Phân tích nội dung của thuyết “Phòng ngừa tội phạm từ quan điểm của Tâm lý học hành - Pdf 34

Mục lục
A. Đặt vấn đề…………………………………………………………………..1
B. Giải quyết vấn đề…………………………………………………………...1
I.
Khái quát về phòng ngừa tội phạm………………………………………1
1. Khái niệm về phòng ngừa tội phạm…………………………...……..1
2. Khái niệm phòng ngừa tội phạm dưới góc độ tâm lý học……..……1
II.
Phòng ngừa tội phạm từ quan điểm của tâm lý học hành vi………..…..2
III. Bài học thực tiễn…………………………………………………………6
1. Phải chú trọng đặc biệt đến môi trường xã hội…………………...….6
2. Chú trọng đến việc hình thành thói quên tuân theo pháp luật……...7
3. Phải kiểm soát chặt chẽ các tình huống giáo dục…………………....8
4. Tránh xa các tình huống dễ gây cảm xúc…………………………....8
C. Kết luận……………………………………………………………………..9
Danh mục tài liệu tham khảo………………………………………………..10

A. Đặt vấn đề:
Phương châm rất quan trọng trong đường lối xử lý của Nhà nước ta là lấy
giáo dục, phòng ngừa là chính, phòng ngừa tốt cũng chính là chống tội phạm tốt.
Yêu cầu là phải ngăn chặn và phòng ngừa tội phạm ngay từ đầu làm cho tội phạm
1


ít xảy ra hơn và tiến tới không xảy ra tội phạm, và để việc chống tội phạm, xử lý
tội phạm chỉ là hãn hữu, là việc làm bất đắc dĩ. Thuyết "Phòng ngừa tội phạm từ
quan điểm của Tâm lý học hành vi" là một trong những học thuyết góp phần không
nhỏ vào sự phát triển của vấn đề này. Trong phạm vi bài viết, em xin đi Phân tích
nội dung của thuyết “Phòng ngừa tội phạm từ quan điểm của Tâm lý học hành
vi”. Rút ra bài học thực tiễn.
B. Giải quyết vấn đề

kiện hoá kinh điển của Ivan Pavlov; điều kiện hoá thao tác của E.Thorndike và
việc phát triển hai học thuyết này thành thuyết hành vi cổ điển (John B. Watson) và
thuyết hành vi mới (B.F. Skinner, A.Bardura).
Ivan Pavlov (1849 - 1936)1 qua thực nghiệm với con chó đói đã chứng minh
học thuyết điều kiện hoá kinh điển. Điều kiện hoá kinh điển là một hình thức của
học tập, trong đó một kích thích trung gian (kích thích không tạo ra phản ứng) đi
cặp đôi với một kích thích có điều kiện (kích thích có tạo ra phản ứng) liên tục.
Theo Pavlov, các mối liên kết tạm thời được hình thành bởi các phản xạ có điều
kiện chính là các liên tưởng – cơ sở của hoạt động tâm lý2.
Người ứng dụng thành công những nghiên cứu của Pavlov trong tâm lý học là
J.B.Watson (1878-1958), cha đẻ của Tâm lý học hành vi cổ điển. Watson đã phát
triển học thuyết phản xạ có điều kiện vào nghiên cứu hành vi và sáng lập ra trường
phái hành vi trong tâm lý học (1913). Ông nhấn mạnh đến những hành vi được
nghiên cứu một cách khách quan (những kích thích, đáp ứng, củng cố được quan
sát một cách trực tiếp), bác bỏ, coi thường sự hiện hữu và vai trò của các sự kiện
tinh thần như ý thức, suy nghĩ, tưởng tưởng … Tuy nhiên, quan điểm cực đoan này
của Watson bị nhiều nhà tâm lý học phản đối. Họ phát triển quan điểm coi nội
dung cơ bản của tâm lý học là hành vi bên ngoài nhưng không phủ nhận tầm quan
1 />2 B.R.Hergenhahn, Nhập môn lịch sử tâm lý học, NXB Thống kê, trang 467.

3


trọng của các sự kiện tinh thần trong phân tích hành vi, tạo nên trường phái hành vi
mới.
Edward L. Thorndike (1874 – 1949) – nhà tâm lý học Mỹ - độc lập nghiên
cứu và cùng đưa ra những phát minh tương tự với phản xạ có điều kiện của Pavlov
– nguyên tắc luyện tập nổi tiếng “làm thử và sửa sai”. Thorndike cho rằng nền tảng
của việc học tập là sự hình thành mối liên hệ giữa đầu vào cảm giác và sự thúc đẩy
hành động. Theo ông, hành vi được kiểm soát bởi hậu quả của nó.

(A). Tác nhân kích thích ban đầu là những sự kiện xảy ra hoặc có mặt trước khi
hành vi phạm tội B diễn ra, chúng tạo ra những điều kiện cần và đủ cho hành vi
phạm tội xảy ra.
(C). Hậu quả là những sự kiện xảy ra sau và như là kết quả của một việc thực hiện
hành vi.phạm tội. Hậu quả có thể xảy ra ngay hoặc một thời gian sau mới xảy ra và
ảnh hưởng đến khả năng suất hiện lại của hành vi này trong tương lai. Mặc dù có
rất nhiều sự kiện xảy ra trước và theo sau mọi hành vi nhưng chỉ có một số rất ít có
5


ảnh hưởng đáng kể trực tiếp như là những nhân tố đang duy trì sự có mặt của hành
vi. Hơn nữa tác nhân kích thích khởi đầu và hậu quả duy trì sự có mặt của hành vi
theo những cách khác nhau. Hậu quả thực tế của một hành vi có thể ảnh hưởng
trực tiếp đến tương lai, liệu hành vi đó có xảy ra nữa hay không? Hậu quả mong
muốn cũng có thể là kích thích khởi động ảnh hưởng đến việc liệu một người sẽ
“cam kết” thực hiện hành vi vào lúc đó. Dự đoán về hậu quả có thể có cũng là một
nhân tố xác định liệu những điều kiện “cần và đủ” này có đúng cho việc thực hiện
hành vi hay không.
Theo quan điểm của tâm lý học hành vi thì bản chất và hành vi phạm tội của
con người do môi trường, đặc biệt là môi trường xã hội quyết định. Hầu hết các
hành vi của con người là do tập nhiễm. Việc con người thực hiện hành vi phạm tội
là do sự kích thích của môi trường chứ không phải do ý thức bên trong.
• Qua những phân tích trên, ta thấy một số ý nghĩa của Tâm lý học hành vi
đối với nghiên cứu và phòng ngừa tội phạm:
Trường phái hành vi đã đem lại cho tâm lý học nói chung và tâm lý học xã
hội nói riêng một hướng đi mới, tập trung vào nghiên cứu các hành vi xã hội,
chứng minh rằng chúng có thể nhận biết và điều khiển được. Tuy nhiên, những
nguyên tắc của trường phái hành vi gây trở ngại lớn cho việc nghiên cứu các hiện
tượng tâm lý xã hội khi hoàn toàn bỏ qua các nghiên cứu về các quá trình hoạt
động và phát triển của nhóm. Chính khái niệm nhóm trong trường phái hành vi chỉ

này đã nhiễm phải cái xấu, cái tiêu cực nên với một hoàn cảnh, tình huống nhất
định như cần tìền số lượng lớn để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, họ sẽ không nghĩ tới
những công việc lương thiện để kiếm tiền mà do nhận thức kém cùng những tiêu
cực sẵn có, họ sẽ bắt đầu hình thành hành vi phạm tội. Trong hoàn cảnh bên ngoài
thôi thúc, môi trường xung quanh là môi trường nhiều tệ nạn thì hành vi mang tính
trái pháp luật cũng tác động tới việc quyết định hành vi phạm tội của con người nơi
đó.
2. Chú trọng đến việc hình thành thói quen tuân theo pháp luật
7


- Việc hình thành thói quen tuân theo pháp luật thông qua một tác động làm mẫu.
Tác động làm mẫu xảy ra trong tình huống một người đạt được những mẫu hình
phản ứng mới thông qua quan sát việc thực hiện tốt các đáp ứng mới của mẫu.
Trong trường hợp này, người quan sát sẽ theo dõi mẫu một mẫu hình đáp ứng nhất
định và rồi thể hiện mẫu hình đáp ứng đó khi bị đặt vào trường hành vi tương tự.
Việc kết hợp và móc nối các đáp ứng phù hợp chắc chắn đã xảy ra qua các quá
trình dàn xếp trung gian mang tính biểu tượng và do đó hành vi đã được học mà
“không có thử nghiệm”. Điều này có nghĩa là nếu một người thường xuyên quan
sát những người xung quanh mình có những hành vi tuân theo pháp luật thì khi đặt
mình vào những trường hợp tương tự, người đó có xu hướng thực hiện những hành
vi mà những người xung quanh mình đã thực hiện, dẫn đến họ cũng tuân theo pháp
luật, từ đó tình trạng phạm tội cũng ít hơn. Chính vì vậy, việc hình thành những
thói quen tuân theo pháp luật ngay từ nhỏ là rất quan trọng.
- Việc hình thành các thói quen tuân theo pháp luật có tác động kiềm chế và làm
mất đi phản xạ có điều kiện. Các nhà tâm lý học hành vi đã chứng minh rằng khi
một người mẫu ngang hàng tiến hành hành vi gây hấn mà không có hậu quả tiêu
cực thì nó sẽ làm tăng khả năng người quan sát cũng sẽ tiến hành những hành vi
gây hấn bị cấm đoán tương tự khi bị đặt trong cùng một trường hành vi. Như vậy,
khi một người quan sát chứng kiến một người khác phải chịu đựng hình phạt vì đã

Nguyên nhân chủ yếu của những vụ giết người này chỉ bắt nguồn từ mâu thuẫn
trong sinh hoạt, đôi khi rất nhỏ nhặt (vụ em rể đặt thuốc nổ vào xe máy khiến chị
dâu thiệt mạng ở Bắc Ninh gần đây là một dẫn chứng đau lòng). Con số này cũng
chỉ ra những bất cập trong một số kỹ năng sống của người phạm tội, như thiếu tự
tin, khả năng kiềm chế, tự chủ kém, trong khi về xúc cảm thường có cường độ
mạnh, nhưng dễ thay đổi; tính hay phô trương, bốc đồng nổi trội trong khi nhu cầu
nhận thức nghèo nàn...
Tâm lý con người luôn diễn biến tùy vào những tình huống cụ thể mà mỗi cá nhân
gặp phải trong cuộc sống. Ðiều quan trọng là mỗi người biết kiềm chế những biểu
9


hiện không lành mạnh để hành động tích cực thắng thế. Nhưng, dường như định
hướng giáo dục còn thiếu chú trọng bồi đắp những kỹ năng tự suy xét và đánh giá,
cũng như khả năng tự kiềm chế những biểu hiện không mong muốn trong tính cách
mỗi người. Trong khi đó, một số nét tính cách được xem là mang tính "truyền
thống" như sĩ diện, nhiều khi chỉ là "sĩ diện hão" vẫn còn phổ biến và làm sai lệch
đi giá trị đích thực của lòng tự trọng. Sự thiếu hụt những kỹ năng nêu trên và
những phẩm chất cần thiết dễ làm cho con người có hành vi bột phát không kiểm
soát được khi ở vào tình huống căng thẳng.

C. Kết luận
Thuyết phòng ngừa tội phạm theo quan điểm của Tâm lý học hành vi tuy đã
ra đời từ lâu và có những hạn chế nhất định nhưng những đóng góp của nó đối với
công tác phòng ngừa tội phạm hiện nay là không thể phủ nhận. Tâm lý học hành vi
cùng với những thuyết khác về phòng ngừa tội phạm của Phân tâm học, Tâm lý
học hoạt động, Tâm lý học nhân thức... là những nền móng đầu tiên cho quá trình
nghiên cứu và phát triển vấn đề phòng ngừa tội phạm.

Danh mục tài liệu tham khảo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status