Nghiên cứu hiệu quả kinh tế cây cà phê của các hộ nông dân tại buôn Êa Na xã Êa Na huyện Krông Ana tỉnh DakLak - Pdf 35

PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Cây cà phê được tròng ở nước ta hơn 100 năm nay và nó đã dần dần khẳng
định được chỗ đứng của mình trong sự nghiệp phát triển kinh tế nông nghiệp của
đất nước, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi nước ta đã gia nhập Tổ chức
thương mại thế giới (WTO). Diện tích, năng suất, sản lượng cà phê tăng nhanh, kim
ngạch xuất khẩu cà phê ngày càng tăng đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách. Công
nghiệp chế biến cà phê ngày càng phát triển với nhiều sản phẩm đa dạng đã làm
tăng giá trị gia tăng của hàng cà phê này.
Hiện nay cà phê là một trong những mặt hàng cà phê xuất khẩu hàng đầu của
nước ta. Tuy nhiên do việc phát triển thường chạy theo giá cả chưa có quy hoạch cụ
thể, công nghiệp chế biến còn ở trình độ thấp, chủ yếu là xuất khẩu cà phê nhân thô
chưa qua chế biến, hơn nữa cà phê của nước ta còn thấp so với các nước khác trên
thế giới nên hiệu quả kinh tế trong sản xuất cà phê còn thấp. Trong những năm tới
để phát triển mạnh hơn nữa ngành sản xuất cà phê của nước ta, góp phần cải thiện
đời sống của các hộ sản xuất cà phê cần có nhiều biện pháp cụ thể nhằm nâng cao
hiệu quả kinh tế trong sản xuất cà phê của các nông hộ.
Hiện nay trong quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nhiều loại cây trồng
được thay thế và đã đem lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên cây cà phê là cây trồng
khó có thể bị thay thế được, đời sống nhân dân phụ thuộc rất nhiều vào cây cà phê
mặc dù có những biến đổi của thị trường, đất đai ,khí hậu, đã làm ảnh hưởng đến
năng suất và giá cả. Việc phát triển và nâng cao năng suất, chất lượng cà phê là yếu
tố quyết định tạo thêm thu nhập cho các hộ ổn định đời sống cũng như việc làm
giàu là xu hướng tất yếu từng địa phương cũng như từng hộ nông dân đang thực
hiện và đã đạt được nhiều thành tựu trong công cuộc xoá đói giảm nghèo.
Xã Êa Na huyện Krông Ana cũng nằm trong cơ cấu kinh tế đó. Trong những
năm qua việc phát triển cây cà phê đã đem laị nhiều thành quả nhất định cho xã, nền
kinh tế của xã có những bước phát triển hơn, các hộ gia đình ở đây đã phát huy tiềm
năng lao động, tiềm năng đất đai, tiềm năng khí hậu… một cách đúng mức theo lợi


- Nghiên cứu đặc điểm địa bàn nghiên cứu.
- Đặc điểm của hộ điều tra.


- Thực trạng sản xuất nông nghiệp của các hộ điều tra.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế cây cà phê của hộ điều tra.
- Xác định những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế đối với cây cà phê
của hộ điều tra.
- Một số giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả kinh tế đối với cây cà phê
của hộ nhằm nâng cao thu nhập và phát triển kinh tế hộ.


PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu
2.1.1. Cơ sở lý luận
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền
kinh tế quốc gia. Nông nghiệp Việt Nam từ một nền nông nghiệp lạc hậu, tiến lên
xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa có
sự quản lý của nhà nước. Nông nghiệp nước ta là khu vực kinh tế truyền thống, tập
trung tuyệt đại đa số lao động của xã hội, phát triển hiệu quả kinh tế cây cà phê phụ
thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên như: đất đai, khí hậu… và từ cây cà phê tạo ra
thu nhập chủ yếu cho các hộ nông dân.
Việt Nam là nơi có số dân nông thôn đông chiếm khoảng 80% dân số cả
nước và 70% lao động xã hội. Ngoài ra nước ta là một nước có nhiều tiềm năng về
đất đai, khí hậu, điều kiện sinh thái để sản xuất mặt hàng cà phê xuất khẩu, tạo điều
kiện cho lao động nông thôn nước ta có công ăn việc làm, ổn định đời sống cho
nông dân. Trong những năm vừa qua ngành nông nghiệp đã có những bước phát
triển đáng kể làm thay đổi bộ mặt kinh tế, xã hội nông thôn của cả nước, trong đó
ngành nông nghiệp là ngành mũi nhọn đã đem về cho người dân nhiều thành tựu

+ Khái niệm kinh tế nông hộ
Kinh tế nông hộ là đơn vị sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế nông thôn,
kinh tế nông hộ chủ yếu dựa vào lao động gia đình để khai thác đất đai và các yếu
tố sản xuất khác nhằm đạt thu nhập thuần cao nhất.
Kinh tế nông hộ là đơn vị kinh tế tự chủ, căn bản dựa vào sự tích lũy tự đầu
tư để sản xuất nhằm thoát khỏi nghèo đói và vươn lên giàu có, từ tự túc tự cấp vươn
lên sản xuất hàng hoá gắn với thị trường.
2.1.1.2. Khái niệm, nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế
a) Khái niệm
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó đạt cả hiệu quả kỹ thuật và
hiệu quả phân bổ, điều này có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến
khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp. Nếu đạt được một trong
các yếu tố hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ mới là điều kiện cần chứ chưa
phải là điều kiện đủ cho đạt hiệu quả kinh tế, chỉ khi nào việc sử dụng các nguồn
lực đạt cả hai chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó sản xuất mới


đạt hiệu quả kinh tế.
b) Nội dung của hiệu quả kinh tế
Theo các quan điểm trên, hiệu quả kinh tế luôn luôn liên quan đến các yếu tố
tham gia vào sản xuất kinh doanh.Vậy nội dung xác định hiệu quả kinh tế bao gồm:
-

Xác định yếu tố đầu ra: Đây là công việc xác định mục tiêu đạt được, các kết
quả đạt được cụ thể là: Gía trị sản xuất, khối lượng sản phẩm, giá trị sản
phẩm, giá trị tăng thêm, lợi nhuận.

-

Xác định yếu tố đầu vào: Đó là chi phí sản xuất, chi phí dịch vụ, lao động…

Khi xã hội ngày càng phát triển, công nghệ ngày càng cao hiệu quả sẽ gặp
nhiều thuận lợi .Nâ ng cao hiệu quả ngày càng được tăng lên. Tuy nhiên, việc nâng
cao hiệu quả kinh tế phải đặt trong mối quan hệ bền vững ý nghĩa hiệu quả kinh tế
với hiệu quả xã hội, môi sinh, môi trường trước mắt và lâu dài.
2.1.1.3. Khái niệm và đặc điểm sản xuất của cây cà phê
Khái niệm
Cây cà phê là cây công nghiệp dài ngày được trồng lấy hạt để chế biến đồ
uống. Gía trị kinh tế mà cây cà phê mang lại là rất cao, nó là những mặt hàng xuất
khẩu chính của nước ta.
Đặc điểm sản xuất cà phê
-

Sản xuất cà phê mang tính thời vụ.

-

Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thiếu, người sản xuất cần có một kế

hoạch sử dụng ruộng đất hợp lý và có hiệu quả, không ngừng nâng cao chất lượng
của đất đai, nhằm tăng năng suất, và chất lượng cây trồng.
-

Có chu kỳ sản xuất tương đối dài (một năm), và được tiến hành ngoài trời. Do

đó phụ thuộc vào điều kiện tư nhiên là chủ yếu.
-

Sản xuất cà phê tác động và ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, đặc biệt là điều

kiện về đất đai, khí hậu, nguồn nước...do vậy trong quá trinh sản xuất doanh nghiệp

2.1.2.1. Tình hình sản xuất cà phê trên thế giới
Trên thế giới hiện nay có 75 nước trồng cà phê với diện tích trên 10 triệu ha
và sản lượng hàng năm biến động trên dưới 6 triệu tấn. Năng suất bình quân chưa
vượt quá 6 tạ nhân / ha. Trong đó ở Châu Phi có 28 nước năng suất bình quân
không vượt quá 4 tạ nhân/ ha. Nam Mỹ đạt dưới 6 tạ nhân / ha. Bốn nước có diện
tích cà phê lớn nhất đó là: Brazil trên 3 triệu ha chiếm 25% sản lượng cà phê thế
gới, côted’lvoire (châu phi) indonesia (châu á) mỗi nước 1 triệu ha và Côlômbia có
gần 1 triệu ha với sản lượng hàng năm đạt trên dưới 700 nghàn tấn. Do áp dụng một
số tiến bộ kỹ thuật mới như giống mới và mật độ trồng dày nên đã có hàng chục
nước đưa năng suất bình quân đạt trên 1 tấn /ha. Điển hình có CostaRica ở Trung
Mỹ với diện tích cà phê chè là 85000 ha những đã đạt năng suất bình quân trên
1400kg/ha.


Do sự suất hiện và gây tác hại của bệnh gỉ sắt cà phê tại nhiều nước Trung và
Nam Mỹ từ năm 1970 trở lại đây đã gây thêm những khó khăn và tốn kém cho
người trồng cà phê ở khu vực này, cà phê chè hiện nay chiếm 70% sản lượng của
thế giới. Diện tích cà phê được trồng tập trung chủ yếu ở Trung và Nam Mỹ, một số
nước ở Đông Phi như: Kenya, Cameroon, Ethiopie, Tanzan và một phần ở Châu Á
như: Indonesia, Ân độ, Philippin .
Thị trường cà phê trên thế giới trong những năm vừa qua thường chao đảo
không ổn định nhất là về giá cả. Tổ chức cà phê trên thế giới (ICO) do không còn
giữ được hạn ngạch xuất khẩu, giá cả trôi nổi trên thị trường tự do cho nên có
những giai đoạn giá cà phê xuống thấp chưa từng có so với vài chục năm trở lại
đây. Tình trạng này đã dẫn đến hậu quả là nhiều nước phải huỷ bỏ bớt diện tích cà
phê, hoặc không tiếp tục chăm sóc vì kinh doanh không còn thấy hiệu quả.Năm
1994 do những đợt sương muối và sau đó là hạn hán diễn ra ở Brazil, vì vậy đã làm
cho giá cà phê tăng vọt, có lợi cho những người xuất khẩu cà phê trên thế giới.
Cà phê là nước uống cao cấp, nhu cầu đòi hỏi của người tiêu dùng vẫn
không ngừng tăng lên chưa có những sản phẩm nhân tạo được chấp nhận để thay

của tỉnh DakLak mỗi năm. Tuy nhiên, việc sản xuất, cạnh tranh không lành mạnh,
tranh mua tranh bán đã dẫn đến thị trường có những biến động giả tạo, chất lượng
sản phẩm không kiểm soát được, gây ra nhiều khó khăn cho ngành cà phê.
Với tầm quan trọng như trên, những năm gần đây chính phủ, các bộ ngành

lãnh đạo tỉnh ĐăkLăk đặc biệt quan tâm đến việc đẩy mạnh quảng bá nhằm từng
bước xây dựng thương hiệu cà phê Buôn Ma Thuột nói riêng và cà phê Việt Nam
nói chung. Kết hợp quảng bá sản phẩm và thương hiệu qua các hoạt động văn hoá là
một hướng đi đúng đắn trong kế hoạch nâng cao nhận thức về cây cà phê và thúc
đẩy tiêu dùng cả trong và ngoài nước. Đó chính là phải xây dựng ở Việt Nam một
ngành sản xuất cà phê phát triển bền vững.
Nằm trong định hướng của tỉnh uỷ, UBND tỉnh ĐakLak chọn năm 2008 là
“Năm cà phê”, năm nay “Tuần lễ văn hoá cà phê 2007” sẽ có 30 thương hiệu và
quán cà phê nổi tiếng nhất Việt Nam với nhiều phong cách thể hiện khác nhau. Ban
tổ chức dự định sẽ trình bày các loại giống cà phê, các sản phẩm từ cà phê. Ngoài
ra, du khách sẽ được tiếp cận quy trình sản xuất cà phê từ trồng, rang, xay, đóng
gọi…thậm chí trực tiếp tham gia “Tour cà phê” để tự trải nghiệm đầy đủ quy trình
sản xuất, pha chế rồi thưởng thức thứ nước uống quyến rũ này.


Như vậy là khi nhắc đến Tây Nguyên, bây giờ người ta không chỉ liên tưởng
đến nhà rông, những thác nước hùng vĩ, hay không gian văn hoá cồng chiêng… mà
còn khắc hoạ bởi “ Tuần lễ văn hoá cà phê 2007” thì thưởng thức cà phê sẽ được
nâng lên tầm “cà phê đạo” chứ không chỉ dừng lại ở mức bình thường như hiện
nay. Hiện nay cây cà phê đã thực sự khẳng định vị trí của mình khi nền kinh tế nước
ta bước vào giai đoạn mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực,
ngành cà phê có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân. Hiện tại cà phê là
mặt hàng xuất khẩu lớn của nước ta và trên thế giới, cà phê luôn là nhu cầu hang
ngày của người dân trên toàn thế giới nên dù thị trường cà phê luôn biến động vẫn
không làm cho người dân từ bỏ việc trồng cà phê mà chỉ ngừng trệ trong một thời

-Thu thập thông tin số liệu sơ cấp: Ðể phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài
chúng tôi điều tra phỏng vấn và thảo luận trực tiếp nhóm và chọn ra trong buôn
ngẫu nhiên 45 hộ đó là hộ nông dân Êđê đặc trưng cho buôn.
2.2.3. Công cụ xử lý và phân tích số liệu:
- Đề tài chủ yếu sử dụng phần mềm Microsoft Excel 7.0 trên máy vi tính để
phân tích và đánh giá số liệu qua các bảng biểu tổng hợp từ phiếu điều tra.
2.2.4. Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu
- Doanh thu: TR=P*Q, Trong đó: TR: tổng doanh thu, P: giá bán, Q: sản lượng.
- Thu nhập của hộ: TN = doanh thu - chi phí
- Tỷ suất lợi nhuận: Thể hiện một đồng chi phí bỏ ra thì được bao nhiêu đồng
lợi
Nhuận. T = (lợi nhuận/chi phí sản xuất) * 100
- Gía trị sản xuất: GO=VA+IC; giá trị tăng thêm: VA=GO -IC
+ GO (giá trị sản xuất): giá trị sản xuất của ngành trồng trọt là toàn bộ giá trị
của cải vật chất và dịch vụ do lao động của ngành trồng trọt tạo ra trong một vụ
hoặc một năm.
+ IC (chi phí trung gian): ngành trồng trọt là toàn bộ chi phí vật chất và dịch
vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất sản phẩm thuộc ngành trồng trọt.
+ VA (giá trị tăng thêm): là một trong các chỉ tiêu quan trọng phản ánh kết
quả cuối cùng của hoạt động sản xuất ngành trồng trọt. Gía trị tăng thêm ngành
trồng trọt là giá trị chênh lệch giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian ngành trồng
trọt. Giá trị tăng thêm của ngành trồng trọt là một bộ phận cấu thành nên tổng sản
phẩm trong nước.


PHẦN III
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1. Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý:

cung cấp nước chính trong sản xuất nông nghiệp, các ao hồ đầm cũng là nguồn
cung cấp nước tưới đồng thời phát triển ngành nuôi trồng thuỷ sản tại xã.
Nước ngầm: Qua các giếng đào tại khu vực cho thấy ở các vùng trũng thấp có
độ sâu từ 8-10m, vùng cao có độ sâu từ 15-25m, hầu hết các giếng đều có chất
lượng tốt, chủ yếu phục vụ cho sinh hoạt và tưới cây trồng vào mùa khô.
Thuỷ văn: Hệ thống sông Krông Ana là nguồn cung cấp nước tưới cho nông
nghiệp tại buôn cũng như tại xã, còn lại chủ yếu là các khe suối nhỏ chạy trên địa
bàn, có lưu lượng nhỏ, độ dốc dòng chảy lớn, mực nước thay đổi theo mùa. Ngoài
ra còn có các hồ như: hồ thuỷ lợi, hồ Ea Ra… lượng nước của các hồ nào cũng thay
đổi theo mùa.
3.1.2. Tình hình phát triển kinh tế và xã hội
3.1.2.1. Tình hình dân số, thành phần dân tộc:
Theo thống kê dân số Êa Na có 2.716 hộ với 12.402 nhân khẩu. Trong đó buôn
Êa Na là:
Tổng số hộ: 311 hộ.
Tổng số nhân khẩu: 1365 khẩu.
Đồng bào dân tộc thiểu số là: 131 hộ.
Tổng số nhân khẩu của đồng bào dân tộc thiểu số là: 579 khẩu.
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là: 1,97%.
Mật độ dân số: 2,44(người/km2)
3.1.2.2. Tình hình lao động và nghề nghiệp
Chưa có thông tin số liệu

3.1.2.3. Tình hình giáo dục:
Buôn Êa Na có 3 trưòng học, 1trường mẫu giáo, 1 trường trung học cơ sở
Nguyễn Trãi, 1 trường tiểu học Lê Hồng Phong. Đội ngũ cán bộ giáo viên cơ bản
đồng bộ có đủ số lượng cân đối các bộ môn đã xác định đựợc tinh thần trách nhiệm
và hoạt động tự giác có nề nếp tốt có sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của phòng giáo
dục huyện, của cấp ban ngành xã cũng như sự ủng hộ của ban đại diện cha mẹ học


a) Về điều kiện tự nhiên:
Thuận lợi:
Với hệ thống sông, suối, hồ… chảy qua buôn tạo điều kiện cho việc tưới tiêu
trong sản xuất nông nghiệp.


Khí hậu trên địa bàn rất thích hợp cho việc phát triển cây cà phê co hiệu quả
kinh tế cao.
Vị trí địa lí của buôn thuận lợi cho việc trao đổi hàng hoá.
Khó khăn:
Tỷ lệ che phủ của rừng thấp, trong tương lai cần có kế hoạch trồng mới.
Nguồn nước khai thác chưa hợp lý dẫn đến việc phân bổ nước cho sản xuất
còn khó khăn.
b) Về điều kiện kinh tế xã hội:
Tình hình kinh tế xã hội của buôn đã có sự phát triển tương đối khả quan, các
cơ sơ hạ tầng tuy chưa được hoàn chỉnh nhưng đã hướng đầu tư xây dựng, tạo điều
kiện thuận lợi cho nhân dân, đời sống tinh thần của nhân dân cũng đã được cải thiện
hơn so với trước đây.
Tuy nhiên, buôn vẫn còn một số khó khăn nhất định như đời sống dân cư ở
một số nơi trong buôn còn thấp, cơ cấu kinh tế mang tính thuần nông, cơ sở hạ tầng
phục vụ cho sản xuất chưa phát triển.
3.2. Kết quả nghiên cứu
3.2.1. Đặc điểm của hộ điều tra
3.2.1.1.Tuổi của chủ hộ
Qua quá trình điều tra, phỏng vấn tại buôn Êa Na, xã Êa Na trong tổng số 45
hộ chia làm 3 nhóm hộ căn cứ vào mức thu nhập( khá, trung, nghèo), ta có bảng số
liệu của chủ hộ như sau:
Bảng 3.1:Tuổi của chủ hộ.
Stt


theo định hướng XHCN, sản xuất mang tính cạnh tranh gây gắt. Việc tiếp nhận và
áp dụng thành công những kỹ thuật mới vào sản xuất, phụ thuộc rất nhiều vào trình
độ dân trí của nông dân, đặc biệt là chủ hộ.
Bảng 3.2: Trình độ học vấn của các hộ điều tra.
Đơn vị tính: người
Trình độ văn hóa của chủ hộ

Năm

Mù Chữ
Cấp I
Cấp II
Cấp III
Trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học
Nguồn:Tổng hợp từ phiếu điều tra

2006
2006
2006
2006
2006

Nhóm hộ
Nghèo
TB Khá
8, 00
8,00
3,00
0,00
0,00

Số lao động BQ/hộ
Người
Tỷ lệ lao động/khẩu
%
Nguồn:Tổng hợp từ phiếu điều tra.

Năm
2006
2006
2006

Khá
60
4.62
7.69

TB
69
5.31
7.69

Nghèo
100
5.26
5.26

Nhìn bảng số liệu trên ta thấy số lao động bình quân/ hộ của nhóm hộ khá lại
ít hơn so với nhóm hộ trung bình và hộ nghèo,hộ khá là 4,62 người, hộ trung bình



Cấp 2
4
Cấp 3
0
Trên cấp 3
0
Nguồn:Tổng hợp từ phiếu điều tra.

61.54
7.69
30.77
0.00
0.00

2
8
2
1
0

15.38
61.54
15.38
7.69
0.00

Nghèo
số
tỷ lệ
lượng

1. Máy cày đủ bộ
2. Máy xay xát
3. Cày
4. Máy bơm nước
5. Máy phun thuốc

Khá
Số
lượng

TB

4
3
0
9
9

GT
(tr.đ)
47
19.5
0.00
26.39
9.91

Số
lượng
3
1


0

0

0

0.00

0

0.00

Nguồn:Tổng hợp từ phiếu điều tra.
Qua bảng điều tra cho thấy tình hình trang bị phương tiện của nhóm hộ khá
chiếm nhiều hơn so với nhóm còn lại. Như vậy trang bị phương tiện sản xuất của cả
3 nhóm hộ chưa đầy đủ để phục vụ cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và
góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của hộ.
3.2.1.7. T ình hình trang bị phương tiện sinh hoạt của hộ điều tra.
Trang bị phương tiện sinh hoạt của hộ là yếu tố làm ảnh hưởng đến đời sống
sản xuất và sinh hoạt của người dân, góp phần phục vụ cho quá trình sinh hoạt của
nông hộ đỡ vất vã hơn.
Bảng 3.6:Tình hình trang bị phương tiện sinh hoạt.
Khá

TB

Số

Diễn giải


lượng
4
9
4
1
5

(tr.đ)
42.20
23.60
7.60
0.80
6.30

lượng
2
4
4
0
2

GT (tr.đ)
40.00
10.20
4.80
0.00
4.85

Nguồn:Tổng hợp từ phiếu điều tra.

nhập/hộ nhập/khẩu nhập/LĐ
(Tr. đ)

((Tr. đ)

(Tr. đ)

Thu

Thu

nhập/chi nhập/vốn
phí (Tr.

vay (Tr.

đ)

đ)


Bình
quân
chung
Khá
Trung
bình
Nghèo

11.95


215.3

60.6

10.9

14.35

2.07

5.12

3.07

1.82

161

38

5.7

7

1.01

2.47

3.68



năng suất cao hơn.
- Khoa học kỹ thuật:
Hiện nay khoa học phát triển mạnh nó đã trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp, là nhân tố làm tăng giới hạn sản xuất. Đối với sản xuất nông nghiệp nói chung
cũng như cây cà phê nói riêng thì khoa học kỹ thuật cũng đóng góp không kém
phần quan trọng, nó là nhân tố làm thay đổi trạng thái sản xuất, nâng cao chất lượng
sản phẩm.
thực tế ở địa phương cho thấy việc áp dụng khoa học kỹ thuật còn thấp, thật sự
là các hộ vẫn còn thiếu về các loại máy móc cần thiết và hiện đại .Các hộ nông dân
chỉ sản xuất theo phương thức sản xuất cũ và kinh nghiệm là chính, chính vì vậy mà
năng suất chưa cao.
Yếu tố thị trường:
Tín hiệu của thị trường là giá cả nên giá cả là yếu tố ảnh hưởng lớn đến hiệu
quả kinh tế cà phê. Vì vậy giải quyết tốt khâu đầu vào và đầu ra thì sản xuất mới
tiến triển. Khi giá cả đàu vào càng cao thì giá trị lao động càng giảm xuống và
ngược lại.Trong những năm vừa qua giá cả các yếu tố đầu vào tăng nên chi phí cho
sản xuất cà phê tăng theo.
Vấn đề tiêu thụ cà phê rất quan trọng nó quyết định quá trình tồn tại của sản
xuất tức là giữa sản xuất và tiêu thụ là một vòng tuần hoàn tạo nên quá trình chu
chuyển vốn ..Vòng tuần hoàn này đối với các hộ thoát nghèo thì thường diễn ra ổn
định hơn so với nhóm hộ nghèo. Tại địa phương còn ít điểm tiêu thụ nông sản, vì
thế các nông hộ khó khăn trong việc tiêu thụ cà phê nên các đại lý đến tận nhà hoặc
nơi sản xuất để mua với giá rẻ so với thị trường, chỉ một số ít là bán theo giá thị
trường. Nhưng nhìn chung giá bán cà phê có xu hướng tăng.
- Nguồn lao động:
Lao động là một trong những nguồn lực không thể thiếu trong bất cứ ngành
nghề nào, số lượng và chất lượng lao động ảnh hưởng rất lớn đến kết quả sản xuất.
Qua điều tra cho thấy, nguồn lao động ở buôn điều tra còn thiếu cả về số lượng

vùng lân cận, cũng như những hộ sản suất cà phê đạt hiệu quả cao nhằm không
ngừng nâng cao trình độ sản xuất, sản xuất cà phê có hiệu quả cao hơn. Cần có sự
quan tâm giúp đỡ của chính quyền địa phương hỗ trợ về vốn, kỹ thuật cho những hộ
là đồng bào dân tộc thiểu nhằm nâng cao trình độ sản xuất, sản xuất mang lại hiệu
quả cao hơn.
- Giải pháp về sử dụng nguồn nhân lực:
hợp, tránh việc sử dụng bừa bãi gây lãng phí, mỗi một ha cà phê kinh doanh
hộ nên bố trí sử dụng khoảng 50 đến 100 công lao động thuê là vừa, không nên sử
dụng quá ít sẽ không đảm bảo kịp đến tiến độ sản xuất, hoặc quá nhiều sẽ gây nên


tình trạng khó quản lý, lãng phí do đó hiệu quả kinh tế sẽ thấp đi. Tuy nhiên điều
này còn phụ thuộc vào nguồn lao động trong gia đình ít hay nhiều có đủ để sản xuất
hay không, hay còn thừa lao động.
-Nhóm giải pháp về xây dựng cơ sở hạ tầng:
Chính quyền địa phương két hợp với buôn và hộ nông dân, xây dựng các công
trình như cầu, đường để đảm bảo giao thông thống suốt, đảm bảo cho sản phẩm của
hộ được tiêu thụ một cách thuận lợi. Đào một số hồ chứa nước có quy mô lớn
nhằm đảm bảo nước tưới cho những vùng đất nằm cách xa sông suối. Xây dựng cơ
sở hạ tầng về điện - đường- trường - trạm đảm bảo cho sinh hoạt cho hộ gia đình .
- Giải pháp về giá:
Nhà nước cần có những nghiên cứu về thị trường cà phê của Việt Nam cũng như
khả năng biến động giá cả, nghiên cứu về chi phí giá thành cà phê nhằm xây dựng giá
sàn cho cà phê đảm bảo lợi ích cho người trồng cà phê, xây dựng các định hướng phát
triển cây cà phê để hướng bà con đi vào. Đối với hộ nông dân cần phải thường xuyên
theo dõi những biến động về giá cả nhằm đảm bảo lợi ích cho chính mình.


PHẦN V
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

nghiên cứu đầy đủ để đưa ra những chính sách phù hợp . Trong phạm vi ngắn là
trong đợt thực tập này về tìm hiểu hiệu quả kinh tế cây cà phê, em có kiến nghị sau:
Đối với nhà nước.
- Ổn định giá cả của các yếu tố phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh cho các
hộ nông dân như phân bón, thuốc trừ sâu, xăng dầu…
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ gia đình vay vốn để sản xuất .
- Có chính sách giá cả đầu ra thích hợp.
Đối với địa phương.
- Nâng cao trình độ công tác quản lý của cán bộ xã.
- Tổ chức thường xuyên, bồi dưỡng kỹ thuật cho từng hộ gia đình ( khuyến
nông lâm).
- Quy hoạch lại ruộng đất cho phù hợp như đất hoang hóa….
- Có chính sách thuế thích hợp cho từng hộ gia đình.
Đối với các nông hộ :
- Tự than vận động vượt qua mọi khó khăn thách thức trong cuộc sống.
- Tham gia các chương trình khuyến nông lâm được tổ chức.
- Nâng cao trình độ văn hóa của gia đình mình.
- Đa dạng hóa cây trồng vật nuôi nhằm hạn chế những rủi ro xảy ra trong sản
xuất nông nghiệp.
- Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status