồng cây cà phê thì một trong những vấn đề cốt lõi là phải tiết kiệm
nguồn lực, cụ thể với nguồn đất đai có hạn yêu cầu cho người sử dụng đất, và người
sản xuất làm sao để tạo ra cho được số lượng sản phẩm có chất lượng cao nhất, số
lượng nhiều nhất và không ngừng bồi đắp độ phì nhiêu của đất. Từ đó người sản
xuất có cơ hội để tích luỹ vốn vào tái sản xuất mở rộng.


Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục

Nâng cao hiệu quả kinh tế là yếu tố của sự phast triển xã hội, tuy nhiên ở các
địa vị khác nhau thì có những quan tâm khác nhau. Đối với người sản xuất, tăng
hiệu quả chính là giúp họ tăng lợi nhuận. Ngược lại, người tiêu dùng muốn tăng
hiệu quả chính là họ được sử dụng hàng hoá với giá thành ngày càng giảm và chất
hàng hoá ngày một tốt hơn.
Khi xã hội ngày càng phát triển, công nghệ ngày càng cao hiệu quả sẽ gặp
nhiều thuận lợi .Nâ ng cao hiệu quả ngày càng được tăng lên. Tuy nhiên, việc nâng
cao hiệu quả kinh tế phải đặt trong mối quan hệ bền vững ý nghĩa hiệu quả kinh tế
với hiệu quả xã hội, môi sinh, môi trường trước mắt và lâu dài.
2.1.1.3. Khái niệm và đặc điểm sản xuất của cây cà phê
Khái niệm
Cây cà phê là cây công nghiệp dài ngày được trồng lấy hạt để chế biến đồ
uống. Gía trị kinh tế mà cây cà phê mang lại là rất cao, nó là những mặt hàng xuất
khẩu chính của nước ta.
Đặc điểm sản xuất cà phê
-

Sản xuất cà phê mang tính thời vụ.

-


trường. Khi thị trường ngày càng phát triển, làm cho cà phê hàng hoá ngày càng đa
dạng phong phú, đòi hỏi về số lượng và chất lượng cà phê hàng hoá ngày càng cao.
 Vốn và sử dụng vốn: Muốn nâng cao trình độ sản xuất cà phê hàng hoá thì phải
có vốn đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Tốc độ sản xuất cà phê hàng hoá
tuỳ thuộc vào mức thu nhập và khả năng tích luỹ của các nông hộ cũng như sự đầu
tư của nhà nước thông qua hệ thống tài chính tín dụng.
 Áp dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ: Đây là một nhân tố trực tiếp làm thay
đổi trạng thái sản xuất cà phê, nâng cao khối lượng và chất lượng sản phẩm cà phê.
 Hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước: Đây là nhân tố quan trọng ảnh
hưởng đến quá trình sản xuất cà phê hàng hoá. Nếu không có sự can thiệp của nhà
nước trong nên kinh tế thị trường thì quá trình sản xuất cà phê hàng hoá tự phát khó
tránh khỏi những rủi ro dẫn đến lãng phí cho nền kinh tế, gây thiệt hại đối với người
sản xuất cũng như người tiêu dùng. Do đó cần có chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà
nước để định hướng và tác động đúng hướng thúc đẩy nâng cao sản xuất cà phê
hàng hoá.
2.1.2. Cơ sở thực tiễn
2.1.2.1. Tình hình sản xuất cà phê trên thế giới
Trên thế giới hiện nay có 75 nước trồng cà phê với diện tích trên 10 triệu ha
và sản lượng hàng năm biến động trên dưới 6 triệu tấn. Năng suất bình quân chưa
vượt quá 6 tạ nhân / ha. Trong đó ở Châu Phi có 28 nước năng suất bình quân
không vượt quá 4 tạ nhân/ ha. Nam Mỹ đạt dưới 6 tạ nhân / ha. Bốn nước có diện
tích cà phê lớn nhất đó là: Brazil trên 3 triệu ha chiếm 25% sản lượng cà phê thế
gới, côted’lvoire (châu phi) indonesia (châu á) mỗi nước 1 triệu ha và Côlômbia có
gần 1 triệu ha với sản lượng hàng năm đạt trên dưới 700 nghàn tấn. Do áp dụng một
số tiến bộ kỹ thuật mới như giống mới và mật độ trồng dày nên đã có hàng chục
nước đưa năng suất bình quân đạt trên 1 tấn /ha. Điển hình có CostaRica ở Trung


Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục


Hoá) : 1911; Nghĩa Đàn ( Nghệ An): ,1915, Tây Nguyên: 1925.


Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục

Năm 1976, cả nước ta chỉ có xấp xĩ 20.000 ha cà phê . Trong đó khá lớn diện
tích sinh trưởng xấu kém. Đến 1990, cả nước có gần 120.000 ha với sản lượng gần
65000 tấn. Đến năm 1998, cả nước có khoảng 300.000 ha, sản lượng vụ cà phê
năm 1997- 1998 đạt 400.000 tấn, xuất khẩu hơn 390.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu
đạt xấp xĩ 600 triệu USD, chỉ sau lúa gạo.
Cùng với việc đẩy mạnh sản xuất, thị trường xuất khẩu cà phê Việt Nam chủ
yếu xuất sang Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu cũ, chỉ một lượng nhỏ xuất
sang Hồng Kông và Singapore thì nay cà phê đã xuất khẩu tới 51 nước trên các
châu lục.
2.1.2.3. Tình hình sản xuất cà phê ở ĐakLak
Cà phê đang chiếm một vị trí rất quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu hàng
nông sản của nước ta, mỗi năm Việt Nam xuất khẩu trên dưới 900.000 tấn cà phê
với kim ngạch xấp xĩ 1,5 tỷ USD (trong đó riêng tỉnh ĐakLak chiếm 50%). Cà phê
hiện là nguồn thu nhập chính của đa số hộ đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói
chung và DakLak nói riêng, là mặt hàng chiếm tới 80% tổng kim ngạch xuất khẩu
của tỉnh DakLak mỗi năm. Tuy nhiên, việc sản xuất, cạnh tranh không lành mạnh,
tranh mua tranh bán đã dẫn đến thị trường có những biến động giả tạo, chất lượng
sản phẩm không kiểm soát được, gây ra nhiều khó khăn cho ngành cà phê.
Với tầm quan trọng như trên, những năm gần đây chính phủ, các bộ ngành

lãnh đạo tỉnh ĐăkLăk đặc biệt quan tâm đến việc đẩy mạnh quảng bá nhằm từng
bước xây dựng thương hiệu cà phê Buôn Ma Thuột nói riêng và cà phê Việt Nam
nói chung. Kết hợp quảng bá sản phẩm và thương hiệu qua các hoạt động văn hoá là
một hướng đi đúng đắn trong kế hoạch nâng cao nhận thức về cây cà phê và thúc
đẩy tiêu dùng cả trong và ngoài nước. Đó chính là phải xây dựng ở Việt Nam một

nhất cho mỗi khoa học, nghiên cưú này sử dụng phương pháp duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử làm phương pháp chung, nghĩa là các yếu tố tác động đến quá
trình phát triẻn kinh tế của các hộ đồng bào được đặt trong trạng thái vận động liên
tục không ngừng ở những điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mối quan hệ tác
động qua lại lẫn nhau.
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Lý do chọn điểm nghiên cứu: Buôn Êa Na xã Êa Na huyện Krông Ana tỉnh
ĐakLak là địa bàn nghiên cứu là buôn có đồng bào dân tộc Êđê sinh sống.
+ Phương pháp thống kê kinh tế
- Phương pháp thống kê mô tả: Là phương pháp dùng để nghiên cứu các hiện
tượng, các quá trình kinh tế, các đặc điểm của đơn vị nghiên cứu. Ðây là phương


Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục

pháp nghiên cứu quan trọng để tiếp cận tìm hiểu, nghiên cứu về đơn vị. Ðề tài đã
sử dụng phương pháp này để mô tả lại các hoạt động sản xuất, các nguồn số liệu, để
có cái nhìn tổng quan về tình hình sản xuất của các hộ nông dân trong thời gian qua.
- Phương pháp so sánh: bao gồm so sánh số tương đối và số tuyệt đối. Nhằm
đánh giá sự vật, hiện tượng theo thời gian cụ thể. Qua đó nhằm phân tích tình hình
biến động của các chỉ tiêu nghiên cứu qua các năm.
+ Thu thập thông tin:
-Thu thập thông tin số liệu thứ cấp: Tiến hành thu thập số liệu có liên quan
thông qua các báo cáo của xã.
-Thu thập thông tin số liệu sơ cấp: Ðể phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài
chúng tôi điều tra phỏng vấn và thảo luận trực tiếp nhóm và chọn ra trong buôn
ngẫu nhiên 45 hộ đó là hộ nông dân Êđê đặc trưng cho buôn.
2.2.3. Công cụ xử lý và phân tích số liệu:
- Đề tài chủ yếu sử dụng phần mềm Microsoft Excel 7.0 trên máy vi tính để
phân tích và đánh giá số liệu qua các bảng biểu tổng hợp từ phiếu điều tra.

Buôn Êa Na xã Êa Na nằm phía bắc cánh nam của huyện Krông Ana, cách thị
trấn buôn Trấp 10 km theo hướng tỉnh lộ 2, phạm vi ranh giới hành chính tiếp giáp
với`thôn buôn lân cận như sau:
Phía bắc giáp buôn Phung xã Êa Na huyện Krông Ana
Phía nam giáp thôn tân lập xã Êa Na huyện Krông Ana.
Phía đông giáp buôn Tơ Lơ xã Êa Na huyện Krông Ana.
Phía tây giáp buôn Dray xã Êa Na huyện Krông Ana.
- Địa hình
Buôn Êa Na xã Êa Na có 3 dạng địa hình chính : Địa hình đồi núi cao và chia
cắt mạnh tập trungchủ yếu ở phía bắc, địa hình lượn song và thoải phân bố từ đông
sang tây, địa hình thấp trũng tập trung chủ yếu ở phía nam.
-Thổ nhưỡng
Theo kết quả diều tra thổ nhưỡng năm 1978 của viện quy hoạch và thiết kế
nông nghiệp xây dựng bản đồ tỷ lệ1/100000, trên địa bàn buôn có các loại đất sau:
Đất nâu đỏ trên đá bazan (fk)
Đất đỏ vàng trên đá sét (fs)
Đất gley phù sa (ps)
- Khí hậu, thời tiết
Buôn Êa Na mang khí hậu chung của xã Êa Na cũng như toàn vùng Tây
Nguyên mang đặc điển chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo.
Nhưng do địa hình cao nên có đặc điểm đặc trưng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió
mùa cao nguyên.
Nhiệt độ trung bình năm 23,50c.
Độ ẩm tuơng đối hàng năm từ 81% đến 83%.


Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục

Lượng mưa trung bình tháng về mùa khô 30,76mm chiếm 8% lượng mưa
trong năm.



Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục

dục huyện, của cấp ban ngành xã cũng như sự ủng hộ của ban đại diện cha mẹ học
sinh và của nhân dân nói chung đã chăm lo đến sự nghiệp giáo dục của trường.
3.1.2.4. Tình hình y tế và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng
Tại xã cũng như tại buôn Êa Na có 1 trạm y tế, diện tích bao chiếm 1400m 2
diện tích xây dựng 1363m2, hiện trạng công trình là nhà cấp 4, có 4 phòng, trang
thiết bị thì tạm đủ, có 6 cán bộ y tế, trạm y tế có chức năng chăm sóc sức khỏe ban
đầu, tuyên truyền phổ biến kiến thức, các bệnh nặng đều được chuyển lên bệnh viện
tuyến trên chữa trị.
3.1.2.5. Tình hình phát triển kinh tế
Nông nghiệp là ngành nghề chính trên địa bàn xã trong đó trồng trọt chiếm vị
trí quan trọng nhất, chăn nuôi đã được chú ý phát triển hơn, công nghiệp và dịch vụ
đã phát triển hơn trước tuy nhiên tốc độ phát triển vẫn chưa cao.
3.1.2.6. Hệ thống cơ sở hạ tầng
Giao thông: Nhìn chung hệ thống giao thông hoàn chỉnh, mạng lưới giao
thông đều khắp, tuy nhiên phần các trục đường trong khu dân cư của một số tuyến
đường trong buôn, đặc biệt là trục đường trong khu khục sản xuất còn gặp nhiều
khó khăn như đường còn chật hẹp, mùa mưa lầy lội, diện tích đất giao thông toàn xã
là: 170,03ha, chiếm 4,11% diện tích tự nhiên.
Thuỷ lợi: Diện tích đất thuỷ lợi 2,73ha, chiếm 0,07% diện tích tự nhiên, toàn
xã có 12 hồ, riêng buôn Êa Na có 3 hồ khả năng tưới khoảng 80%.
Văn hoá: Tai buôn Êa Na có 1 nhà văn hóa với diện tích 130m2.
Điện: Hệ thống lưới điện đã phủ đến 100% buôn với 100% số hộ được sử
dụng điện phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt trong gia đình.
Trường học: Có 3 trường học trong buôn nên rất thuận lợi cho việc học của
các con em trong buôn.
3.1.2.7. Các chính sách kinh tế và xã hội đang thực hiện tại địa phương:

liệu của chủ hộ như sau:
Bảng 3.1:Tuổi của chủ hộ.
Stt

chỉ tiêu

Năm

1
Tổng hộ
2006
2
Tuổi TB/hộ
2006
Nguồn :Tổng hợp từ phiếu điều tra.

Nhóm hộ
Khá
TB
Nghèo
13
13
19
44,84
37,46
46,84

Qua bảng trên ta thấy tuổi trung bình của các nhóm hộ có khác nhau nhưng
rất ít, đặc biêt là nhóm hộ nghèo với nhóm hộ khá. Tuổi trung bình của nhóm hộ
trung bình thấp hơn nhiều so với 2 nhóm hộ còn lại.

TB Khá
8, 00 6,00
3,00
8,00 6,00
5,00
3,00 1,00
5,00
0,00 0,00
0,00
0,00 0,00
0,00

Theo kết quả điều tra, trình độ dân trí của các chủ hộ tại buôn Êa Na không
đồng đều và tương đối thấp. Số liệu cụ thể được thể hiện qua bảng ta thấy trình độ
văn hóa của các hộ điều tra không chênh lệch nhiều giữa 3 nhóm hộ, nhưng nhóm
hộ khá có trình độ văn hóa cao hơn nhóm hộ trung bình và nhóm hộ nghèo. Như
vậy trình độ văn hóa có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tổ chức sản xuất của các
nông hộ.
3.2.1.3. Nhân khẩu lao động và ngành nghề của hộ điều tra.
Hộ là đơn vị cơ bản của xã hội, đồng thời hoạt động sản xuất và tiêu dùng.
Ngoài ra cho ta thấy khả năng tích lũy về lao động để tái sản xuất của nông hộ. Chỉ
tiêu biểu hiện tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra của buôn Êa Na
được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 3.3:Tình hình nhân khẩu lao động và ngành nghề của hộ điều tra..
Chỉ tiêu
ĐVT
Tổng nhân khẩu
Khẩu
Số lao động BQ/hộ

5,31 người, nhóm hộ nghèo 5,26 người.Nói chung 3 nhóm hộ trên chênh lệch nhau
không đáng kể.Còn về tỷ lệ lao động / khẩu thì nhóm khá và nhóm hộ trung bình
chiếm bằng nhau là 7,69 %, và nhóm hộ nghèo chiếm 5,26%.
3.2.1.4.Trình độ văn hóa giáo dục của hộ điều tra.
Bảng 3.4:Tình hình trình độ văn hóa giáo dục của hộ điều tra.
Khá
Diễn giải

số

TB
tỷ lệ

lượng
(%)
Không biết chữ
8
61.54
Cấp 1
1
7.69
Cấp 2
4
30.77
Cấp 3
0
0.00
Trên cấp 3
0
0.00

(%)
15.79
36.84
42.11
5.26
0.00

Qua kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ không biết chữ của nhóm hộ khá chiếm
61,54%, hộ trung bình chiếm 15,38%, hộ nghèo chiếm 15,79%. Vậy là nhóm hộ
khá chiếm tỷ lệ nhiều hơn nhóm hộ trung bình và nhóm hộ nghèo.
3.2.1.5. Tình hình sử dụng đất đai của hộ điều tra.
Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, đất đai có vai trò rất quan trọng, nó
tham gia vào quá trình sản xuất với tư cách là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao
động, nó quyết định năg suất cây trồng, nếu đất tốt thì năng suất cao và ngược lại.Vì
vậy muốn sử dụng đất có hiệu quả thì chúng ta phải có những biện pháp canh tác
hợp lý để khai thác triệt để tiềm lực của nó..
Không có số liệu
3.2.1.6. Tình hình trang bị trang bị phương tiện sản xuất của hộ điều tra.
Các phương tiện sản xuất tác động đến quá trình sản xuất, tạo ra của cải vật
chất, dịch vụ cho xã hội. Trong snả xuất nông nghiệp, các phương tiện sản xuất.
Bảng 3.5: Tình hình phương tiện sản xuất của hộ điều tra.
Diễn giải
1. Máy cày đủ bộ

Khá
Số
lượng

TB


3
0
9
9
0

19.5
0.00
26.39
9.91
0

1
1
5
3
0

8.00
4.00
7.50
0.23
0.00

0
0
2
3
0


1. Xe máy (chiếc)
2. Ti vi
3. Đầu video
4. Máy bơm nước
5. Khác

TB
(tr.đ)
203.70
24.00
14.20
4.26
14.05

Nghèo

Số

GT

Số

lượng
4
9
4
1
5

(tr.đ)

Loại

Tổng

Tổng chi

hộ

vay

đầu tư sản

Thu

Thu

Thu

Thu

Thu

nhập/hộ nhập/khẩu nhập/LĐ nhập/chi nhập/vốn


Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục

xuất

(Tr. đ)


0.04

261.5

71.2

23

37.6

6.7

13.7

2.78

3.63

215.3

60.6

10.9

14.35

2.07

5.12

Các cây trồng cho năng suất cao hay thấp, chất lượng sản phẩm sản xuất ra
có đảm bảo chất lượng hay không một phân phụ thuộc vào tính chất đất đai, điều
kiện khí hậu thời tiết nhưng phần lớn phụ thuộc vào việc đầu tư, chăm sóc có hợp lý
hay không và điều này cũng thể hiện trình độ thâm canh, khả năng áp dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào sản xuất của nông hộ.
3.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế cây cà phê của hộ điều tra
- Điều kiện tự nhiên:
Điều kiện ảnh hưởng lớn tới sản xuất nông nghiệp cũng như sản xuất cà phê
như: Đất đai, khí hậu, thời tiết…sản xuất cà phê chỉ có hiệu quả khi cây cà phê thực
sự tương thích với môi trường sống, với điều kiện tự nhiên. Khi gặp điều kiện tự
nhiên thuận lợi thì cây cà phê phát triển sinh trưởng tốt từ đó cho năng suất cao và
giảm thiểu chi phí. Ngược lại thì cây cà phê sẽ sinh trưởng và phát triển kém cho
năng xuất thấp, chất lượng sản phẩm thấp làm hiệu quả của cây cà phê thấp. Điều
kiện tự nhiên có phạm vi ảnh hưởng rất lớn và hậu quả mang lại cũng rất lớn.
Qua tìm hiểu thực tế, tại buôn Êa Na thì điều kiện tự nhiên là tương đối thích
hợp cho việc trồng cây công nghiệp dài ngày như cà phê, điều… vì phần lớn ở đây
là đất đỏ bazan với hàm lượng dinh dưỡng cao, khí hậu và có nguồn nước tưới tiêu
thuận lợi.
-Vốn sản xuất :
Vốn là yếu tố thiết yếu cho quá trình sản xuất kinh doanh nó được ví như là
mạch máu của cơ thể nếu nói theo một cách hình ảnh. Đối với các hộ sản xuất nông
nghiệp thì vốn là một yếu tố hạn chế, mà cây cà phê đòi hỏi đầu tư quá nhiều vốn để


Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục

hạn chế rủi ro và phát triển sản xuất. Qua điều tra cho thấy các nông hộ đồng bào
còn hạn chế về vốn đầu tư cho sản xuất cà phê, chính vì vậy mà năng suất của cây
cà phê chưa cao mặc dù các thôn buôn lân cận có điều kiện tự nhiên tương tự nhưng
năng suất cao hơn.

Ket-noi.com diễn đàn công nghệ, giáo dục

người ngoài độ tuổi lao động nên đây là một gánh nặng cho gia đình, thêm vào đó
nguồn lao động chính vốn đã ít lại có chất lượng thấp thông qua tỷ lệ mù chữ rất
cao ở các chủ hộ, phần lớn người dân đạt trình độ cấp 1, chính vì vậy mà hiệu quả
kinh tế do cây cà phê mang lại chưa cao.
3.2.4. Một số giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả kinh tế đối với cây cà phê
của hộ nhằm nâng cao thu nhập và phát triển kinh tế hộ.
- Giải pháp về đất đai :
Có biện pháp giao đất thích hợp không quá nhiều cũng không quá ít đủ để đảm
bảo sản xuất đạt hiệu quả theo nghiên cứu thì nên giao cho mỗi hộ từ 1,4- 2,3 ha là vừa.
Nghiên cứu, tìm hiểu những vùng đất không thích hợp cho cây cà phê phát triển và
những vùng có cà phê xấu, không đảm bảo sản xuất có hiệu quả cao nên chuyển qua
trồng các loại cây khác, hoặc có thể phục hồi bằng cách trồng mới hoặc cưa phục hồi.
- Giải pháp về đầu tư:
Cần khuyến khích bà con đầu tư ở mức vừa phải, hợp lý và đúng kỹ thuật,
tránh lãng phí, theo nghiên cứu cho thấy các hộ này nên đàu tư ở mức từ 8 đến 11
triệu đồng là vừa đảm bảo cho cây cà phê phát triển tốt và đạt hiệu quả cao.
- Giải pháp về vốn:
Chính quyền địa phương có những chính sách cho vay đến hộ nông dân, ưu
tiên cho những hộ nghèo vay với lãi suất. Đối với hộ nông dân cần có kế hoạch sử
dụng vốn sản xuất một cách hợp lý cân đối thu chi và tính đến hiệu quả sử dụng vốn
cố định, nhằm mua sắm trang bị tài sản cố định hợp lý, ngoài sử dụng vốn tự có, hộ
nông dân còn sử dụng thêm vốn vay. Tuy nhiên, việc vay vốn này chỉ nên nằm ở
mức vừa phải, đảm bảo đâù tư không nên vay nhiều quá dẫn đến tăng chi phí những
hiệu quả mang lại quả cao.
- Giải pháp về kỹ thuật:
Cần khuyến khích cho các hộ này tham gia các buổi tập huấn kỹ thuật của
buôn Êa Na, mặt khác không ngừng tiếp thu kiến thức về sản xuất cà phê của những
vùng lân cận, cũng như những hộ sản suất cà phê đạt hiệu quả cao nhằm không


PHẦN V
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
4.1. Kết luận.
Từ thực tế điều tra và qua phân tích xử lý đánh giá các số liệu thu thập được ở
các nông hộ trồng cà phê ở buôn Ea Na, em thấy:
Đất đai, khí hậu nơi đây thích hợp cho việc phát triển và kinh doanh cây cà
phê, đây là các yếu tố hàng đầu cho việc sản xuất đạt hiệu quả cao.
Mặc dù giá cả cà phê biến đổi lien tục và giá cả đang ở mức trung bình, nhưng
cà phê ở đây là sản phẩm cũng như thu nhập chủ yếu của các nông hộ, nó quyết
định mức sinh hoạt và đời sống nhân dân, nó là loại cây trồng không thể thay thế
bởi các loại cây trồng khác được.
Chi phí của các đầu vào của các nhóm về cơ bản là giống nhau, nhưng việc
đầu tư cho các yếu tố là khác nhau. Thêm vào đó cà phê là mặt hang cà phê xuất
khẩu chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố. Trong quá trình sản xuất, các hộ thường
gặp phải không ít những khó khăn, rủi ro, bất trắc như giá đầu vào tăng, hoặc thiên
tai, bệnh dịch làm năng suất cà phê giảm, do đó đời sống của họ sẽ tụt xuống theo
Trình độ dân trí của người dân nơi đây là chưa cao, việc tác động khoa học vào
sản xuất kinh doanh nơi đây còn nhiều hạn chế, đây cũng là yếu tố quyết đinh năng
suất cây cà phê.
Chính sách phát triển kinh tế nông thôn của đảng và nhà nước ta đã đi vào
cuộc sống. Tuy nhiên, chính sách thuế sử dụng đất nông nghiệp còn nhiều bất cập,
tác động không nhỏ đến tâm lý của các hộ nông dân.
Hiệu quả kinh tế của cây cà phê là tương đối cao so với nhiều ngành sản xuất
khác, nếu như trong thời giá hiện tại việc sản xuất cà phê mà đạt hiệu quả tức là thu
nhập cao trong khi đó thì chi phí bỏ ra là ít. Đây cũng là mục tiêu mà không ít
những hộ gia đình đang hướng tới.
4.2. Kiến nghị.
Nhìn chung, năng suất cà phê ở các nhóm hộ là chưa phải là thấp so với các
khu vực khác trong vùng. Tuy nhiên, để đạt hiệu quả kinh tế cao hơn nữa cũng như


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status