tìm hiểu về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm con người. Phân tích một tình huống thực tế về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm con người - Pdf 33

Nguyễn Thị Lan Anh - 341318

A MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển chung của xã hội, thu nhập cũng như nhận thức của
người dân đã tăng lên, nhu cầu bảo vệ bản thân trước những rủi ro ngày càng được
quan tâm. Ngày nay, bảo hiểm đã trở thành một ngành kinh doanh hết sức phát
triển và dần trở nên một khái niệm quen thuộc với hầu hết mọi người. Ở nhiều
quốc gia, mua bảo hiểm từ lâu đã là một việc làm không thể thiếu đối với người
dân. Bảo hiểm trở nên thực sự cần thiết như vậy cũng bởi rất nhiều lý do.Các
nghiệp vụ bảo hiểm cũng được các công ty bảo hiểm tung ra nhiều hơn, đặc biệt là
bảo hiểm con người. Một trong những nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm cũng như
bảo hiểm con người nói riêng đó là “quyền lợi có thể được bảo hiểm”. Đây là
nguyên tắc hàng đầu trong kinh doanh bảo hiểm, em xin lựa chọn nghiên cứu đề
tài: “tìm hiểu về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm con người. Phân
tích một tình huống thực tế về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm con người”.
B. NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT CHUNG
1. Bảo hiểm con người
Bảo hiểm con người (insurance of the person): là loại bảo hiểm mà đối
tượng bảo hiểm là tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe và tai nạn của con người. Bảo
hiểm con người bao gồm các loại sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khoẻ
và tai nạn con người bao gồm các loại như bảo hiểm an sinh giáo dục, bảo hiểm trả
tiền định kỳ, bảo hiểm tiết kiệm và đầu tư, bảo hiểm chi phí khám chữa bệnh và
chăm sóc sức khoẻ, bảo hiểm tai nạn học sinh, lao động… Bên mua bảo hiểm có
thể mua bảo hiểm cho chính bản thân mình hoặc vợ, chồng, con, cha, mẹ; anh, chị,
em ruột; người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng; và người khác nếu bên mua
bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm.


Nguyễn Thị Lan Anh - 341318


+ Trong bảo hiểm sức khỏe con người, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo
hiểmcho người được bảo hiểm trong phạm vi số tiền bảo hiểm, căn cứ vào chi phí
khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi sức khỏe của người được bảo hiểm do bệnh tật
hoặc tai nạn gây ra và thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
Trong bảo hiểm con người, nếu bên mua bảo hiểm không đóng hoặc đóng
không đủ phí bảohiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm không được khởi kiện đòi bên
mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm.
Trong trường hợp người được bảo hiểm chết, bị thương tật hoặc đau ốm do
hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp của người thứ ba gây ra, doanh nghiệp bảo hiểm
vẫn có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm mà không có quyền yêu cầu người thứ ba bồi
hoàn khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm đã trả cho người thụ hưởng. Người thứ
ba phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm theo quy định của
pháp luật.


Giao kết hợp đồng bảo hiểm con người cho trường hợp chết.
+ Khi bên mua bảo hiểm giao kết hợp đồng bảo hiểm con người cho trường
hợp chết của người khác thì phải được người đó đồng ý bằng văn bản trong đó ghi
rõ số tiền bảo hiểm và người thụ hưởng.
Mọi trường hợp thay đổi người thụ hưởng phải có sự đồng ý bằng văn bản
của bên mua bảo hiểm.


Nguyễn Thị Lan Anh - 341318

+ Không được giao kết hợp đồng bảo hiểm con người cho trường hợp chết
của những người sau đây:
-

Người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp cha, mẹ hoặc người giám hộ của

thể được bảo hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng,quyền tài
sản; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm”
Quyền lợi có thể được bảo hiểm, hay lợi ích bảo hiểm, là quyền sở hữu,
quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp
dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm. Như vậy, quyền lợi có thể được bảo hiểm
là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan đến, gắn liền với, hay phụ thuộc vào sự an toàn
hay không an toàn của đối tượng bảo hiểm. Người nào có quyền lợi có thể được
bảo hiểm ở một đối tượng bảo hiểm nào đó có nghĩa là quyền lợi của người đó sẽ
được đảm bảo nếu đối tượng đó được an toàn, và ngược lại, quyền lợi của người đó
sẽ bị phương hại nếu đối tượng bảo hiểm đó gặp rủi ro. Nói khác đi, người có
quyền lợi có thể được bảo hiểm là người bị thiệt hại về tài chính khi đối tượng bảo
hiểm gặp rủi ro. Người có quyền lợi có thể được bảo hiểm là người có một số quan
hệ với đối tượng bảo hiểm được pháp luật công nhận. Đó có thể là người chủ sở
hữu của đối tượng bảo hiểm đó, người chịu trách nhiệm quản lý tài sản hoặc người
nhận cầm cố tài sản. Quyền lợi có thể được bảo hiểm có ý nghĩa rất to lớn trong
bảo hiểm, có quyền lợi có thể được bảo hiểm thì mới được ký kết hợp đồng bảo
hiểm. Khi xảy ra tổn thất, người được bảo hiểm đã phải có quyền lợi có thể được
bảo hiểm rồi mới được bồi thường.
Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm chỉ ra rằng, người được bảo
hiểm muốn mua bảo hiểm phải có lợi ích bảo hiểm. Quyền lợi có thể được bảo
hiểm có thể là quyền lợi đã có hoặc sẽ có trong đối tượng bảo hiểm. Trong bảo


Nguyễn Thị Lan Anh - 341318

hiểm hàng hải, quyền lợi có thể được bảo hiểm không nhất thiết phải có khi ký kết
hợp đồng bảo hiểm, nhưng nhất thiết phải có khi xảy ra tổn thất.
Nói một cách cụ thể hơn Quyền lợi có thể được bảo hiểm là mối quan hệ giữa
bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm, trong đó sự rủi ro của người được bảo
hiểm sẽ gây tổn thất về tài chính hoặc tinh thần cho bên mua bảo hiểm.

thể bảo hiểm để quyền lợi của mình tránh bị ảnh hưởng từ việc rủi ro của người
khác có liên quan trực tiếp tới quyền lợi đó thông qua một nghiệp vụ bảo hiểm con
người. Ví dụ: Ông A vay tiền của Ông B, do môi trường làm việc của ông A có
nhiều rủi ro, ông B có thể mua bảo hiểm Tai nạn cá nhân cho ông A, người được
bảo hiểm là Ông A và người thụ hưởng bảo hiểm khi có rủi ro xảy ra là Ông B, bởi
vì nếu rủi ro xảy ra với ông A thì ông B sẽ bị mất quyền lợi của mình do Ông A có
thể sẽ mất khả năng trả nợ từ rủi ro đó.
Bất cứ hợp đồng bảo hiểm nào bao gồm cả hợp đồng bảo hiểm con người
đều dựa trên quyền lợi của người mua bảo hiểm. Điểm a, khoản 1, Điều 22 Luật
Kinh Doanh Bảo Hiểm quy định rằng hợp đồng bảo hiểm sẽ bị vô hiệu trong
trường hợp “người mua bảo hiểm không có quyền lợi được bảo hiểm”. Tức là
người mua bảo hiểm không có quyền lợi cần được bảo hiểm đối với đối tượng
được bảo hiểm, khi có rủi ro xảy ra với đối tượng được bảo hiểm không ảnh hưởng
tới quyền hoặc lợi ích của bên mua bảo hiểm – mục đích chính của việc bảo hiểm,
điều này gần như là không có đối tượng để bảo hiểm và đương nhiên hợp đồng bảo
hiểm sẽ vô hiệu. Đối với quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm con
người, quyền lợi ở đây là các giá trị vật chất hoặc tinh thần mà khi có rủi ro xảy ra
đối với tình mạng, sức khỏe...của người được bảo hiểm sẽ gây ra những tổn thất
nhất định cho bên mua bảo hiểm.
II. TÌNH HUỐNG THỰC TẾ VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM
CON NGƯỜI.
Ngày 5/12/2008 Tòa Án nhân dân Tối cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh mở
phiên xử phúc thâm vụ tranh chấp tiền bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.


Nguyễn Thị Lan Anh - 341318

Vụ kiện giữa nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Thảo và bị đơn là Công ty TNHH
BHNT Prudential Việt Nam (sau đây gọi tắt là Prudential VN). Theo đơn khởi
kiện, ngày 7.2.2006 bà Thảo mua BHNT của Prudential VN cho con trai là Nguyễn


Nguyễn Thị Lan Anh - 341318

Tại phiên tòa phúc thẩm, HĐXX nhận định bà Thảo mua BHNT không phải
vì mục đích kinh doanh, nên đây chỉ là hợp đồng dân sự. Việc Tòa sơ thẩm áp
dụng Luật Kinh doanh bảo hiểm xem xét vụ kiện là không phù hợp. Tòa phúc thẩm
cũng cho rằng, quy định ghi trong hợp đồng “nếu kê khai không trung thực… thì
hợp đồng sẽ vô hiệu” là vi phạm pháp luật. Bởi lẽ, hợp đồng chỉ vô hiệu khi vi
phạm các điều cấm của pháp luật, được quy định trong Bộ luật Dân sự. Ngoài
những lý do trên, do bản án sơ thẩm còn có những vi phạm tố tụng khác nên
HĐXX tuyên hủy án sơ thẩm để xét xử lại.
(Nguồn: http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/12/08/2058/ )


Một số nhận xét về tình huống trên
Trước tiên cần phải xác định: Bà Thảo có hành vi kê khai không trung thực

hay không?
Không thể khẳng định chắc chắn rằng anh Nghĩa bị nhiễm HIV do nguyên
nhân trực tiếp là việc sử dụng ma túy hoặc chất gây nghiện. Trong thông báo của
trung tâm ý tế dự phòng Đồng Tháp cũng không nói rõ nguyên nhân dẫn tới việc
anh Nghĩa nhiễm HIV. Việc một người nhiễm HIV có thể có nhiều nguyên nhân
khác nhau như lây truyền qua đường máu, quan hệ tình dục không an toàn...không
phải cứ bị HIV là do sử dụng ma túy hoặc chất gây nghiện. Đây là suy đoán không
có căn cứ. Nếu anh Nghĩa không hề sử dụng ma túy hoặc chất gây nghiện mà bị
nhiễm HIV vì một lí do khác, vậy bà Thảo không hề vi phạm nghĩa vụ cung cấp
thông tin. Chính vì vậy cần phải xác định xem anh Nghĩa bị HIV là do nguyên
nhân gì, và xem bà Thảo có thực sự đã biết hay bà hoàn toàn không biết về tình
trạng sức khỏe của con trai minh?


b)Không thực hiện các nghĩa vụ trong việc cung cấp thông tin cho doanh
nghiệp bảo hiểm theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 18 của Luật này.
3.Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm cố ý cung cấp thông tin sai sự
thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương
đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm; doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường
thiệt hại phát sinh cho bên mua bảo hiểm do việc cung cấp thông tin sai sự thật”
Tuy nhiên, điểm d khoản 1Điều 22 lại quy định các trường hợp hợp đồng
bảo hiểm vô hiệu: “...Bên mua bảo hiểm hoặc doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi
lừa dối khi giao kết hợp đồng bảo hiểm;”
Vậy, nếu bà Thảo đúng là có hành vi không kê khai đúng thông tin thì sẽ áp
dụng điều nào của Luẩ kinh doanh bảo hiểm? Bởi mỗi Điều luật sẽ dẫn tới những
hậu quả pháp lí khác nhau.
Mặc dù trong luật Kinh doanh bảo hiêm không định nghĩa thế nào là lừa dối,
tuy nhiên trong văn bản pháp lí khác là Bộ luật Dân sự 2005 lại có định nghĩa rõ
ràng thế nào là lừa dối: “Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc
người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối
tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó”. Xét theo
tình huống trên, nếu thực sự anh Nghĩa có sử dụng ma túy hoặc chất gây nghiện
khác dẫn tới việc anh Nghĩa nhiễm HIV thì bà Thảo đã có hành vi “cố ý tạo cho
bên thứ ba hiểu sai lệch về tính chất của đối tượng”, khiến cho bên bảo hiểm nghĩ
rằng anh Nghĩa không hề sử dụng ma túy hoặc chất gây nghiện khác, nếu bên bảo
hiểm biết thông tin này, hợp đồng bảo hiểm có thể không được giao kết...
Vậy bà Thảo có hành vi lừa dối trong giao kết hợp đồng bảo hiểm là không


Nguyễn Thị Lan Anh - 341318

thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin, cung cấp thông tin sai sự thật...vậy nên áp
dụng điểm a khoản 2 Điều 19 hay điểm d khoản 1Điều 22 để giải quyết?
Theo quan điểm cá nhân, em cho rằng trong trường hợp này nên áp dụng

khỏe, tính mang của con người, đó là những thứ vô giá. Hơn nữa hợp đồng bảo
hiểm thường phức tạp vì liên quan tới nhiều người. Trong đời sống những rủi ro là
không thể tránh khỏi và càng không thể lường trước do đó khi rủi ro phát sinh
những tổn thất về vật chất và tình thần nhất là về tính mạng, sức khỏe là hết sức
nặng nề. Hy vọng rằng pháp luật về kinh doanh bảo hiểm ngày càng được hoàn
thiện, vừa bảo vệ được quyền và lợi ích của người mua bảo hiểm vừa đem lại môi
trường hấp dẫn, tạo cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm
trong thời gian tới.


Nguyễn Thị Lan Anh - 341318

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO



Luật kinh doanh bảo hiểm 2000, Sửa đổi bổ sung năm 2010



Bộ luật Dân sự 2005



Bảo hiểm Việt Nam - Thực trạng và giải pháp phát triển, Bùi Nhật Anh,
khóa luận tốt nghiệp Đại học Ngoại thương.



http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/12/08/2058/


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status