BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỐ CHÍ MINH
__________
TRỊNH THỊ LIÊN
THÂM HỤT TÀI KHOÁ
VÀ THÂM HỤT THƯƠNG MẠI
TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1990 – 2014
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân
hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Vũ Thị Minh Hằng
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập của cá
nhân tôi dưới sự hướng dẫn của cô PGS.TS Vũ Thị Minh Hằng.
Các số liệu sử dụng trong bài nghiên cứu được thu thập từ những nguồn
có thể kiểm chứng; các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Tác giả nghiên cứu
Trịnh Thị Liên
hụt tài khoá và thâm hụt thương mại................................................................ 12
1.3.1 Thâm hụt tài khoá và thâm hụt thương mại có mối quan hệ với nhau ... 13
1.3.2 Thâm hụt tài khoá và thâm hụt thương mại không có quan hệ với nhau 20
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1................................................................................. 23
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TRẠNG VIỆT
NAM ................................................................................................................ 24
2.1 Phương pháp nghiên cứu............................................................................ 24
2.1.1 Kiểm định tính đồng liên kết và mô hình hiệu chỉnh sai số ECM .......... 24
2.1.2 Lý thuyết về mô hình VAR và kiểm định quan hệ nhân quả Granger.... 25
2.1.2.1 Kiểm định tính dừng của các biến........................................................ 26
2.1.2.2 Lựa chọn độ trễ thích hợp cho mô hình VAR ...................................... 27
2.1.2.3 Kiểm định phân phối chuẩn, tính tự tương quan và tính ổn định của mô
hình VAR ......................................................................................................... 28
2.1.2.4 Kiểm định nhân quả Granger ............................................................... 28
2.1.2.5 Hàm phản ứng đẩy và phân rã phương sai ........................................... 29
2.1.3 Ứng dụng mô hình VAR và kiểm định nhân quả Granger dựa trên mô hình
VAR trong phân tích mối quan hệ giữa thâm hụt tài khoá và thâm hụt thương
mại .................................................................................................................... 30
2.2 Tình hình thực tiễn tại Việt Nam giai đoạn 1990 – 2014 .......................... 31
2.2.1 Tình hình thâm hụt tài khoá tại Việt Nam giai đoạn 1990 – 2014.......... 33
2.2.2 Tình hình thâm hụt thương mại tại Việt Nam giai đoạn 1990 – 2014 .... 36
2.2.3 Tương quan giữa thâm hụt tài khoá và thâm hụt thương mại tại Việt Nam
giai đoạn 1990 – 2014 ...................................................................................... 40
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2................................................................................. 42
CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ THỰC
NGHIỆM ......................................................................................................... 43
3.1 Dữ liệu nghiên cứu ..................................................................................... 43
3.2 Kết quả thực nghiệm .................................................................................. 44
GDP:
Gross Domestic Product
IMF:
International Monetary Fund
IRF:
Impulse response function
PP:
Phillips – Perron
REH:
Ricardian Equivalence Hypothesis
TVAR:
Threshold Vector Auto Regressive Model
VAR:
Vector Auto Regressive
VECM: Vector Error Correction Model
WTO:
Bảng 3.5: Kết quả kiểm định PP với biến gốc chưa dừng
45
Bảng 3.6: Kết quả hồi quy phương trình thâm hụt thương mại
46
Bảng 3.7: Kết quả kiểm định tính dừng của sai số εt bằng phương pháp ADF
47
Bảng 3.8: Kết quả kiểm định tính dừng của sai số εt bằng phương pháp PP
47
Bảng 3.9: Kết quả ước lượng mô hình ECM
48
Bảng 3.10: Lựa chọn độ trễ của mô hình VAR
49
Bảng 3.11: Kết quả kiểm định phân phối chuẩn của mô hình VAR bằng kiểm
định Jarque-Bera
50
Bảng 3.12: Kết quả kiểm định phân phối chuẩn của mô hình VAR bằng kiểm
34
Hình 2.2: Xuất khẩu, Nhập khẩu và thâm hụt thương mại giai đoạn 1990 –
2014
37
Hình 2.3: Thực trạng thâm hụt tài khoá và thâm hụt thương mại tại Việt Nam
giai đoạn 1990 – 2014.
41
Hình 3.1 : Kết quả kiểm định tính ổn định của mô hình VAR
52
1
TÓM TẮT
Mối quan hệ giữa thâm hụt tài khoá và thâm hụt thương mại luôn là đề tài nhận
được nhiều sự quan tâm, đặc biệt là đối với những quốc gia đang phát triển như Việt
Nam. Bài nghiên cứu đã xem xét mối quan hệ này tại Việt Nam giai đoạn 1990 –
2014. Những kết quả thực nghiệm từ hồi quy đồng liên kết, mô hình sai số hiệu chỉnh
(ECM) và mô hình VAR kết hợp phân tích nhân quả Granger cho kết luận rằng giữa
thâm hụt tài khoá và thâm hụt thương mại có mối quan hệ trong dài hạn nhưng không
có quan hệ nhân quả trong ngắn hạn.
2
3
Như vậy, nếu vấn đề thâm hụt tài khoá và thâm hụt thương mại không được
quan tâm phân tích và đánh giá thì nền kinh tế của một quốc gia khó mà đạt được
trạng thái phát triển ổn định và bền vững. Vậy, liệu có mối quan hệ nào giữa thâm
hụt tài khoá và thâm hụt thương mại không? Thâm hụt tài khoá liệu sẽ cải thiện hay
làm xấu đi tình trạng thâm hụt thương mại? Hiện có nhiều nghiên cứu về mối quan
hệ này nhưng vẫn còn nhiều tranh cãi và chủ yếu tập trung vào các quốc gia phát
triển, do đó tôi tiến hành nghiên cứu thực nghiệm đề tài: “Thâm hụt tài khoá và
thâm hụt thương mại tại Việt Nam giai đoạn 1990 – 2014” để nghiên cứu mối
quan hệ này. Ngoài ra, từ những phân tích về mối quan hệ giữa thâm hụt tài khoá và
thâm hụt thương mại, bài nghiên cứu sẽ đề ra những hướng chính sách để Chính phủ
có thể giải quyết tình trạng thâm hụt này.
2. Tổng quan về lý thuyết
Hiện nay có 2 hướng nghiên cứu mối quan hệ giữa thâm hụt tài khoá và thâm
hụt thương mại:
Thứ nhất, tồn tại mối quan hệ giữa thâm hụt tài khoá và thâm hụt thương mại
(thâm hụt thương mại tác động một chiều đến thâm hụt tài khoá hoặc thâm hụt tài
khoá tác động một chiều đến thâm hụt thương mại hoặc tác động hai chiều “bộ đôi
thâm hụt” hay còn được gọi là “thâm hụt kép” hoặc “bộ đôi đối nghịch”).
Thứ hai, không có mối quan hệ giữa thâm hụt tài khoá và thâm hụt thương mại
(trường phái Ricardian Equivalence Hypothesis (REH)).
3. Câu hỏi nghiên cứu – Mục tiêu nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu: liệu có mối quan hệ nào giữa thâm hụt tài khoá và thâm
hụt thương mại không, nếu có thì đó là mối quan hệ gì.
Mục tiêu nghiên cứu: xác định mối quan hệ giữa thâm hụt tài khoá và thâm hụt
thương mại và đề ra các hướng giải quyết cho tình trạng thâm hụt này với các nhà
làm chính sách.
(IMF) thì thâm hụt tài khoá được xác định là phần chênh lệch giữa tổng thu ngân sách
Nhà nước (bao gồm các khoản thu vào ngân sách Nhà nước mà không kèm theo nghĩa
vụ hoàn trả trực tiếp, như vậy theo định nghĩa này vay nợ không phải là một nguồn
thu ngân sách Nhà nước) và tổng chi ngân sách Nhà nước (bao gồm chi trả lãi vay
nhưng không bao gồm chi trả nợ gốc).
Theo cách tính của Tổng cục thống kê Việt Nam thì thu ngân sách Nhà nước
gồm toàn bộ các nguồn thu vào ngân sách Nhà nước từ các đơn vị sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ, từ dân cư trong nước và các nguồn thu từ ngoài nước, bao gồm các
khoản: thu từ thuế, phí, lệ phí, thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, các khoản đóng
góp của các tổ chức và cá nhân; thu viện trợ của nước ngoài, các khoản thu khác. Chi
ngân sách Nhà nước gồm toàn bộ các khoản chi từ ngân sách Nhà nước cho các doanh
nghiệp, cơ quan, đơn vị, tổ chức, dân cư trong nước và ngoài nước, bao gồm các
khoản: chi đầu tư phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm
hoạt động của bộ máy Nhà nước, chi trả nợ của Nhà nước, chi viện trợ nước ngoài,
các khoản chi khác.
Thâm hụt tài khoá là vấn đề luôn nhận được sự quan tâm vì nó ảnh hưởng lớn
đến tình hình kinh tế của một quốc gia. Khi hiện tượng thâm hụt tài khoá diễn ra đồng
nghĩa với việc ngân sách Nhà nước đang bị bội chi, đây là tình trạng diễn ra phổ biến
ở các nước đang phát triển. Ngân sách Nhà nước bội chi nhưng được kiểm soát chặt
chẽ và phục vụ cho hoạt động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hoặc chống suy thoái thì
việc bội chi mang ý nghĩa tích cực. Ngược lại, nếu tình trạng bội chi diễn biến thường
xuyên, liên tục, không có biện pháp kiểm soát làm gia tăng nợ công sẽ gây nhiều tác
6
động nghiêm trọng đối với nền kinh tế. Xét về tính chất, thâm hụt tài khoá có thể chia
làm hai loại:
Thâm hụt cơ cấu: là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách
tùy biến của Chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô
nhằm khôi phục nền kinh tế và điều tất yếu không thể tránh khỏi là thâm hụt tài khoá
càng lớn.
Thâm hụt tài khoá do Chính phủ thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội. Thâm hụt tài khoá thường xảy ra khi Chính phủ dùng chi ngân sách
như một công cụ quan của Nhà nước nhằm tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội
trong từng giai đoạn phát triển khác nhau. Ví dụ, để giúp nền kinh tế phát triển, Chính
phủ thường tiến hành tăng chi tiêu để xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông, điện
nước,…
Bên cạnh đó, nhưng yếu tố tác động từ bên ngoài cũng là một trong nhưng
nguyên nhân làm thâm hụt tài khoá, ví dụ thiên tai, bệnh dịch, tình hình kinh tế chính
trị bất ổn, tham ô, lạm phát,…
Nguyên nhân từ quản lý, điều hành ngân sách bất hợp lý gây ra thất thu ngân
sách, đầu tư công kém hiệu quả, Nhà nước huy động vốn để kích cầu, quy mô Chính
phủ quá lớn, các hoạt động chi không có trọng tâm, kiểm soát yếu làm thất thoát, lãng
phí,…
Ngoài ra, thâm hụt tài khoá có thể do các nhân tố kỹ thuật tác động. Các yếu tố
như phân loại, tính toán, phương pháp kế toán nếu không được xác định hợp lý sẽ
phản ảnh không đúng về tình hình thu ngân sách cũng như quy mô chính phủ có thể
là nguyên nhân gây ra thâm hụt tài khoá.
1.1.3 Thâm hụt tài khoá và các yếu tố vĩ mô
1.1.3.1 Thâm hụt tài khoá và nợ công
Thâm hụt tài khoá hàng năm được định nghĩa là sự chênh lệch giữa tổng thu và
tổng chi trong năm đó của Chính phủ. Trong khi đó, nợ công được tính toán dựa trên
giá trị cộng dồn của các khoản thâm hụt tài khoá qua các năm (trừ khi có việc phát
hành tiền hoặc bán tài sản quốc gia để bù đắp cho thâm hụt tài khoá). Như vậy, giữa
thâm hụt tài khoá và nợ công có mối quan hệ mật thiết và trực tiếp với nhau. Công
tác kiểm soát và quản lý thâm hụt tài khoá và nợ công cũng quan trọng và cấp thiết
như nhau.
quan trọng trong tài khoản vãng lai, thành phần của cán cân thanh toán quốc tế. Cán
9
cân thương mại ghi nhận kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu một quốc gia so với các
quốc gia khác trong một thời gian nhất định, nó là chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập
khẩu.
Thâm hụt thương mại là tình trạng kim ngạch xuất khẩu nhỏ hơn kim ngạch
nhập khẩu, nếu ngược lại, kim ngạch xuất khẩu lớn hơn kim ngạch nhập khẩu sẽ xảy
ra tình trạng thặng dư thương mại.
Cán cân thương mại = Kim ngạch xuất khẩu – Kim ngạch nhập khẩu.
Trong đó:
Kim ngạch xuất khẩu (trị giá xuất khẩu) hàng hóa là tổng số ngoại tệ thu được
sau khi bán hàng xuất khẩu cho khách hàng nước ngoài. Thường kim ngạch xuất khẩu
được tính trong vòng 1 năm.
Kim ngạch nhập khẩu (trị giá nhập khẩu) hàng hóa là tổng số ngoại tệ mất đi
sau khi mua hàng nhập khẩu từ phía nước ngoài. Cũng giống như kim ngạch xuất
khẩu, kim ngạch nhập khẩu thường được tính trong vòng 1 năm.
1.2.2 Ảnh hưởng của thâm hụt thương mại đến nền kinh tế
Cán cân thương mại là một bộ phận lớn của tài khoản vãng lai. Do đó, cán cân
thương mại thặng dư hay thâm hụt đều ảnh hưởng lớn đến tài khoản vãng lai và gây
ra những tác động lớn đến nền kinh tế. Như vậy, nếu thâm hụt thương mại xảy ra
thường xuyên, liên tục và mức độ ngày càng nghiêm trọng thì ảnh hưởng tiêu cực đến
tài khoản vãng lai và gây ra những tác động xấu đến nền kinh tế. Những tác động này
có thể làm cho nền kinh tế tăng trưởng kém ổn định do tăng nguy cơ lệ thuộc vào
nước ngoài, tăng nợ quốc tế, ảnh hưởng đến sản xuất trong nước hay gây tác động
đến chính sách tiền tệ. Hiện tượng thâm hụt thương mại là khá phổ biến ở các nước
đang phát triển do nhu cầu nhập khẩu để đáp ứng quá trình công nghiệp hoá trong khi
đó khả năng xuất khẩu còn thấp. Tình trạng thâm hụt thương mại này nếu chỉ diễn ra
Khi phân tích các yếu tố tác động đến cán cân thương mại, chúng ta dựa trên
nguyên tắc Cetaris Parribus, nghĩa là khi nghiên cứu tác động của một nhân tố thì ta
cố định các nhân tố khác. Do cán cân thương mại của một quốc gia có thể ảnh hưởng
đáng kể đến nền kinh tế của quốc gia đó, nên việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến
cán cân thương mại mại là rất quan trọng. Các yếu tố tác động và ảnh hưởng nhiều
11
nhất là: lạm phát, thu nhập quốc dân, tỷ giá hối đoái và các biện pháp hạn chế của
Chính phủ,....
1.2.3.1 Ảnh hưởng của lạm phát
Lạm phát là sự tăng lên liên tục của mức giá trung bình theo thời gian. Khi xảy
ra lạm phát, mức giá chung của nền kinh tế tăng theo thời gian, làm xói mòn đi giá
trị của đồng nội tệ. Nếu một quốc gia có lạm phát tăng so với quốc gia khác có quan
hệ mậu dịch và các yếu tố khác không đổi thì mức giá cả hàng hoá và dịch vụ của
quốc gia này sẽ trở nên cao hơn so với mức giá cả của hàng hoá và dịch vụ của các
quốc gia khác. Do giá cả hàng hoá và dịch vụ tăng cao hơn nên làm giảm sức cạnh
tranh, nhu cầu xuất khẩu sẽ giảm trong khi nhu cầu dùng hàng nhập khẩu sẽ tăng.
Như vậy nếu các yếu tố khác không đổi, lạm phát của một quốc gia tăng cao hơn thì
quốc gia này sẽ bị thâm hụt thương mại.
1.2.3.2 Ảnh hưởng của thu nhập quốc dân
Nếu mức thu nhập của một quốc gia (thu nhập quốc dân) tăng theo một tỷ lệ cao
hơn tỷ lệ tăng của các quốc gia khác, và các yếu tố khác không đổi thì nhu cầu tiêu
dùng hàng ngoại sẽ tăng. Do đó, nếu thu nhập của một quốc gia tăng thì nhu cầu nhập
khẩu hàng hoá sẽ tăng, làm cán cân thương mại xấu đi.
1.2.3.3 Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là hệ số quy đổi của một đồng tiền nước này sang đồng tiền
nước khác hay nói cách khác, tỷ giá hối đoái là mức giá mà tại đó, hai đồng tiền
chuyển đổi được cho nhau. Frederic S.Mishkin đã khẳng định: khi giá trị của đồng
những tác động trực tiếp đến cán cân thương mại. Chi tiêu của Chính phủ thường
chiếm một phần lớn trong tổng cầu của nền kinh tế, vì thế nhu cầu nhập khẩu hàng
hóa của chính phủ sẽ gây ảnh hưởng đáng kể đến cán cân thương mại. Như vậy khi
chính sách tài khóa của Chính phủ thay đổi sẽ làm cán cân thương mại thay đổi.
Chẳng hạn, khi Chính phủ theo đuổi chính sách tài khóa mở rộng bằng cách cắt giảm
thuế và tăng cường chi tiêu, thường dẫn đến thâm hụt tài khoá. Trong trường hợp trên
đầu tư công làm tăng nhu cầu của nền kinh tế, trong đó bao gồm cả một phần nhu cầu
13
tăng thêm cho hàng hóa nhập khẩu, do đó, sẽ góp phần làm xấu đi cán cân thương
mại, có thể dẫn đến tình trạng thâm hụt thương mại.
Thay đổi tỷ giá hố i đoái thực là một trong những kênh truyền dẫn của thâm hụt
tài khoá và thâm hụt thương mại. Chính sách tài khóa ảnh hưởng đến thương mại
thông qua điều chỉnh giá tương đối của các sản phẩm không giao thương: chi tiêu của
Chính phủ gia tăng cho các sản phẩm nội điạ như các dich
̣ vụ hay đầu tư vào bất động
sản có thể sẽ làm tăng tổng cầu của nền kinh tế. Theo lý thuyết IS - LM thì nó sẽ làm
dich
̣ chuyển đường IS sang phải và làm tăng lãi suất của nền kinh tế. Nếu lãi suất của
một quốc gia này tăng tương đối so với các quốc gia khác và các yếu tố khác không
đổi sẽ thu hút dòng vốn bên ngoài đổ vào và làm tăng giá đồng tiền nội tệ tương đối.
Nếu đồng nội tệ tăng giá sẽ làm giá cả hàng hoá trở nên mắc hơn tương đối so với
các hàng hoá của nước khác làm giảm sức cạnh tranh. Từ đó làm gia tăng nhu cầu
nhập khẩu trong khi giảm nhu cầu xuất khẩu làm cán cân thương mại trở nên xấu đi.
Tác đô ̣ng thông qua kênh laĩ suấ t và phầ n bù rủi ro quố c gia. Chính sách thắt
chặt tiền tệ có thể sẽ làm tăng lãi suất của nền kinh tế và giảm nợ của quốc gia, vì thế
cải thiện hơn cán cân thương mại. Nhưng nếu thực hiện một chính sách thắt chặt tài
khóa và giảm nợ công lại có thể làm cho rủi ro quốc gia giảm xuống. Biện pháp này
Y=C+S+G
(7)
Từ phương trình (6) và (7) ta có phương trình:
CA = S – I
(8)
Tiết kiệm của một quốc gia (S) bao gồm tiết kiệm của khu vực tư nhân (SP) và
tiết kiệm của khu vực Chính phủ (SG, hoặc thặng dư tài khoá hoặc thâm hụt tài khoá
(FD)), vậy ta có thể viết lại phương trình (8) như sau:
CA = (SP + SG) – I
(9)
CA = SP – FD – I
(10)
Phương trình (10) thể hiện mối tương quan cùng chiều giữa cán cân thương mại
với tiết kiệm của khu vực Chính phủ (hoặc cũng có thể hiểu là mối tương quan dương
giữa thâm hụt thương mại và thâm hụt ngân sách). Nếu tiết kiệm tư nhân và đầu tư
không đổi hoặc thay đổi không đáng kể thì cán cân thương mại và tiết kiệm của khu
vực Chính phủ sẽ di chuyển cùng chiều, do đó, khi có sự gia tăng trong thâm hụt tài
khoá sẽ dẫn đến một sự gia tăng trong thâm hụt thương mại và ngược lại. Ở đây, ngân
sách Chính phủ có thể tác động trực tiếp cán cân thương mại thông qua tăng (giảm)
nhu cầu đầu tư và tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hoặc tăng (giảm) thuế của mình. Nếu
Chính phủ thực hiện chính sách tài khóa mở rộng (tăng thâm hụt ngân sách), việc
tăng tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ và giảm thuế sẽ khuyến khích tăng nhu cầu về nhập
Çatık and Akseki (2015) trong nghiên cứu của mình đã xem xét giả thuyết thâm
hụt kép với dữ liệu theo quý giai đoạn 1994 – 2012 ở Thổ Nhĩ Kỳ. Nghiên cứu sử
dụng phương pháp phân rã phương sai dựa trên mô hình TVAR (Threshold Vector
Auto Regressive Model) trong đó nền kinh tế phát triển giữa hai cơ chế tùy thuộc vào
16
giá trị của một biến ngưỡng (mức tiềm năng của nền kinh tế). Kết quả cho thấy mối
quan hệ giữa thâm hụt tài khoá và thâm hụt thương mại hiện đang bị ảnh hưởng bởi
hoạt động kinh tế vĩ mô, thâm hụt tài khoá sẽ dẫn đến thâm hụt thương mại khi nền
kinh tế ở trên mức tiềm năng.
Rosenweig and Tallman (1993) cung cấp một số bằng chứng cho thấy thâm hụt
ngày càng tăng của Chính phủ bởi việc đánh giá cao đồng đô la, và hỗ trợ quan điểm
"thâm hụt kép" cho rằng thâm hụt tài khoá đóng góp cho thương mại thâm hụt.
Leachman and Francis (2002) sử dụng phân tích đồng liên kết để xem xét vấn
đề thâm hụt kép tại Mỹ trong giai đoạn sau Thế chiến II. Dựa trên mô hình VECM
(Vector Error Correction Model), bài nghiên cứu kết luận rằng thâm hụt tài khoá gần
đây có thể đã góp phần vào thâm hụt thương mại, củng cố thêm về việc tồn tại mối
quan hệ “thâm hụt kép”.
Roubini (1988) trong nghiên cứu về cán cân thương mại và thâm hụt thương
mại trong mô hình liên thời gian với tiêu dùng và thuế đã được làm mượt với dữ liệu
gồm 18 nước OECD giai đoạn 1960 – 1985 cũng kết luận rằng thâm hụt tài khoá có
ảnh hưởng đến thâm hụt thương mại.
Một số nghiên cứu đã thành công trong việc thiết lập các quan điểm cho rằng
khoảng 1/3 của sự gia tăng thâm hụt tài khoá được phản ánh trong thâm hụt thương
mại, như Chinn và Prasad (2003). Nhiều nghiên cứu gần đây ước tính thấp hơn một
chút cho mối quan hệ thâm hụt kép này như Bussiere et al. (2010), Gruber và Kamin
(2007) và Chinn và Ito (2007) cho thấy rằng chỉ có từ 1% đến 20% của sự gia tăng
thâm hụt tài khoá được phản ánh trong thâm hụt thương mại.
Lập luận của Feldstein (1986) cho rằng sự gia tăng thâm hụt của Chính phủ đã
đẩy lãi suất lên cao, từ đó thu hút vốn nước ngoài và làm cho đồng nội tệ tăng giá dẫn
đến thâm hụt thương mại, đây dường như là giải thích quan trọng nhất cho sự tranh
cãi về hiện tượng thâm hụt kép.
Corsetti và Müller (2006) đã nghiên cứu các cú sốc tài khoá trong mô hình VAR
ở bốn quốc gia: Australia, Canada, Anh và Mỹ để góp phần phân tích các tranh luận
liên quan đến thâm hụt kép, nghiên cứu nhấn mạnh vào sự tăng giá tương đối liên
thời gian theo các cơ chế truyền tải của mô hình Mundell – Fleming. Ở đây, một cú
sốc do tài khóa mở rộng làm tăng thu nhập và nhu cầu nội địa từ đó làm tăng nhu cầu
nhập khẩu dẫn đến làm xấu đi cán cân thương mại. Hơn nữa, với cơ chế tỷ giá hối