TRƢỜNG ĐÀO TẠO CÁN BỘ LÊ HỒNG PHONG
LỚP BỒI DƢỠNG NGẠCH CHUYÊN VIÊN K4A-2015
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
XỬ LÝ TÌNH HUỐNG YÊU CẦU
THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI
Họ và tên
: Hoàng Thái Tân
Chức vụ
: Chuyên viên
Đơn vị công tác
: Văn phòng Sở Tài chính Hà Nội
Hà Nội, tháng 11 - 2015
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo, Phòng đào tạo, Quý thầy cô giáo của
Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong thành phố Hà nội đã tận tình giúp đỡ và
tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập tại trường và đặc biệt là
trong thời gian tôi thực hiện tiểu luận tình huống này.
Hơn hết, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy chủ
nhiệm lớp Bồi dưỡng ngạch chuyên viên K4A-2015, các thầy cô giáo giảng dạy
Bảo hiểm xã hội là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, là sự bảo đảm
thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc
mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất
nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết trên cơ sở đóng và được thụ hưởng. Chính vì
đây là một chính sách mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, đảm bảo an sinh xã hội
nên Đảng và Nhà nước ta đã hết sức quan tâm thực hiện ngay từ những ngày
đầu thành lập.
Trong những năm qua, ngành Bảo hiểm xã hội đã đạt được nhiều thành
tựu quan trọng góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho cán bộ, công chức, quân
nhân và người lao động, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự
nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc. Hoạt động hệ thống Bảo hiểm xã hội
Việt Nam từng bước được củng cố, hoàn thiện và không ngừng phát triển. Công
tác thu, chi, quản lý Quỹ Bảo hiểm xã hội và giải quyết chế độ chính sách
BHXH cho các đối tượng theo Luật định đã đi vào nề nếp tạo điều kiện thuận lợi
cho những người tham gia và hưởng các chế độ Bảo hiểm xã hội.
Đặc biệt, việc thực hiện cải cách hành chính theo qui trình giao dịch một
cửa, chuyển đối tác phong làm việc hành chính sang tác phong phục vụ thực sự
đã đem lại những chuyển biến tích cực trong việc giải quyết các chế độ BHXH
cho người lao động. Hệ thống BHXH đi vào hoạt động theo một thể thống nhất ,
các chế độ BHXH đến với người lao động tham gia và thụ hưởng thuận lợi hơn
rất nhiều. Các chế độ được giải quyết nhanh hơn, kịp thời hơn giúp cho các chủ
sử dụng lao động và người lao động an tâm đầu tư lao động sản xuất.
Tuy nhiên, trên thực tế trong quá trình thực hiện chính sách Bảo hiểm xã
hội vẫn còn nhiều tồn tại và bất cập. Trong đó, vấn đề quan trọng là chế độ Bảo
hiểm xã hội của người lao động chưa được giải quyết thoả đáng dẫn đến khiếu
nại, khiếu kiện kéo dài.
1
đó:
Ông tên là Nguyễn Văn Tuân trú quán tại Thôn 2, xã C, huyện X, Tỉnh T
có con trai tên là Nguyễn Văn Thành sinh ngày 20/7/1982 là công nhân Công ty
M.
Công nhân Nguyễn Văn Thành có thời gian tham gia BHXH như sau:
- Từ tháng 01/2005 đến tháng 12/2006 hệ số lương: 1,67 + 0,4 phụ cấp
khu vực;
- Từ tháng 01/2007 đến tháng 3/2008 hệ số lương: 1,67 (Từ tháng 1/2007
BHXH không đóng phụ cấp khu vực)
Theo lời kể của ông Tuân thì tháng 4/2008 anh Nguyễn Văn Thành chưa
thực sự nghỉ việc tại Công ty M, đến sáng ngày 27/4/2008 (ngày chủ nhật) trên
đường lên Công ty để sáng thứ 2 làm việc thì anh đã bị tai nạn giao thông và
chết vào lúc 7h sáng 27/4/2008. Gia đình đã gọi điện báo cho Công ty M và
Công ty đã hỗ trợ cho gia đình một phần tiền để gia đình lo mai táng cho anh
Nguyễn Văn Thành.
Đến tháng 7/2009 vừa qua, gia đình nhận được thông báo của Công ty M
lên trực tiếp công ty để làm thủ tục giải quyết chế độ cho anh Thành. Ông Tuân
một mình lặn lội gần 100 km lên tận Công ty con trai làm việc thì được cán bộ
phòng tổ chức đưa ra một bản quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với anh
3
Nguyễn Văn Thành của Công ty M từ ngày 02/4/2008 và hướng dẫn làm đơn đề
nghị hưởng trợ cấp một lần. Do không hiểu biết về chính sách BHXH nên ông
quay về làm đơn xin xác nhận của chính quyền địa phương và ông đã thay mặt
con trai ký tên vào mục người làm đơn. Sau đó, ông Tuân lại trở lại Công ty M
để nộp đơn. Vừa qua, tháng 8/2009 gia đình ông Tuân nhận được thông báo của
Công ty M mời gia đình lên nhận lại các thủ tục hồ sơ trong đó có sổ BHXH,
quyết định hưởng trợ cấp một lần, bản quá trình tham gia BHXH và hướng dẫn
gia đình trực tiếp cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện X để nhận tiền trợ cấp một lần
để sách nhiễu nhân dân hoặc do trình độ chuyên môn thấp kém, thiếu tinh thần
trách nhiệm, thiếu hiểu biết về chính sách của Nhà nước dẫn đến ảnh hưởng
quyền lợi của người dân, thiếu công bằng xã hội, nhân dân mất lòng tin vào
chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Bảo hiểm xã hội là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Nhà nước tham
gia Bảo hiểm xã hội với tư cách là người bảo hộ cho người lao động. Sự bảo hộ
của Nhà nước thể hiện ở việc đề ra chính sách Bảo hiểm xã hội tác động và điều
tiết các hoạt động Bảo hiểm xã hội đưa bảo hiểm xã hội vào quỹ đạo chung của
chính sách kinh tế xã hội.
Tại Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng Sản
Việt Nam, với quan điểm chỉ đạo của Đảng tiếp tục hoàn chỉnh thể chế thị
trường lao động, bảo đảm hài hoà lợi ích của người lao động và người sử dụng
lao động. Đổi mới hệ thống bảo hiểm xã hội, đa dạng hoá hình thức bảo hiểm và
phù hợp với kinh tế thị trường; xây dựng chế độ bảo hiểm thất nghiệp, thực hiện
tốt chế độ bảo hộ lao động, an toàn lao động và vệ sinh lao động. Để tăng cường
lãnh đạo thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội theo luật định cần phát huy vai
trò lãnh đạo của tổ chức Đảng ở các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước,
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong việc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã
hội đối với người lao động, trọng tâm là thu nộp bảo hiểm xã hội, bảo đảm
nguyên tắc có tham gia thì mới hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội. Đồng thời,
chỉ đạo thực hiện tốt công tác giải quyết chế độ chính sách cho người lao động,
5
đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người tham gia bảo hiểm xã hội. Đây là vấn
đề quan trọng liên quan đến hàng triệu người lao động vì vậy cần phải có biện
pháp thực hiện triệt để nhằm bảo đảm chặt chẽ, công bằng, tạo động lực thúc
đẩy người lao động công tác tốt, tăng năng suất lao động.
Bên cạnh đó, cần tích cực chống các biểu hiện tiêu cực, thất thoát trong
bảo hiểm xã hội số 71/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006; điều 35, điều 38, điều
39 Nghị định số 152/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006.
Vấn đề thứ hai: Ông Nguyễn Văn Tuân do không hiểu biết về chế độ
chính sách bảo hiểm xã hội nên hoàn toàn thụ động khi được Công ty M hướng
dẫn làm thủ tục đề nghị giải quyết trợ cấp một lần nên ông đã tự mình ký tên
Nguyễn Văn Thành vào mục người làm đơn và đề nghị Uỷ ban nhân dân xã C
ký xác nhận.
Vấn đề thứ ba: Uỷ ban nhân dân xã C cấp đơn đề nghị hưởng trợ cấp một
lần cho anh Nguyễn Văn Thành vào ngày 10 tháng 8 năm 2009 (trong khi đó
anh Thành đã chết) là không có cơ sở, thiếu sự kiểm tra, thiếu tinh thần phối hợp
giữa bộ phận tư pháp với công an xã quản lý hộ khẩu. Vì thực tế tại các xã hiện
nay công tác giao ban hàng tháng của các công an viên tại các thôn, xóm rất chặt
chẽ trong đó có việc báo cáo về số người biến động do chuyển đi, chuyển đến,
chết…
Vấn đề thứ tư: Bảo hiểm xã hội tỉnh T nhận hồ sơ giải quyết chế độ
BHXH từ đơn vị sử dụng lao đông là Công ty M với thủ tục hồ sơ trợ cấp một
lần đầy đủ theo quyết định 815 QĐ-BHXH ngày 6/6/2007 của Tổng giám đốc
Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Vì vậy, Bảo hiểm xã hội tỉnh T đã giải quyết cho
anh Thành hưởng trợ cấp một lần là đúng với qui định tại điều 55 Luật bảo hiểm
xã hội số 71/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006.
2.3.1 Nguyên nhân
Như vậy, chúng ta thấy rằng từ một sự việc hết sức đơn giản nếu như
người làm công tác Bảo hiểm xã hội của Công ty M thực sự hiểu biết, nắm chắc
các chế độ BHXH để hướng dẫn thân nhân người lao động ngay từ đầu thì việc
7
giải quyết chế độ cho người lao động hết sức nhanh gọn kịp thời, đảm bảo quyền
lợi cho người tham gia bảo hiểm xã hội.
Đối với tình huống cụ thể này, điều quan trọng là cán bộ làm công tác tư
- Có thể dẫn đến đổ lỗi trách nhiệm cho nhau.
- Nếu quá chủ quan trong việc tiếp nhận hồ sơ giải quyết có thể dẫn đến
việc lợi dụng lập hồ sơ để được xét hưởng trợ cấp Bảo hiểm xã hội có lợi hơn về
mặt kinh tế.
2.4. Xây dựng và phân tích các phƣơng án để xử lý tình huống
2.4.1 Mục tiêu đề ra của các phƣơng án xử lý
- Xử lý dứt điểm vụ tránh khiếu kiện, khiếu nại kéo dài lên tất cả các cấp,
các cơ quan có thẩm quyền.
- Việc giải quyết phải đảm bảo đúng pháp luật, hợp lý, hợp tình bảo vệ
được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và bảo vệ uy tín, tín nhiệm, lòng
tin của người dân đối với các cơ quan quản lý hành chính.
- Xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật đối với mọi hành vi vi phạm pháp
luật.
2.4.2 Đề xuất các phƣơng án xử lý và chọn phƣơng án tối ƣu
Cơ sở để xây dựng phương án:
- Theo qui định điều 63 Luật bảo hiểm xã hội số 71/QH ngày 29 tháng 6
năm 2006, điều 35 nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 qui
định các đối tượng sau khi chết thì người lo mai táng được nhận trợ cấp mai táng
bằng 10 tháng tiền lương tối thiểu chung.
- Theo qui định tại điều 67 Luật bảo hiểm xã hội số 71/QH ngày 29 tháng
6 năm 2006, điều 39 ghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 qui
định mức hưởng trợ cấp tuất một lần đối với thân nhân người lao động đang
đóng bảo hiểm xã hội hoặc người bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội.
9
Đối chiếu với các quy định trên , trường hợp của anh Thành con ông Tuân
thuộc đối tượng người lao động bảo lưu thời gian tham gia bảo hiểm xã hội bị
chết. Như vậy, tôi xin nêu ra một số phương án xử lý tình huống như sau:
c) Phƣơng án 3
Bảo hiểm xã hội huyện X mời ông Nguyễn Văn Tuân trực tiếp trình bày
lại toàn bộ sự việc nhằm làm rõ thêm đơn đề nghị của ông. Từ đó, tư vấn để ông
hiểu hơn về chế độ chính sách Bảo hiểm xã hội và quyền lợi, nghĩa vụ của người
tham gia bảo hiểm xã hội. Đồng thời, hiểu rõ hơn trách nhiệm của chủ sử dụng
lao động đối với người lao động. Hướng dẫn ông nộp đầy đủ hồ sơ trợ cấp một
lần đã được Bảo hiểm xã hội tỉnh T giải quyết và kèm theo giấy chứng tử của
anh Nguyễn Văn Thành đã được Uỷ ban nhân dân xã C cấp ngày 01 tháng 09
năm 2009.
Bảo hiểm xã hội huyện sẽ trực tiếp làm việc với Công ty M tìm ra nguyên
nhân từ đó đưa ra hướng giải quyết đúng qui định. Đồng thời, Bảo hiểm xã hội
huyện X sẽ trực tiếp xuống tận địa bàn nơi gia đình ông Tuân sinh sống để xác
minh ngày, tháng, năm chết thực tế của anh Nguyễn Văn Thành. Từ đó, có cơ sở
để làm việc với Uỷ ban nhân dân xã C. Nếu thực tế anh Thành chết đúng với
ngày tháng năm đã ghi trên giấy chứng tử Uỷ ban nhân dân xã C đã cấp thì Bảo
hiểm xã hội huyện sẽ phối hợp với chính quyền địa phương hướng dẫn ông Tuân
làm các thủ tục tiếp theo để trình Bảo hiểm xã hội tỉnh xem xét giải quyết.
Ưu điểm
+ Làm rõ được trách nhiệm của ủy ban nhân dân xã C là phải thường
xuyên cập nhật sổ quản lý hộ khẩu các đối tượng đã chết, tăng cường công tác
kiểm tra trước khi ký xác nhận. Đồng thời, cũng làm rõ được trách nhiệm của
Công ty M đối với người lao động.
+ Bản thân ông Tuân và gia đình được hiểu biết hơn về các chế độ chính
sách bảo hiểm xã hội.
11
+ Thể hiện được tính nhân văn sâu sắc của chính sách Bảo hiểm xã hội là
luôn luôn bảo vệ lợi ích hợp pháp của người lao động.
pháp, công
đối tượng
năm 2009
an, trưởng
thôn, ông
Nguyễn Văn
Tuân
2
Đính chính các sai sót, xử
UBND xã C,
Tháng 10
lý trách nhiệm các cá
UBND huyện
năm 2009
nhân liên quan
X
3
Đề nghị xem xét, giải
Công ty M,
Tháng 10
quyết lại chế độ cho đối
BHXH huyện
năm 2009
tượng
X
năm 2009
Bƣớc 1 : Bảo hiểm xã hội huyện X căn cứ vào đơn trình bày của ông
Tuân, trực tiếp xuống làm việc với Uỷ ban nhân dân xã C xác minh ngày, tháng,
năm chết của anh Thành thông qua làm việc với các bộ phận tư pháp, công an,
đồng chí trưởng thôn 2, đồng chí bí thư chi bộ thôn 2 và người phụ trách công
tác dân số ở thôn 2.
Bƣớc 2: Sau khi xác minh ngày chết của anh Thành đúng với giấy chứng
tử Uỷ ban nhân dân xã C đã cấp. Uỷ ban nhân dân xã C làm tờ trình giải trình về
việc đã sai sót trong việc ký xác nhận vào đơn hưởng trợ cấp một lần của anh
Thành (khi đó anh Thành đã chết) có xác nhận của Uỷ ban nhân dân huyện X và
đề nghị Bảo hiểm xã hội huyện X, Bảo hiểm xã hội tỉnh T xem xét giải quyết.
Đồng thời, có trách nhiệm xử lý vi phạm hành chính đối với cán bộ chuyên môn
đã tham mưu cho lãnh đạo ký xác nhận.
Bƣớc 3: Yêu cầu Công ty M làm tờ trình gửi Bảo hiểm xã hội tỉnh T, Bảo
hiểm xã hội huyện X giải trình sự việc đã lập hồ sơ đề nghị giải quyết sai chế độ
cho người lao động và đề nghị Bảo hiểm xã hội các cấp xem xét, giải quyết lại
chế độ BHXH cho anh Thành.
Bƣớc 4: Bảo hiểm xã hội huyện X có trách nhiệm hướng dẫn ông Tuân
lập đầy đủ thủ tục hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ tử tuất cho anh Thành hoàn
chỉnh gồm các giấy tờ sau:
- Sổ BHXH và quyết định hưởng trợ cấp một lần của anh Nguyễn Văn
Thành;
- Đơn đề nghị không nhận trợ cấp một lần và đề nghị được hưởng chế độ
tử tuất: 01 bản;
13
- Tờ khai hoàn cảnh gia đình: 04 bản;
thời, đính kèm hồ sơ giải quyết trợ cấp tử tuất một lần cho anh Thành với hồ sơ
trợ cấp một lần trước đó và lưu trữ đúng qui định.
Bƣớc 9: Đến ngày hẹn Bảo hiểm xã hội huyện X trực tiếp phòng giao
nhận hồ sơ Bảo hiểm xã hội tỉnh T nhận lại 2 bộ hồ sơ hưởng trợ cấp tử tuất một
lần của anh Nguyễn Văn Thành. Sau đó, Bảo hiểm xã hội huyện có trách nhiệm
thông báo cho ông Tuân đến nhận kết quả giải quyết theo đúng thời gian đã hẹn.
Đồng thời, tách hồ sơ, 01 bộ chuyển bộ phận hồ sơ đưa vào lưu trữ và tiến hành
bàn giao 01 bộ hồ sơ trợ cấp tử tuất một lần cho ông Tuân.
15
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1 Kiến nghị
Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước , thể hiện
sự quam tâm đối với quyền lợi của người lao động .Việc thực hiện các chế độ
chính sách Bảo hiểm xã hội theo cơ chế mới phù hợp với cơ chế thị trường, dựa
trên nguyên tắc có đóng BHXH mới được hưởng các chế độ BHXH là hoàn toàn
đúng .
1. Gần 3 năm thực hiện Luật bảo hiểm xã hội số 71/QH 11 ngày 29 tháng
6 năm 2006 chúng ta thấy rằng: Luật bảo hiểm xã hội là hành lang pháp lý cao
nhất để mọi tổ chức, cá nhân chấp hành qui định về chính sách bảo hiểm xã hội
theo qui định của Pháp luật. Trong quá trình thực hiện công tác ngành Bảo hiểm
xã hội đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện chính sách Bảo hiểm xã hội
của Đảng và Nhà nước đề ra, góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Tuy nhiên, trong
quá trình thực hiện vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại và bất cập.
- Về qui định mức đóng vào quỹ ốm đau và thai sản bằng 3%; trong đó
người sử dụng lao động giữ lại 2% để chi trả kịp thời cho người lao động đủ
điều kiện hưởng các chế độ ốm đau, thai sản. Thực tế, hiện nay ở T phần lớn các
đơn vị sử dụng lao động có số lao động ít, số 2% tổng quỹ lương để lại hàng quý
chế độ, chính sách BHXH nên cũng chưa đòi hỏi quyền lợi cho người lao động.
Trong khi đó , các chủ sử dụng lao động vì lợi ích cá nhân, bằng mọi cách cố
tình trốn tránh nghĩa vụ tham gia BHXH. Cán bộ làm công tác bảo hiểm xã hội
tại một số đơn vị chưa thực sự nắm bắt được các qui định về chế độ chính sách
bảo hiểm xã hội, làm việc thiếu tinh thần trách nhiệm dẫn đến những sai sót
không đáng có. Vì vậy, cần phải bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác bảo hiểm xã
hội cho các đơn vị sử dụng lao động thôg qua các kênh thông tin tuyên truyền,
các lớp tập huấn…
4. Cần phải có sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành cùng với
ngành Bảo hiểm xã hội trong việc thực hiện công tác bảo hiểm xã hội.
17
5. Qua nhìn nhận tình huống trên ta thấy rằng cần phải coi trọng yếu tố
con người. Để có một xã hội trong sạch vững mạnh chúng ta cần có những con
người có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có tinh
thần trách nhiệm, biết tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân. Luôn đấu
tranh với tệ tham nhũng, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, thiếu tinh thần trách
nhiệm trong xử lý nghiệp vụ hàng ngày. Làm được như vậy là chúng ta đã góp
phần làm cho bộ máy Nhà nước ta ngày càng vững mạnh.
3.2 Kết luận
Bảo hiểm xã hội có vị trí quan trọng đối với công tác an sinh xã hội của
mỗi quốc gia. Cùng với yêu cầu và nhiệm vụ của cuộc Cách mạng xã hội chủ
nghĩa, từng thời kỳ khác nhau, các quy định về chính sách Bảo hiểm xã hội được
sửa đổi bổ sung một cách linh hoạt, phù hợp nhằm đáp ứng, huy động tối đa về
sức người, sức của của nhân dân cho công cuộc Cách mạng, ổn định dần dần và
ngày càng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động.
Vấn đề mà tình huống đưa ra đã được phân tích đúng, sai, có phương án
tối ưu để thực hiện giải quyết chế độ Bảo hiểm xã hội cho người lao động, vừa
1. Luật Bảo hiểm xã hội của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam số
71/2006/QH 11 ngày 29 tháng 6 năm 2006;
2. Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 hướng dẫn
một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc;
3. Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30/01/2007 hướng dẫn một
số điều của Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006.
4. Quyết định 815/QĐ-BHXH ngày 6/6/2007 của Tổng giám đốc Bảo
hiểm xã hội Việt Nam.
20