Triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ thừa thiên huế - Pdf 95

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết số 03 - NQ/TW ngày 16/7/1998 của Ban chấp hành Trung
ương Đảng ( khóa VIII) đã chỉ rõ: Bên cạnh việc phát triển kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải: “Xây dựng và phát triển nền
văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hết sức coi trọng, bảo tồn, kế thừa
và phát huy những giá trị văn học truyền thống, văn hóa cách mạng, bao gồm
cả văn hóa vật thể và phi vật thể” [13, tr.24 -28]. Tinh thần của nghị quyết
tiếp tục được bổ sung và khẳng định trong kết luận của hội nghị lần thứ 10, số
03 - KL/TW ngày 20/7/2004 của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX:
“Trong quá trình mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế và giao lưu văn hóa, cùng
với việc tập trung xây dựng những giá trị mới của Việt Nam đương đại, cần
đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống của dân
tộc” [13, tr.150]. Như vậy, để thực hiện thành công công cuộc đổi mới toàn
diện đất nước trong giai đoạn hiện nay, chúng ta phải tiến hành đồng thời
nhiều phương pháp khác nhau. Trong đó, cần xuất phát từ truyền thống văn
hóa của dân tộc, một trong những nhân tố tạo nên truyền thống đó là kho tàng
văn học dân gian nói chung, ca dao, tục ngữ nói riêng đã được ông cha ta dày
công xây dựng và lưu giữ. Mặt khác cần kết hợp hài hòa tinh hoa văn hóa của
dân tộc với tinh hoa văn hóa nhân loại nhằm tạo nên những giá trị bền vững
về văn hóa cho nền văn minh của đất nước.
Trong tình hình hiện nay, văn học dân gian là nguồn tư liệu ít được khai
thác về mặt triết học vì nó được không ít người xem là loại văn phong không
uyên bác, có nhiều hạn chế, lạc hậu. Song, thật ra, trong thứ văn chương bình
dân ấy đã ẩn chứa những khái niệm trừu tượng mà ở đó, chúng ta có thể thấy
được năng lực tư duy, phán đoán, phân tích và nhận thức của con người về vũ
1
trụ và con người. Chính vì thế, văn học dân gian là đối tượng nghiên cứu của
nhiều ngành khoa học khác nhau. Nói như tác giả cuốn “Triết lý trong văn
hóa Phương Đông”, tại sao “ngày nay văn hóa dân gian đã trở thành một bộ
môn khoa học thì hà cớ gì chúng ta - những người làm triết học - lại cứ khư

Thiên - Huế, Huế. Tác giả đã trình bày những nội dung phản ánh của ca dao
Thừa Thiên - Huế về các vấn đề như: Ca dao về tình yêu quê hương đất nước,
ca dao về tình cảm đôi lứa, ca dao về quan hệ hôn nhân - gia đình, ca dao đối
đáp, trêu ghẹo và ca dao cổ động các phong trào cách mạng trong kháng chiến
chống Pháp và chống Mỹ.
Triều Nguyên (2000), “Tục ngữ Thừa Thiên - Huế”, Nhà xuất bản Sở
văn hóa thông tin, Hà Nội. Tác giả đã làm rõ nội dung phản ánh của tục ngữ
Thừa Thiên - Huế như: Tục ngữ phản ánh mối quan hệ giữa con người với tự
nhiên, tục ngữ phản ánh mối quan hệ giữa con người với gia đình và xã hội
Lê Văn Chưởng (2010), “Đặc khảo văn học dân gian Thừa Thiên Huế”,
Nhà xuất bản trẻ. Tác giả đã trình bày những nội dung của ca dao, tục ngữ
Thừa Thiên - Huế. Đối với tục ngữ; đó là những câu tục ngữ nói thiên nhiên,
về lao động sản xuất, về gia đình - xã hội và về đạo đức. Đối với ca dao; ca
dao nói đến quê hương non nước trữ tình, nói đến tình yêu đôi lứa qua hai giai
đoạn chào hỏi - làm quen và tỏ tình - kết duyên và ca dao nói về vấn đề hôn
nhân - gia đình.
Luận văn đã nghiên cứu liên quan đến đề tài này là: Lương Thị Lan Huệ
(2004), “Một số vấn đề triết học qua ca dao, tục ngữ Việt Nam”. Tác giả đã
trình bày một số tư tưởng triết học trong ca dao, tục ngữ người Việt như: Tư
tưởng triết học biểu hiện qua mối quan hệ giữa con người với thế giới tự
nhiên và mối quan hệ giữa con người đối với xã hội. Tác giả cũng đã rút ra
3
một số nhận xét về ca dao, tục ngữ Việt Nam, nêu ý nghĩa triết học của ca
dao, tục ngữ trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.
Những công trình nghiên cứu trên đã đi sâu và làm sáng tỏ những vấn đề
về ca dao, tục ngữ của Việt Nam nói chung cũng như của Thừa Thiên - Huế
nói riêng. Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc các nguồn tài liệu liên quan đến đề
tài, chúng tôi đi sâu nghiên cứu một khía cạnh cụ thể trong ca dao, tục ngữ đó
là triết lý nhân sinh ở địa bàn là tỉnh Thừa Thiên - Huế. Nội dung đề tài thể
hiện sự đan xen giữa tư tưởng triết học và văn học, vì vậy đối với chúng tôi

7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm có hai chương, 5 tiết.

5
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CA DAO TỤC NGỮ
1.1. Sự hình thành của ca dao, tục ngữ
Ca dao, tục ngữ là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành văn
học dân gian, là những viên ngọc quý, có giá trị về mặt trí tuệ, tình cảm và
nghệ thuật biểu hiện. Do đặc điểm nội dung và hình thức ngắn gọn, có vần, dễ
nhớ nên ca dao, tục ngữ luôn luôn được nhân dân vận dụng, truyền miệng qua
nhiều thế hệ. Chính vì vậy ca dao, tục ngữ luôn được trau chuốt mà vẫn giữ
được cái hồn, cái hình mặc dù có những thay đổi nhất định nào đó về ngôn từ
khi đến “cư trú” ở các địa phương khác nhau. Ca dao, tục ngữ vừa là một hiện
tượng ngôn ngữ, vừa là một hiện tượng thuộc về ý thức xã hội, luôn giữ vai
trò trong việc hình thành và phát triển tiếng nói của dân tộc, phản ánh sinh
hoạt, biểu hiện những nhận xét, những ý nghĩ của nhân dân trong cuộc đấu
tranh với các hiện tượng thiên nhiên bất lợi hoặc trong đấu tranh xã hội và
xây dựng đất nước.
1.1.1. Khái niệm, nội dung và hình thức nghệ thuật của ca dao, tục ngữ
1.1.1.1. Ca dao
Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt thì ca dao vốn là một thuật ngữ
Hán Việt, là lời của các bài hát dân ca đã được tách những tiếng đệm, tiếng láy
hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể chuyển thành các làn điệu dân ca.
Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam, tập 1, trang 303, Hà Nội, 1995, thì
“ca dao thường là những câu thơ, bài hát dân gian có ý nghĩa khái quát, phản
ánh đời sống, phong tục, đạo đức hoặc mang tính chất trữ tình, đặc biệt là tình
yêu nam nữ”.
Trong quá trình sáng tác của thơ ca dân gian, khái niệm ca dao được dùng

Cho mẹ gánh nước, rửa bành con voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà Triệu tướng, cưỡi voi đánh cồng
Túi gấm cho lẫn túi hồng
Têm trầu cánh kiến cho chồng đi quân
Hay nói lên lòng hăng hái đua nhau giết giặc của binh sĩ ta ở trận
Bạch Đằng:
Đánh giặc thì đánh giữa sông
Chớ đánh trong cạn, phải chông mà chìm
Những bài ca dao mang nội dung đấu tranh chống áp bức của chế độ
phong kiến, chống quân xâm lược, đã vạch trần những cái xấu, những tội ác
mà chế độ phong kiến đế quốc gây ra cho nhân dân ta, thể hiện lòng căm thù
sâu sắc của nhân dân, cùng những ý nghĩ, những lời nói oán hờn, căm giận, ấp
ủ lâu ngày đã biến thành hành động, những cuộc khởi nghĩa của nông dân đã
diễn ra.
Con vua thì lại làm vua
Con sãi ở chùa thì quyét lá đa
Bao giờ dân nổi can qua
Con vua thất thế lại ra quyét chùa
Cùng với những bài ca dao mang nội dung trên là những bài ca dao đấu
tranh chống lại các tệ nạn xã hội và các hiện tượng tiêu cực, cụ thể là đả kích,
chế giễu thói mê tín dị đoan, chống lại những hủ tục hôn nhân cùng những
thói hư tật xấu như: cờ bạc, rượu chè, nhác làm siêng ăn, tham lam, ích kỷ. Ở
đây ca dao đã thể hiện tính chiến đấu rất cao:
8
- Con ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan
- Của bụt mất một đền mười
Bụt vẫn còn cười bụt chửa lấy cho
Ca dao là tiếng hát trữ tình của con người. Đó là tiếng gọi của tình yêu,

thái, cung bậc của tình yêu, thể hiện quan niệm tự do trong yêu đương, tự do
hôn nhân. Những tình cảm thắm thiết trong hoàn cảnh may mắn hạnh phúc
với những niềm mơ ước, những nỗi nhớ nhung da diết hoặc cảm xúc nảy sinh
từ những rủi ro ngang trái, thất bại, khổ đau với những lời than thở oán trách,
nói lên tinh thần đấu tranh để bảo vệ tình yêu chân chính của những người
nông dân áo vải Việt Nam.
Ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ đã kết hợp chặt chẽ chủ đề tình yêu
với chủ đề lao động, những nét sinh hoạt, những cảnh vật quen thuộc trong
đời sống hằng ngày của nhân dân. Sự kết hợp giữa các chủ đề đó làm cho ca
dao không chỉ phản ánh quan hệ nam nữ trong khuôn khổ tình cảm cá nhân,
mà còn có nội dung xã hội phong phú và tính tư tưởng cao.
Trong xã hội cũ, tình yêu của nhân dân lao động được thể hiện bằng
những tình cảm tự nhiên, lành mạnh. Giai cấp thống trị và lễ giáo phong kiến
muốn bóp chết những tình cảm hồn nhiên và lành mạnh đó. Vì vậy, trong ca
dao bên cạnh tiếng hát ước mơ về một cuộc sống hạnh phúc, là những tiếng
kêu đau khổ, xót xa về những trắc trở trong tình yêu. Tình yêu tan vỡ do
nhiều nguyên nhân, có phần chủ quan do trai gái không hợp tính nết nhau
hoặc còn có sự ngập ngừng, e ngại, nhưng phần lớn là do những nguyên nhân
khách quan do xã hội phong kiến gây ra:
10
Trách ai tham phú tham bần
Tham xa mà bỏ nghĩa gần thuở xưa
Một bộ phận quan trọng của ca dao là nhận định về con người và về việc
đời như là sự tổng kết các kinh nghiệm, triết lý, quan niệm đạo đức, là cách
ứng xử của nhân dân. Ca dao thể hiện rất cô đọng cho nên có nhiều bài rất
ngắn, thậm chí chỉ một cặp lục bát mà vẫn nói lên sâu sắc về mặt cách sống
và hành động:
Rượu nhạt uống lắm cũng say
Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàn
Với tính cách là thơ theo ý nghĩa đầy đủ của thơ, ca dao đã vận dụng mọi

Thuyền ơi có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
1.1.1.2. Tục ngữ
Cũng theo từ điển Bách Khoa Việt Nam, tập 4, trang 676, Hà Nội, 2005,
thì tục ngữ là “một bộ phận của văn học dân gian, gồm những câu ngắn gọn, có
vần điệu, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống, đạo đức thực tiễn của người dân”.
Tục ngữ là lời ăn tiếng nói của nhân dân, đúc kết kinh nghiệm của nhân
dân về các hiện tượng tự nhiên, về lao động sản xuất, về quan hệ gia đình, về
con người và đời sống xã hội, được lưu truyền qua nhiều thế. Bằng những câu
nói ngắn, gọn, súc tích, tục ngữ diễn đạt rất hoàn hảo toàn bộ kinh nghiệm đời
sống, kinh nghiệm xã hội - lịch sử của nhân dân lao động. Những kinh
nghiệm ấy được rút ra trong quá trình đấu tranh thiên nhiên và đấu tranh xã
hội, được thể hiện nhiều lần trong thực tiễn, đã trở thành những chân lý có
tính chất phổ biến, được toàn thể nhân dân lao động công nhận và sử dụng.
Tục ngữ cung cấp cho ngôn ngữ bình dân cũng như ngôn ngữ bác học một
12
hình thức biểu hiện giàu hình ảnh và do đó có tác dụng truyền cảm và thuyết
phục mạnh mẽ, để nói lên những tư tưởng thăng trầm, những khái quát rộng
rãi. Những câu tục ngữ ngắn gọn ấy sẽ thay thế một cách có kết quả những lời
thuyết lý dài dòng và dễ quên. Tục ngữ là tri thức thông thường của nhân dân
lao động về tự nhiên và xã hội, biểu hiện trí tuệ của nhân dân trong việc nhận
thức thế giới, xã hội và con người, nên thường được ví von là “trí khôn dân
gian”. Trí khôn đó rất phong phú và đa dạng, được nhân dân vận dụng trong
đời sống sinh hoạt, giao tiếp cộng đồng và xã hội như lời ăn tiếng nói và
khuyên răn, bộc lộ một cách sâu sắc kinh nghiệm sống, lối sống, tư tưởng đạo
đức, qua đó thể hiện thái độ ứng xử và tình cảm của nhân dân đối với những
vấn đề của cuộc sống: “Tục ngữ diễn đạt rất hoàn hảo toàn bộ kinh nghiệm
sống, kinh nghiệm lịch sử xã hội của nhân dân lao động” [ 11, tr.229].
Về nội dung thì tục ngữ là những nhận định sau kinh nghiệm của con
người về cuộc sống trong gia đình, cuộc sống trong xã hội, phản ánh quá trình

- Sương sa hoa nở
- Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa
- Vẩy mại thì mưa, bối bừa thì nắng
- Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa
- Cầu vồng mống cụt, không lụt thì bão
- Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng bay vừa thì râm
Phần quan trọng của tục ngữ là nói về lịch sử - xã hội, những quan niệm
nhân sinh, tư tưởng chính trị và xã hội. Thí dụ một số câu tục ngữ ghi lại một
vài ký ức về thời kỳ lịch sử xa xưa của dân tộc ta:
14
- Ăn lông ở lỗ
- Con dại cái mang
- Năm cha ba mẹ
- Chồng chung vợ chạ
Một số hiện tượng và nhân vật lịch sử cá biệt, một số biến đổi về kinh tế,
chính trị ảnh hưởng đến đời sống nhân dân, cũng được ghi lại trong một số câu
tục ngữ:
- Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi
- Thời vua Thái Tổ, Thái Tông, con dắt, con bồng, con bế, con mang
- Một nhà hai chủ không hòa, hai vua một nước ắt là không yên
Tục ngữ phản ánh những tập tục sinh hoạt hằng ngày về mọi mặt như ăn,
ở, mặc, giao tế, cưới xin, ma chay, hội hè, sinh hoạt tôn giáo:
- Tương cà gia bản
- Lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng nam
- Áo rách thay vai, quần rách đổi ống
- Miếng trầu là đầu câu chuyện
- Cưới vợ không cheo như néo không mấu
- Cha đưa mẹ đón
- Sợ ông thần phải nể cây đa
- Lệnh làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào, làng ấy thờ

- Chớ thấy sóng cả mà ngả tay chèo
- Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ
- Tốt danh hơn lành áo
- Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
- Cái nết đánh chết cái đẹp
16
Nhiều câu tục ngữ phản ánh những nhận thức có tính chất duy vật của
nhân dân về sự tồn tại khách quan của thế giới:
Còn da lông mọc, còn chồi lên cây
Về những mặt đối lập trong các sự vật và hiện tượng tự nhiên và xã hội:
- Được mùa cau, đau mùa lúa
- Được lòng ta xót xa lòng người
Về mối quan hệ nhân quả giữa các sự vật, hiện tượng:
Rau nào, sâu ấy
Về quy luật phát triển biện chứng của thế giới khách quan:
Cái sẩy nẩy cái vung
Từ những nội dung phản ánh trên của tục ngữ, chúng ta có thể thấy rằng
tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn. Sự hình thành của tục ngữ có
thể quy vào ba nguồn chính: Một bộ phận được hình thành trong đời sống của
nhân dân. Một bộ phận khác rút ra, tách ra từ những sáng tác của các thể loại
văn học dân gian (ca dao, truyện cổ tích, câu đố). Và một bộ phận những câu
tục ngữ hình thành từ các tác phẩm văn học, các sáng tác của các nhà văn, nhà
thơ, những lời phát biểu, phán đoán của các nhà triết gia.
Trong ba nguồn hình thành nói trên, nguồn chủ yếu là từ thực tiễn đời
sống của nhân dân, vì vậy tục ngữ là “tấm gương phản ánh đời sống xã hội và
tự nhiên”.
Tục ngữ nói chung được đúc kết lại thành lời nói dễ nhớ, mang tính chất
bền vững. Tính chất bền vững của tục ngữ biểu hiện ra cả về mặt nội dung
cũng như về mặt hình thức. Đa số tục ngữ đều có 1 vế, chứa 1 phán đoán,
nhưng cũng có thể gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán. Mỗi câu tục ngữ đều

- Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau
18
Thường được nhân dân sử dụng như những câu tục ngữ, đồng thời do
nội dung cô đọng, hàm súc, nhiều câu ca dao chủ yếu là những câu ca dao
nhận định về con người và việc đời lại được dùng như tục ngữ:
- Hơn nhau tấm áo, manh quần
Đến khi cởi trần ai cũng như ai
- Đem cực mà đổ lên non
Còng lưng mà chạy cực còn theo sau
Tuy nhiên, nếu nội dung tục ngữ là một phán đoán, thiên về lý trí, đúc
kết kinh nghiệm về cuộc sống thì nội dung ca dao lại là tâm tình là suy nghĩ
của con người trước mọi điều diễn ra xung quanh cuộc sống; trước mối quan
hệ giữa con người với tự nhiên, giữa con người với con người, thì ca dao
thiên về tình cảm. Ca dao là một thể loại đã thể hiện được hết cái hay, cái đẹp
của ngôn ngữ văn học dân gian. Nếu tục ngữ thường dừng lại ở nhận thức
hiện thực khách quan, nhận thức “cái vốn có” thì ca dao tiến thêm một bước
rất quan trọng là bộc lộ nguyện vọng của nhân dân đối với việc cải tạo hiện
thực, đề xuất ra “cái nên có”, giúp nhận thức cuộc sống và xây dựng lý tưởng
về cuộc sống, do đó tục ngữ mang tính khách quan nhiều hơn, còn ca dao
mang tính chủ quan.
Như vậy, cả ca dao và tục ngữ đều có giá trị nhất định về mặt trí tuệ, tình
cảm và nghệ thuật biểu hiện, và do có đặc điểm về nội dung và hình thức nhất
định cho nên chúng luôn giữ được cái hồn, cái hình, được lưu truyền qua
nhiều thế hệ. Thông qua việc sáng tác ca dao và tục ngữ, nhân dân đã góp
phần đưa ngôn ngữ văn học đến trình độ nghệ thuật cao, vận dụng mọi khả
năng về ngôn ngữ của dân tộc để biểu hiện một cách chính xác, tinh tế cuộc
sống và hơn nữa để biểu hiện một cách sinh động và đầy hình tượng nguyện
vọng của nhân dân về cuộc sống ấy. Đối với các nhà văn, nhà thơ, ca dao, tục
ngữ vừa là nguồn tài liệu quý báu, vừa là nguồn sống gián tiếp. Vì vậy, việc
19

sân bay Phú Bài nằm trên trục quốc lộ. Hệ thống sông ngòi chằng chịt gồm các
sông như sông Hương, sông Bồ, sông Ô Lâu, sông Truồi.
* Địa hình: Tỉnh Thừa Thiên - Huế nằm trên dải đất hẹp với chiều dài 127
km, chiều rộng trung bình 60 km với đầy đủ các dạng địa hình rừng núi, gò đồi,
đồng bằng duyên hải, đầm phá và biển, địa hình thấp dần từ Tây sang Đông,
phức tạp và bị chia cắt mạnh, phần phía Tây của tỉnh chủ yếu là núi đồi, chiếm
70% diện tích đất tự nhiên, các đỉnh núi có độ cao từ 800 đến hơn 1.000m,
20
trong đó có núi Bạch Mã và Hải Vân là những địa danh du lịch nổi tiếng, địa
hình phần đồi chủ yếu phân bố ở vùng trung du, trong các thung lũng, chiếm
khoảng 1/4 diện tích tự nhiên, độ cao phần lớn dưới 500m, có đặc điểm chủ
yếu là đỉnh rộng, sườn thoải, các lưu vực sông tạo nên các bồn địa trũng, đồng
bằng ven biển nhỏ hẹp và vùng đầm phá có diện tích 22.000 ha, vùng đồng
bằng và trung du có 129.620 ha, chiếm 25,6% đất tự nhiên.
* Khí hậu: Tỉnh Thừa Thiên - Huế nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa,
mang tính chất chuyển tiếp từ á xích đới lên nội chí tuyến gió mùa, chịu ảnh
hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam nước ta.
Thời tiết chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa trùng với mùa bão, bắt đầu từ
tháng 8 đến tháng 11 có lượng mưa trung bình từ 2.500 - 2.700mm. Mùa khô
kéo dài từ tháng 3 đến tháng 7, mưa ít, lượng nước bốc hơi lớn, thường có
mưa giông. Nhiệt độ trung bình hằng năm là 24
0
C, số giờ nắng trung bình là
2.000 giờ/năm, độ ẩm trung bình 84%, số lượng bão khá nhiều, thường bắt
đầu vào tháng 6, nhiều nhất vào tháng 9 đến tháng 11.
* Môi trường thiên nhiên: Tỉnh Thừa Thiên - Huế là một vùng có môi
trường thiên nhiên phong phú, đa dạng, bên cạnh có nhiều núi cao như núi
Truồi, Bạch Mã, Lăng Cô và nhiều núi đồi khác như Ngự Bình, Ngọc Trản,
Thiên Thai, Long Thọ, Thiên Mụ, Thúy Vân, Linh Thái, còn có nhiều đèo
như đèo Phước Tượng, Phú Gia và tiêu biểu nhất là đèo Hải Vân. Thừa Thiên

nhiều nét đặc thù. Sau khi vua Chế Mân mất, người Chăm thường xuyên quấy
rối Thuận Hóa, chủ yếu là Hóa Châu. Đến năm 1983 trở đi thì Thuận Hóa
mới dần dần ổn định. Dưới thời Hậu Trần (1413) Hóa Châu bị nhà Minh
chiếm, nhân dân vùng này kiên quyêt chống giặc Minh. Thời kỳ đầu nhà Lê,
Chiêm Thành thường xuyên quấy phá Hóa Châu, đến khi Lê Thánh Tông đem
quân đánh ChiêmThành, Thuận Hóa mới ổn định. Trong địa bàn của Thuận
Hóa có 3 huyện của Hóa Châu (Thừa Thiên - Huế) là Đan Điền (Quảng
22
Điền), Kim Trà (Hương Trà) và Tư Vinh (Phú Vang).
Thời hậu Lê kéo dài hơn 250 năm (1527 - 1788) nhưng các vua Lê
không nắm quyền hành, mà mọi việc tập trung trong tay chúa Nguyễn và chúa
Trịnh. Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa và trấn Quảng
Nam, gọi chung là Thuận Quảng. Ông dựng dinh ở Ái Tử (Quảng Trị). Đến
thời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613 - 1635), dinh dời về làng Phước
Yên (huyện Quảng Điền), chúa Nguyễn Phúc Lan lên nối ngôi (năm 1635),
dinh dời đến xã Kim Long (huyện Hương Trà), chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 -
1687), chúa Nguyễn Phúc Thái (1687 - 1691), dinh dời về Phú Xuân, chúa
Nguyễn Phúc Khoát (1739 - 1765), đổi dinh làm đô thành và sang thời chúa
Nguyễn Phúc Thuần (1765 - 1777), họ Trịnh chiếm Thuận Hóa. Năm 1786,
Tây Sơn Nguyễn Huệ đánh đuổi họ Trịnh, chiếm lại Thuận Hóa, đến năm
1787, Nguyễn Huệ làm lễ đăng quang ở núi Bân (Hóa Châu), rồi hành quân ra
Bắc đánh đuổi quân Thanh, sau đó trở về Phú Xuân. Năm 1801, Nguyễn Phúc
Ánh đánh đuổi quân Tây Sơn, chiếm giữ Phú Xuân. Từ năm Nguyễn Hoàng
vào trấn thủ, trải qua các đời chúa có công mở cõi về Phương Nam, đánh đuổi
thù trong giặc ngoài xây dựng phát triển Hóa Châu và Thuận Hóa nói chung.
Từ năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, đóng đô ở Phú Xuân,
trong giai đoạn này có sự biến đổi về địa giới, và có nhiều biến cố lịch sử
trọng đại xảy ra. Từ Hóa Châu của xứ sở Thuận Hóa đã trở thành một tỉnh
biệt lập, từ một vùng đất hoang sơ núi rừng hiểm trở đã hình thành một quê
hương non nước trữ tình, đồng thời từ một xứ sở Thừa Thiên gắn với vận

Lộc. Theo địa bạ triều Nguyễn, giai đoạn sau này Thừa Thiên - Huế có 6
huyện, 31 tổng, 475 làng. Sau năm 1975, Thừa Thiên - Huế có một thành phố
và 8 huyện, ngoài 6 huyện cũ còn có hai huyện miền núi là Nam Đông và A
Lưới. Tại 2 huyện này, ngoài người Kinh còn có những tộc người thiếu số
24
như Bru-Vân Kiều, Tà-Ôi, Cờ-Tu thuộc ngữ hệ Môn-khmer.
Như vậy, trong quá trình hình thành và phát triển, Thừa Thiên - Huế có
bước thăng trầm của lịch sử. Thừa Thiên - Huế là nơi đặt thủ phủ của đất
Đằng Trong, đến thời Gia Long (1802), là kinh đô của Việt Nam kéo dài cho
đến năm 1945 thì trở thành cố đô. Sau 1975, tên gọi Thừa Thiên - Huế ra đời.
Cư dân và các tổ chức cộng đồng tăng trưởng như góp phần vào sự phong phú
của văn học dân gian Thừa Thiên - Huế. Từ thời Nguyễn xây dựng kinh đô
trở đi, văn hóa Huế phát triển song song với hiện tượng đa dạng và phong phú
của văn học dân gian Thừa Thiên - Huế, từng bước đi lên vững chắc, trở
thành một địa phương có nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tiêu biểu,
trở thành biểu tượng hàm chứa trong văn hóa và văn học dân gian, trong đó
nổi bật là ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế.
1.2.2. Ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế - tấm gương phản chiếu đời
sống kinh tế - xã hội của Thừa Thiên - Huế
Ca dao, tục ngữ là một bộ phận hợp thành của hình thái ý thức xã hội
văn học nghệ thuật. Theo quan điểm của triết học Mác, ý thức xã hội phản
ánh tồn tại xã hội, vì ý thức xã hội có nguồn gốc từ tồn tại xã hội. Ca dao, tục
ngữ Thừa Thiên - Huế là tấm gương phản chiếu đời sống kinh tế - xã hội và
các quan hệ xã hội của quần chúng nhân dân lao động Thừa Thiên - Huế trong
những giai đoạn lịch sử khác nhau. Có thể thấy các nội dung phản ánh chủ
yếu của ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế về các điểm chủ yếu sau đây:
1.2.2.1. Về quê hương đất nước
Quê hương đất nước là một đề tài phổ biến trong ca dao, tục ngữ Thừa
Thiên - Huế. Nói đến quê hương đất nước, ca dao, tục ngữ Thừa Thiên - Huế
không chỉ miêu tả, giới thiệu, mà còn gắn vào đó một tình cảm thiêng liêng,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status