ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------------------
LÊ THỊ HỒNG NHUNG
TRIẾT LÝ NHÂN SINH
TRONG CA DAO, TỤC NGỮ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2015
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------------------
LÊ THỊ HỒNG NHUNG
TRIẾT LÝ NHÂN SINH
TRONG CA DAO, TỤC NGỮ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Triết học
Mã số
: 60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 34
CHƢƠNG 2: NỘI DUNG TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG CA DAO,
TỤC NGỮ VIỆT NAM ................................................................................. 35
2.1. Quan niệm về đời ngƣời, ý nghĩa của cuộc đời con ngƣời ................. 35
1
2.2. Quan niệm về cách ứng xử của con ngƣời với tự nhiên ..................... 40
2.2.1. Con người sống không thể tách rời với tự nhiên ............................... 40
2.2.2. Quan niệm về lao động sản xuất cải tạo tự nhiên ................................. 45
2.3. Quan niệm về cách ứng xử giữa con ngƣời với con ngƣời trong xã hội ... 50
2.3.1. Tình yêu đôi lứa chân thành, trong sáng, bình dị, thiết tha, mãnh liệt
được thể hiện trong chính cuộc sống lao động hàng ngày .............................. 50
2.3.2. Mối quan hệ vợ chồng ân tình, thủy chung, nhường nhịn, sẻ chia ........... 54
2.3.3. Mối quan hệ trong gia đình trên dưới tôn kính, cha con chí hiếu ............. 57
2.3.4. Mối quan hệ anh em thuận hòa ............................................................. 62
2.3.5 Mối quan hệ tôn sư trọng đạo, bạn bè tình nghĩa ........................................ 63
2.3.6. Mối quan hệ gắn bó ruột thịt, tương thân tương ái trong cộng đồng,
quốc gia dân tộc............................................................................................... 66
2.4. Những giá trị và hạn chế của triết lý nhân sinh trong ca dao, tục
ngữ Việt Nam ............................................................................................. 72
2.4.1. Về giá trị ................................................................................................ 72
2.4.2. Về hạn chế ............................................................................................. 81
Tiểu kết chƣơng 2 .......................................................................................... 84
KẾT LUẬN .................................................................................................... 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 88
2
củng cố niềm tin, lý tưởng sống cho người dân Việt Nam nói chung và một bộ
phận thanh niên Việt Nam hiện nay dưới tác động của xu thế toàn cầu hóa.
Vì những lý do trên tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài “Triết lý nhân sinh
trong ca dao, tục ngữ Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Ca dao, tục ngữ là một thành tố quan trọng, góp phần tạo nên hệ giá trị
tinh thần, bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc Việt Nam. Bởi vậy, ca dao, tục
ngữ đã được thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu cả trong và
ngoài nước ở những góc độ, những khía cạnh khác nhau. Trước những nghiên
cứu đa dạng và đa ngành về ca dao, tục ngữ việc tiếp cận tư liệu của đề tài
chủ yếu được triển khai trên hai nhóm chủ đề lớn như sau:
Trước hết, là những công trình nghiên cứu tổng quan về ca dao, tục ngữ
Việt Nam:
Công trình sưu tập, nghiên cứu của tác giả Vũ Ngọc Phan “Tục ngữ, ca
dao Việt Nam” (1995), tác giả Đinh Gia Khánh “Văn học dân gian Việt
Nam” (2000). Hai cuốn sách nói trên, các tác giả đã làm rõ khái niệm, nguồn
gốc, sự hình thành, phát triển, nội dung và các hình thức nghệ thuật của ca
dao, tục ngữ Việt Nam nói chung. Ngoài ra, tác giả còn làm rõ mối quan hệ
giữa ca dao, tục ngữ với các thể loại văn học dân gian khác.
Công trình sưu tập ca dao, tục ngữ công phu nhất, có nội dung phong
phú là bộ sách “Tục ngữ phong dao” của Nguyễn Văn Ngọc, xuất bản lần đầu
vào năm 1928. Tập 1 của bộ sách này giới thiệu khoảng 6.500 câu tục ngữ
của các vùng miền Bắc, Trung, Nam cho đến nay vẫn được coi là một trong
những công trình sưu tập tục ngữ Việt Nam có quy mô lớn.
Cuốn sách “Tục ngữ ca dao Việt Nam” (2014) của tác giả Ngọc Hà đã
sưu tập và tuyển chọn những câu ca dao tục ngữ rất hay, rất ý nghĩa, rất điển
hình trong kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam. Tác giả đã sắp xếp các câu ca
2
quan niệm về mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng, giữa các yếu tố cấu
thành sự vật, hiện tượng chưa được tác giả đề cập đến.
Trong cuốn “Những yếu tố duy vật và biện chứng trong ca dao, tục ngữ
Việt Nam” (1996), tác giả Võ Hoàng Khải đã làm sáng tỏ đồng thời hệ thống
hóa các yếu tố duy vật và biện chứng trong ca dao, tục ngữ để thấy được bản
chất tư duy của người lao động bình dân. Một số nội dung duy vật và biện
chứng đã được tác giả trình bày khá rõ ràng.
Về chủ đề Đạo làm người trong ca dao, tục ngữ, tác giả Nguyễn Nghĩa
Dân có biên soạn cuốn “Đạo làm người trong tục ngữ, ca dao Việt Nam”
(2011). Tác giả đã sưu tập hàng nghìn câu tục ngữ, ca dao Việt Nam về đạo
làm người. Cuốn sách gồm có hai phần chính: Phần thứ nhất tác giả trình bày
những đặc điểm của tục ngữ, ca dao về đạo làm người, đồng thời tác giả tiến
hành phân loại và trình bày nội dung tục ngữ, ca dao về đạo làm người. Phần
thứ hai, tác giả sưu tầm, lựa chọn, giải thích tục ngữ, ca dao về đạo làm
người. Đây là một công trình rất hay và có ý nghĩa, trình bày rất đầy đủ và cụ
thể nội dung về đạo làm người trong ca dao, tục ngữ Việt Nam.
Về Triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ cũng đã thu hút được sự quan
tâm, nghiên cứu của các tác giả. Tiêu biểu có đề tài “Triết lý nhân sinh trong ca
dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế”(2011) của tác giả Cao Thị Hoa đã đi sâu phân
tích và làm sáng tỏ triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế,
trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa thực tiễn về quan niệm sống (nhân sinh quan, thế giới
quan) của con người Việt Nam ở tỉnh Thừa Thiên - Huế, vận dụng nó ở góc độ
kế thừa, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa trong sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của đề tài mới chỉ
dừng lại ở việc tìm hiểu triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Thừa Thiên Huế, mà chưa đi sâu tìm hiểu triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam.
4
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn là những quan điểm và phương pháp luận
của triết học Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam.
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu kết hợp các phương pháp logic và lịch sử, phân tích
và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, thống kê, so sánh và đối chiếu.
6. Đóng góp mới của luận văn
- Một là, luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống về triết lý nhân
sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam.
- Hai là, bước đầu đánh giá những giá trị và hạn chế của triết lý nhân
sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam, rút ra ý nghĩa thực tiễn về quan niệm
sống của con người Việt Nam thông qua kho tàng ca dao, tục ngữ.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7.1. Ý nghĩa lý luận
- Khẳng định những giá trị to lớn của ca dao, tục ngữ Việt Nam: ca
dao, tục ngữ Việt Nam chứa đựng triết lý nhân sinh sâu sắc.
- Khẳng định tư duy của dân tộc Việt Nam, nền văn hóa Việt Nam là
một bộ phận hòa cùng sự phát triển của tư duy nhân loại.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có giá trị làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy và học
tập Văn học dân gian, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, triết học Mác - Lê nin.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm có 2 chương và 7 tiết.
6
nghĩa khái niệm ca dao: “Ca dao là những bài hát ngắn không có chương
khúc” [16, tr. 20].
Cũng bàn về khái niệm ca dao, trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam,
tập 2 của tập thể tác giả, Bùi Văn Nguyên (chủ biên) đã nêu: “Ca dao là
những bài hát có hoặc không có chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần
của dân tộc (thường là thể lục bát) để miêu tả, tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình
cảm” [34, tr. 38].
Khi phân biệt giữa ca dao và dân ca tác giả Vũ Ngọc Phan cũng đã giải
thích: “Ca dao là một loại thơ dân gian, có thể ngâm được như các loại thơ
khác” [36, tr. 42].
Như vậy, ca dao là một thể loại trữ tình của văn học dân gian. Những
tác phẩm trong thể loại này dù nói lên mối quan hệ giữa con người trong lao
động, trong sinh hoạt gia đình và xã hội, hoặc nói lên những kinh nghiệm
sống và hành động bao giờ cũng bộc lộ thái độ chủ quan chứ không phải miêu
tả một cách khách quan những hiện tượng, những vấn đề. Cho nên, trong ca
dao, cái tôi trữ tình nổi lên một cách rõ nét. Cũng như các thể loại văn học
dân gian khác, ca dao phản ánh mọi mặt cuộc sống của người dân Việt Nam
qua quá trình lịch sử. Đó là một bức tranh sinh động, phong phú, đầy màu sắc
Việt Nam, thể hiện một cách sâu sắc, rực rỡ thế giới quan, nhân sinh quan của
con người Việt Nam. Đó là những quan niệm về trời, đất, về nguồn gốc con
người; đó là tinh thần lạc quan trong khó khăn, tinh thần tương thân tương ái
giữa những con người lương thiện; đó còn là những nhận thức sâu sắc về bạn,
về thù, về chính nghĩa. Tóm lại, qua ca dao, ta có thể thấy rõ hiện thực cuộc
sống của nhân dân, cái hiện thực vốn có được hiện lên một cách chân thực nhất.
Nội dung của ca dao rất phong phú đa dạng. Ca dao phản ánh những
quan niệm về trời, đất, về thời thế; phản ánh lịch sử công cuộc đấu tranh
8
Hình ảnh nổi bật trong những câu ca dao nói về đất nước, quê hương,
dân tộc… là hình ảnh về con người Việt Nam cần cù trong lao động, dũng
cảm trong đấu tranh, nhân ái, vị tha, giàu đức hy sinh trong quan hệ giữa
người với người và luôn lạc quan, yêu đời. Ca dao thể hiện những phẩm chất
tốt đẹp đó của con người Việt Nam và hướng họ vươn tới cái chân, thiện, mỹ
trong cuộc sống. Tiêu biểu như những câu ca dao: “Nhiễu điều phủ lấy giá
gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng/ Bầu ơi thương lấy bí
cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” [38, tr. 128].
Ca dao còn là tiếng hát nghĩa tình, tiếng hát yêu thương của con người.
Phong phú và đặc sắc nhất, giàu cung bậc nhất trong tình cảm của con người
là mảng ca dao giành cho tình yêu đôi lứa: “Đố ai quét sạch lá rừng/ Để anh
khuyên gió, gió đừng rung cây/ Rung cây, rung cỗi, rung cành/ Rung sao cho
chuyển lòng anh với nàng” [38, tr. 258].
Ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ đã kết hợp chặt chẽ chủ đề tình yêu
với chủ đề lao động, những nét sinh hoạt, những cảnh vật quen thuộc trong
đời sống hàng ngày của nhân dân. Sự kết hợp giữa các chủ đề đó làm cho ca
dao không chỉ phản ánh quan hệ nam nữ trong khuôn khổ tình cảm cá nhân,
mà còn có nội dung xã hội phong phú và tính tư tưởng cao. Ngoài ra, các chủ
đề trong ca dao rất phong phú và đa dạng. Trong ca dao, bên cạnh tiếng hát
ước mơ về một cuộc sống hạnh phúc, là những tiếng kêu đau khổ, xót xa về
những trắc trở, ngang trái trong tình yêu. Bên cạnh đó, một trong những bộ
phận quan trọng của ca dao là những nhận định về con người và về việc đời
như là sự tổng kết các kinh nghiệm, triết lý, quan niệm đạo đức, nhân cách, là
cách ứng xử, giao tiếp giữa người với người.
Ta thấy, trong ca dao Việt Nam, tư duy triết học hình thành từ sự thể
hiện tình cảm, thể hiện thế giới nội tâm bằng nghệ thuật của ngôn từ, bằng
hình tượng để tạo nên các triết lý sâu sắc. Bài ca dao “Tát nước đầu đình”:
10
Theo các tác giả Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn
trong “Văn học dân gian Việt Nam” (1998), do Nxb Giáo dục phát hành thì:
“Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có ý nghĩa hàm súc, do nhân dân lao
động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỷ” [26, tr. 244].
Theo M. Gorki, nghệ thuật ngôn ngữ sinh ra do quá trình lao động của
con người từ thời xưa, là xu hướng con người muốn đúc kết kinh nghiệm lao
động vào một hình thức ngôn ngữ dễ nhớ và bám chặt vào kí ức - những hình
thức thơ hai chữ, tục ngữ, truyền ngôn là những khẩu hiệu lao động thời cổ.
Cho nên, có thể khẳng định rằng tục ngữ có từ thời cổ. Đó là những lời ăn
tiếng nói của nhân dân nhằm đúc kết những kinh nghiệm, những điều quan sát
được, những chân lý thông thường trong quá trình lao động của nhân dân về
các hiện tượng tự nhiên, về lao động sản xuất, về quan hệ gia đình, về con
người và đời sống xã hội được lưu truyền qua nhiều thế kỉ. Nhân dân lao động
dùng tục ngữ để thể hiện thế giới quan và nhân sinh quan của mình. Tục ngữ
được sáng tạo ra trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu tổng kết và phổ biến kinh
nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử - xã hội của mỗi cộng đồng. Những
kinh nghiệm ấy được rút ra trong quá trình đấu tranh thiên nhiên và đấu tranh
xã hội, được trải nghiệm nhiều lần trong thực tiễn, đã trở thành những chân lý
có tính chất phổ biến, được toàn thể nhân dân lao động công nhận và sử dụng.
Tục ngữ vừa tổng kết những kinh nghiệm sống, vừa thể hiện lý tưởng sống
của nhân dân, biểu hiện trí tuệ của nhân dân trong việc nhận thức thế giới, xã
hội và con người. Tóm lại, có thể nói các câu tục ngữ là một quyển sách khôn,
một kho tàng kinh nghiệm và hiểu biết về vũ trụ và về nhân sinh, giúp cho
dân gian ta có được một tri thức thông thường để làm ăn và cư xử ở đời. Trí
khôn đó rất phong phú và đa dạng, được nhân dân vận dụng trong đời sống
sinh hoạt, giao tiếp cộng đồng và xã hội như lời ăn tiếng nói và khuyên răn,
bộc lộ một cách sâu sắc kinh nghiệm sống, lối sống, tư tưởng đạo đức, qua đó
12
Tục ngữ thể hiện chủ nghĩa nhân đạo chân chính của nhân dân lao
động, trước hết là tư tưởng đề cao con người và giá trị cao quý của con người,
xem con người là tinh hoa của trời đất: “Người ta là hoa đất” [38, tr. 99].
Biểu hiện thái độ đánh giá về lao động, cách xét đoán con người qua
lao động: “Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ” [38, tr. 59] phản ánh khá
phong phú những đức tính tốt đẹp của nhân dân lao động, thể hiện truyền
thống tư tưởng, đạo đức của nhân dân thông qua những nhận xét, suy ngẫm
hết sức sâu sắc về hiện thực. Tục ngữ là tấm gương phản ánh qua lời ăn tiếng
nói hàng ngày, mọi biểu hiện của đời sống dân tộc, quan niệm của nhân dân
về lao động, về các hiện tượng lịch sử, xã hội, về đạo đức, tôn giáo… đều
được phản ánh một cách chân thực.
Có thể khẳng định rằng, tục ngữ Việt Nam thể hiện tư duy triết học
phong phú của cha ông ta thông qua việc phân tích, nhận định và khái quát
các hiện tượng tự nhiên cũng như xã hội. Về cơ bản, tục ngữ Việt Nam có
những tính chất sau:
Thứ nhất, tục ngữ bao giờ cũng là kết quả của một quá trình nhận thức,
trải nghiệm của dân gian, đúc kết từ hiện thực để chỉ ra một tri thức đúng, nên
nó luôn hàm chứa giá trị thông tin mà con người truyền đạt cho nhau trong
hoạt động thực tiễn trên nhiều lĩnh vực.
Thứ hai, tục ngữ tồn tại dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc
tích, có vần điệu bằng lời ăn tiếng nói hàng ngày của dân gian nhằm diễn đạt
một tình cảm, quan niệm, thái độ trước hiện thực.
Thứ ba, nội dung của tục ngữ luôn mang tính khách quan, nói cách
khác nội dung mỗi câu tục ngữ do đối tượng nó phản ánh quy định.
Thứ tư, tư tưởng của tục ngữ thường phản ánh hiện thực một cách khái
quát, nên nó hàm chứa nhiều tầng ngữ nghĩa, cho phép con người áp dụng vào
cuộc sống một cách linh hoạt, sinh động, đầy tính thuyết phục.
15
dân lao động Việt Nam trong các giai đoạn lịch sử. Tuy nhiên, khi khẳng định
vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội, chủ nghĩa duy vật lịch
sử không xem ý thức xã hội như yếu tố thụ động, trái lại còn nhấn mạnh tác
dụng tích cực của ý thức xã hội đối với đời sống kinh tế xã hội, nhấn mạnh tính
độc lập tương đối của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội. Cũng tương tự như
thế, ca dao tục ngữ Việt Nam có vai trò quan trọng trong sự nghiệp dựng nước
và giữ nước của nhân dân ta từ xưa đến nay. Bằng sự truyền đạt những giá trị
tinh thần của mình, ca dao, tục ngữ đã giúp cho bao thế hệ người Việt Nam củng
cố lòng tự hào dân tộc, tiếp nối hoài bão, nối gót các thế hệ cha ông để khai thác
và làm giàu thêm di sản truyền thống của dân tộc.
Ca dao tục ngữ Việt Nam gắn bó chặt chẽ với đời sống sinh hoạt của
người dân lao động Việt Nam, là bức tranh toàn diện về cuộc sống lao động
và đời sống tinh thần của người bình dân. Tìm trong ca dao, tục ngữ chúng ta
thấy được môi trường sinh hoạt của ca dao, tục ngữ suy đến cùng là do những
điều kiện lịch sử - xã hội của đời sống nhân dân, do những hình thức sinh hoạt
vật chất và tinh thần của đời sống nhân dân quy định. Khi tìm hiểu bức tranh
sinh hoạt vật chất và tinh thần của đời sống xã hội, ta thấy trong bất kì hình
thái xã hội nào, sản xuất để dựng nước và chiến đấu để giữ nước là hai bánh
xe của lịch sử, đó là hai nhân tố không tách rời nhau của sự tồn tại và phát
triển của xã hội. Và ở bất kì nơi nào, trong thời đại lịch sử nào quần chúng
nhân dân cũng là người làm ra lịch sử. Chính cuộc sống sản xuất, chiến đấu
gắn chặt với quá trình dựng nước và giữ nước của cha ông ta đã vẽ nên bức
tranh sinh hoạt vật chất, tinh thần sinh động của con người Việt Nam qua bao
thế hệ. Văn học dân gian nói chung và ca dao, tục ngữ nói riêng đều xuất phát
trực tiếp từ lao động rồi lại trực tiếp phục vụ cho sản xuất và lao động của
nhân dân. Nói cách khác, ca dao tục ngữ nảy sinh và tồn tại như một bộ phận
mang tính truyền miệng.
17
Đặc trưng này của ca dao, tục ngữ cho thấy phương thức tồn tại của nó
là nói, hát, kể. Trong buổi đầu của lịch sử khi con người chưa có chữ viết,
chưa có sự phân công lao động để có người sáng tác và truyền bá thì rõ ràng
các tác phẩm nghệ thuật của văn học dân gian như ca dao, tục ngữ bao giờ
cũng lấy các cá nhân trong cộng đồng làm tác giả, và do đó, cộng đồng cũng
làm chức năng truyền bá bằng con đường truyền miệng. Nhưng không phải
bất kỳ sáng tác nào cũng được truyền miệng, mà chỉ có những tác phẩm thực
sự có giá trị mới được lưu truyền. Ở đây cho thấy sự truyền miệng của cha
ông ta cũng là sự sàng lọc và gọt dũa theo các cảm quan độc đáo của cả một
cộng đồng. Chính vì thế, bằng con đường này ca dao, tục ngữ đã đến với con
người một cách tự nhiên, dễ dàng, nó giải tỏa mọi tâm tư, tình cảm của con
người trong cuộc sống đời thường.
Từ các đặc trưng trên của ca dao, tục ngữ, trên phương diện triết học ta
thấy ca dao, tục ngữ là một hình thức đặc thù của sự phản ánh hiện thực. Điều
này có nghĩa là trên bình diện triết học, xét từ các đặc trưng đến tính chỉnh thể
của ca dao, tục ngữ đều thấy rằng nó là một bộ phận cơ bản, một nét chủ yếu
trong diện mạo tinh thần của đất nước ta. Và do vậy, xét đến cùng, ca dao tục
ngữ bao giờ cũng phản ánh hiện thực bằng “con mắt chung” của những người
lao động qua các thời đại, đó chính là nét đặc thù của hình thái tinh thần này.
Nhờ vậy mà ca dao, tục ngữ Việt Nam đã đóng góp một phần to lớn vào kho
tàng văn học dân gian Việt Nam, để văn học dân gian Việt Nam được coi như
“một kho bách khoa từ điển Việt Nam, kho tài liệu vô tận cho mọi ngành
khoa học xã hội Việt Nam”.
Có thể nói, ca dao, tục ngữ ra đời trên cơ sở của một lực lượng sản xuất
phát triển nhất định và một quan hệ sản xuất tương ứng với lực lượng sản xuất
thấy bức thiết phải giải thích xã hội, tìm hiểu xã hội và tỏ thái độ trong cuộc
đấu tranh xã hội ngày càng trở nên gay gắt. Đứng về mặt lịch sử của tư duy
mà nói thì ca dao, tục ngữ ra đời cũng còn là kết quả của trình độ khái quát
19
hóa và trừu tượng hóa tư duy của con người đã phát triển đến một trình độ
nhất định.
1.2.1. Điều kiện kinh tế - xã hội
Có rất nhiều nghiên cứu khác nhau về tình hình kinh tế xã hội ở Việt
Nam trong lịch sử, song cho đến nay, những nghiên cứu ấy vẫn chưa đi đến
thống nhất ở cách phân kì xã hội trong lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, khi cùng
bàn đến một kiểu phương thức sản xuất tiêu biểu nhất từng tồn tại nhiều nhất
trong nhiều giai đoạn lịch sử ở Việt Nam thì đó là phương thức sản xuất
phong kiến hay gọi là phương thức sản xuất châu Á - phương thức sản xuất
chủ đạo nhất trong nhiều giai đoạn lịch sử ở Việt Nam.
Trong lịch sử Việt Nam, phương thức sản xuất phong kiến cũng chưa
bao giờ phát triển đến trình độ điển hình. Bởi vì trên thực tế, ở các triều đại
trong lịch sử, bản thân phương thức sản xuất phong kiến luôn đứng trước hai
khuynh hướng. Một là, khuynh hướng cũng dựa trên chế độ sở hữu ruộng đất
tối cao của nhà nước để củng cố chế độ phong kiến tập quyền; hai là, khuynh
hướng dựa trên tư hữu ruộng đất dẫn đến chế độ phong kiến phân quyền cát
cứ. Tuy nhiên, nếu coi phương thức sản xuất chủ đạo trong lịch sử Việt Nam
dù là phương thức sản xuất phong kiến (tập quyền là chủ yếu và cả phân
quyền) hay là phương thức sản xuất châu Á nói chung, thì tất cả đều là một
kiểu phương thức sản xuất đan xen, trong đó cả phương thức sản xuất nô lệ,
thậm chí cả kiểu phương thức sản xuất tiền tư bản chủ nghĩa. Chính sự đan
xen ấy đã tạo nên một kiểu phương thức sản xuất phong kiến kiểu châu Á đặc
trưng trong lịch sử Việt Nam.
vua ban cấp cũng bị giảm sút theo. Ngược lại, ruộng tư ngày càng phát triển
và đến giữa thế kỷ XIX, diện tích ruộng tư đã vượt diện tích ruộng công, sự
phân phối địa tô phong kiến cũng có sự thay đổi tương ứng. Lúc này, đại bộ
phận địa tô chuyển vào tay giai cấp địa chủ tư hữu, nhà vua nhận được phần ít
hơn trước. Phần địa tô của bọn quan lại, vương hầu cũng bị giảm so với tổng thể.
21