Kinh nghiệm dạy học phát huy tính tích cực trong môn Tiêng Việt cho HS lớp 1 dân tộc thiểu số.
MỤC LỤC
TT
Nội dung
Trang
I
PHẦN MỞ ĐẦU
3
I.1
Lý do chọn đề tài
3
I.2
Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
3
I.3
Đối tượng nghiên cứu
Thuận lợi, khó khăn
5-6
b
Thành công, hạn chế
6
c
Mặt mạnh, mặt yếu
6-7
d
Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
e
Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra
II.3
7
7–8
Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
II.4 Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề
15 – 16
16
nghiên cứu
III
PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
16
1
Trần Thị Minh – TH Võ Thị Sáu
Kinh nghiệm dạy học phát huy tính tích cực trong môn Tiêng Việt cho HS lớp 1 dân tộc thiểu số.
III.1 Kết luận
16 - 17
III.2 Kiến nghị
17 – 18
19
Tài liệu tham khảo
Kinh nghiệm dạy học phát huy tính tích cực trong môn Tiêng Việt cho HS lớp 1 dân tộc thiểu số.
hỏi, cách nhận xét bạn đọc, cách cầm bút; giúp học sinh có kĩ năng nghe nói một số
câu đơn giản; bước đầu có những hiểu biết về cuộc sống; giúp các em yêu quý việc
học tập... Đây chính là nền móng cho các em học tốt môn Tiếng Việt ở các lớp trên.
Chính vì vậy dạy tốt môn Tiếng Việt ở lớp một là điều cực kì quan trọng.Với những
lí do nêu trên, tôi đã suy nghĩ, nghiên cứu và chọn đề tài: " Kinh nghiệm dạy học
phát huy tính tích cực trong môn Tiếng Việt cho học sinh lớp Một dân tộc thiểu số”
nhằm nâng cao chất lượng học Tiếng Việt lớp Một.
I. 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu thực trạng về việc dạy học tiếng Việt lớp
một. Phân tích những thuận lợi và khó khăn khi dạy và học tiếng Việt ở lớp 1 học
sinh dân tộc thiểu số.
Nhiệm vụ của đề tài là đề xuất một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực,
chủ động cho học sinh trong môn Tiếng Việt nhằm nâng cao chất lượng học tiếng
Việt đối với học sinh lớp Một dân tộc thiểu số.
I. 3. Đối tượng nghiên cứu
Học sinh lớp 1A trường tiểu học Võ Thị Sáu.
I. 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu việc dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 tại trường Tiểu học Võ Thị Sáu
từ năm học 2013- 2014, năm học 2014 - 2015.
I. 5. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
a. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu sách giáo khoa Tiếng Việt Một,
nghiên cứu cơ sở lí luận của việc dạy học phát huy tính tích cực.
b. Phương pháp quan sát: Đây là phương pháp giúp ta quan sát thái độ, hành vi
của học sinh, phát hiện ra những hành vi, cử chỉ của học sinh trong học tập, sinh
hoạt...Để phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh.
luyện các thao tác tư duy. Cung cấp cho các em những kiến thức sơ giản về tiếng
Việt; về tự nhiên, xã hội và con người; về văn hoá, văn học của Việt Nam ….Bồi
dưỡng tình yêu tiếng Việt và thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng
Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho học
sinh. Mục tiêu dạy tiếng Việt ở Tiểu học rất chú trọng đến việc hình thành kĩ
5
Trần Thị Minh – TH Võ Thị Sáu
Kinh nghiệm dạy học phát huy tính tích cực trong môn Tiêng Việt cho HS lớp 1 dân tộc thiểu số.
năng sử dụng tiếng Việt, do vậy việc hướng dẫn học sinh lớp Một các kĩ năng thực
hành Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) là điều rất quan trọng.
Ở lớp Một, mục tiêu dạy học tiếng Việt nhằm hình thành những yêu cầu cho
các em có kiến thức và kĩ năng cơ bản về: Đọc đúng và rõ ràng bài văn đơn giản.
Hiểu nghĩa của các từ ngữ thông thường và nội dung thông báo của câu văn, đoạn
văn. Viết đúng chữ viết thường, chép đúng chỉnh tả đoạn văn, nghe hiểu lời giảng và
lời hướng dẫn của giáo viên. Nói rõ ràng, biết trả lời câu hỏi đơn giản.
Quá trình dạy học gồm hoạt động có quan hệ hữu cơ: Hoạt động dạy của giáo
viên và hoạt động học của học sinh. Cả hai hoạt động này đều được tiến hành nhằm
thực hiện mục đích giáo dục. Hoạt động học tập của học sinh chính là hoạt động
nhận thức. Hoạt động này chỉ có hiệu quả khi học sinh học tập một cách tích cực chủ
động, tự giác với một động cơ nhận thức đúng đắn. Luôn luôn phát huy tích cực, chủ
động trong hoạt động học tập của học sinh ở mỗi tiết học, đó chính là dạy học tích
cực.
Dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh đòi hỏi người dạy phải coi
trọng việc tổ chức các hoạt động của học sinh, tạo điều kiện để học sinh tìm tòi, tiếp
nhận tri thức, tạo điều kiện để các em chủ động, chú ý hình thành khả năng tự học
của mình.
Dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh có tác dụng phát huy tính
Lớp 1A có tổng số học sinh: 24 em, nữ 13 em, dân tộc 19 em, con hộ nghèo 8
em.
Về xếp loại học tập:
TSHS
24
Học tập
Biết đọc, biết viết chữ cái
Chưa biết đọc, chưa biết viết
SL
%
SL
%
13
54,2
11
45,8
b. Thành công, hạn chế
* Thành công: Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã phát hiện ra những thiếu
sót, những yếu kém trong quá trình giảng dạy cũng như hiệu quả của tiết dạy. Từ đó
xây dựng kế hoạch bài dạy, lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù
sống còn hạn chế nên chưa ham thích học tập.
d. Các nguyên nhân, yếu tố tác động đến dạy học phát huy tính tích cực
chủ động của học sinh
8
Trần Thị Minh – TH Võ Thị Sáu
Kinh nghiệm dạy học phát huy tính tích cực trong môn Tiêng Việt cho HS lớp 1 dân tộc thiểu số.
Do trong quá trình giảng dạy, một số giáo viên còn lúng túng trong việc vận
dụng phương pháp hình thức tổ chức dạy học, chưa chú ý phân loại các đối tượng
học sinh trong lớp, còn lúng túng trong việc lập kế hoạch bài giảng. Chưa mạnh dạn
đổi mới phương pháp, hình thức dạy học. Vả lại hầu hết giáo viên khi lên lớp thường
còn nặng nề về cung cấp các kiến thức, vẫn còn giảng dạy theo lối rập khuôn máy
móc, chưa chú ý đến việc tạo điều kiện giúp cho học sinh tự tìm tòi tiếp thu kiến
thức. chưa phát huy tính tích cực chủ động của các em. Một số học sinh chưa biết
xác định và chưa xác định động cơ học tập đúng đắn nên chưa chăm học. Do ở mẫu
giáo các em đang có thói quen vui chơi tương đối tự do, thoải mái tuỳ theo hứng
thú của mình, khi vào lớp Một các em phải làm việc trong một tập thể có nội quy,
kỉ luật, có hướng dẫn học tập, có trách nhiệm, nghĩa vụ rõ ràng. Các em còn hay
đãng trí, khó tập trung chú ý lâu, nhất là khi phải chú ý các đối tượng trừu tượng, ít
hấp dẫn. Điều kiện học tập như: dụng cụ học tập, góc học tập ở nhà còn thiếu thốn.
Một số cha mẹ chưa thực sự quan tâm đến việc học của các em, còn khoán trắng cho
nhà trường, chưa tạo điều kiện cho các em học tập. Từ thực trạng trên, tôi thấy cần
phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực hoạt động học
tập của học sinh trong môn Tiếng Việt lớp 1.
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra
Với 100% học sinh trong lớp là người dân tộc thiểu số, hầu hết các em chưa có
ý thức học tập, vốn kĩ năng sống hạn chế. Bên cạnh đó do thói quen tiếng mẹ đẻ nên
khả năng giao tiếp của các em gặp rất nhiều khó khăn. Một phần do hoàn cảnh gia
trưng môn học, dạng bài mới và bài ôn tập, đối tượng học sinh trong lớp. Thường
xuyên theo dõi, đánh giá quá trình học tập của từng em và thực hiện tốt thông tin hai
chiều với cha mẹ học sinh. Ngoài ra, tôi sắp xếp thời gian để gặp gỡ cha mẹ các em
đặc biệt là những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, neo đơn. Thông qua phiếu đánh
giá của cha mẹ học sinh, tôi nắm bắt kịp thời quá trình học tập và rèn luyện ở nhà
của các em. Qua đó tạo sự gần gũi, thân thiện giúp học sinh tự tin và hứng thú trong
công việc học tập. Bên cạnh đó, tôi còn kết hợp với các đoàn thể trong trường học
như: Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Sao Nhi đồng để tổ
chức cho các em tham gia các hoạt động vui chơi tạo sự hứng thú trong học tập.
II.3. Giải pháp, biện pháp
a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
10
Trần Thị Minh – TH Võ Thị Sáu
Kinh nghiệm dạy học phát huy tính tích cực trong môn Tiêng Việt cho HS lớp 1 dân tộc thiểu số.
Giúp học sinh lớp Một dân tộc thiểu số phát huy tính tích cực chủ động, rèn
cho các em thói quen quan sát, suy luận tư duy logic, rèn khả năng nhanh nhạy của
đôi tay, trí óc, tránh được cách học vẹt, học thuộc lòng một cách máy móc, tạo tâm
lý thoải mái khi học tập, kích thích được lòng ham học hỏi, khả năng tư duy sáng tạo
của mỗi cá nhân học sinh. Giúp các em có động cơ học tập, có phẩm chất đạo đức
tốt, có kĩ năng sống vận dụng trong sinh hoạt hằng ngày, giúp các em trở thành con
người phát triển toàn diện về đức trí, thể, mĩ.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
Dạy học tích cực tạo cho các em phương pháp học tập tích cực. Chinh vì vậy
tôi đã đề ra các biện pháp thực hiện như sau:
Biện pháp thứ nhất: Sử dụng đồ dùng dạy học
Thiết bị đồ dùng dạy học là những phương tiện vật chất giúp cho giáo viên
và học sinh tổ chức hợp lý có hiệu quả quá trình dạy học đối với các môn học
hiệu quả sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
Ví dụ dạy bài 7: ê - v trang 16 sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1, tập 1
Sau khi hướng dẫn các em nhận biết âm ê, tiếng bê, tôi dùng tranh “ con bê”
giới thiệu để rút từ mới “bê”. Được quan sát hình ảnh ''con bê'' trong bức tranh, các
em hình dung nhớ lại về hình ảnh con vật. Cùng với việc cho các em quan sát hình
ảnh con bê, tôi nói thêm đôi nét sơ lược về đặc điểm và ích lợi của con bê nhằm
khắc sâu kiến thức qua đó giáo dục ý thức chăm sóc, bảo vệ vật nuôi: bê là con của
của con bò, khi còn nhỏ gọi là bê, nó thường ăn cỏ, được nuôi để kéo cày dùng trong
việc nhà nông và lấy thịt ăn. Hay khi dạy bài 8: l – h, để giới thiệu từ mới hè, tôi đã
cho các em quan sát tranh và hỏi tranh chụp cảnh gì? Cảnh các bạn đang tắm ở bãi
biển. Chúng ta thường đi tắm biển vào dịp nào? Ta thường đi tắm biển vào mùa hè.
Em đã được tắm biển khi nào? Khi tắm biển, em cần chú ý điều gì? Thông qua đó
giáo dục các em ý thức tự phòng chống đuối nước.
Khi dạy bài 29: ia, sau khi dạy vần ia, tiếng tía, tôi đưa ra cành lá tía tô, yêu cầu
các em quan sát, nêu nhận xét, rút từ mới “lá tía tô” Từ việc quan sát rút ra từ mới
tôi giúp các em hiểu thêm về ích lợi của nó như lá tía tô là cây thuốc nam dùng để ăn
và chữa một số bệnh. Qua đó giáo dục ý thức chăm sóc, bảo vệ cây trồng.
12
Trần Thị Minh – TH Võ Thị Sáu
Kinh nghiệm dạy học phát huy tính tích cực trong môn Tiêng Việt cho HS lớp 1 dân tộc thiểu số.
Hoặc dạy bài 55: eng – iêng, để giảng từ '' xà beng '', tôi đưa cái xà beng ra và
hỏi: Cái xà beng dùng để làm gì? Học sinh quan sát và trả lời: Cái xà beng dùng để
đào đất, đá,…
Để giúp học sinh tưởng tượng ra sự vật hay hoạt động được nói đến trong từ
khoá, từ ứng dụng, hiểu đúng hơn về sự vật, hoạt động tôi đã sử dụng tranh, mô
hình, vật thật khi giải nghĩa từ.
Ngoài việc sử dụng tranh ảnh,… để giải nghĩa từ thì tranh ảnh còn đóng vai trò
+ Muốn trở thành người bạn tốt, em phải làm gì?
Sau mỗi câu nói của các em, tôi nhận xét, chỉnh sửa kết quả luyện nói ngay.
Như vậy sử dụng tranh ảnh giúp học sinh mở rộng thêm hiểu biết về chủ đề cần
luyện nói, góp phần kích thích hứng thú học tập của học sinh.
Đối với tiết Ôn tập, trong phần kể chuyện, tôi sử dụng tranh ảnh giúp các em
hình dung ra không gian, thời gian xảy ra câu chuyện, sắp xếp các ý của câu chuyện,
tự nhớ lại nội dung để kể.
Ví dụ dạy phần kể chuyện '' Qụa và công'' bài 59 : Ôn tập trang 121 sách giáo
khoa tiếng việt lớp 1, tập 1. Tôi yêu cầu HS mở SGK, đọc tên nhân vật trong câu
chuyện: Qụa và Công'', sau đó tôi gợi mở: Câu chuyện hôm nay nói về hai nhân vật
Qụa và Công. Nội dung câu chuyện cho ta thấy Qụa và Công là hai con vật như thế
nào, các em hãy chú ý lắng nghe, rồi tôi kể chuyện 2 lần có kết hợp minh hoạ tranh.
Tiếp đó, tôi gợi ý học sinh quan sát từng tranh, giúp câu chuyện thêm hấp dẫn;
kích thích được trí tưởng tượng của các em. Dựa theo tranh, các em hình dung ra
không gian, thời gian xảy ra câu chuyện, sắp xếp các ý của câu chuyện, tự nhớ lại
nội dung để kể.
Bên cạnh việc sử dụng tranh ảnh,… trong một giờ dạy, tôi tổ chức cho các em
sử dụng bộ đồ dùng thực hành Tiếng Việt.
* Ví dụ dạy bài 44: on – an
Tôi yêu cầu học sinh: Ghép vần on, ghép tiếng con, thông qua việc ghép vần,
tiếng, các em tự phân tích nhận biết cấu tạo vần và tiếng, dựa vào cấu tạo vần, tiếng
các em tự đánh vần rồi đọc trơn. Sau khi giúp các em nhận biết mỗi vần, tôi tổ chức
trò chơi “ Tìm chữ bí ẩn” bằng cách phát cho mỗi nhóm một hộp trong đó có đựng
các tiếng chứa vần vừa học và vần đã học rồi giao nhiệm vụ cụ thể mỗi nhóm tìm
trong hộp tiếng có vần vừa học gài vào bảng gài trong thời gian 1 phút nhóm nào
14
Trần Thị Minh – TH Võ Thị Sáu
Kinh nghiệm dạy học phát huy tính tích cực trong môn Tiêng Việt cho HS lớp 1 dân tộc thiểu số.
Kinh nghiệm dạy học phát huy tính tích cực trong môn Tiêng Việt cho HS lớp 1 dân tộc thiểu số.
Như chúng ta biết, trẻ em lớp 1 hiếu động, ham hiểu biết, việc đặt câu hỏi sẽ
giúp các em suy nghĩ và hứng thú khi được trả lời ý kiến của mình. Bởi vậy ở bất kì
một bài học nào, tôi đều lập kế hoạch. Kế hoạch bài dạy được tôi chuẩn bị kĩ lưỡng
cả về hình thức tổ chức dạy học lẫn nội dung bài học. Hệ thống câu hỏi là tiền đề
giúp các em tìm hiểu nội dung bài học. Chính vì thế, tôi đã đưa ra những câu hỏi
giúp học sinh phát huy trí lực; là cơ hội để tôi nắm bắt kết quả học tập của học sinh
mình, làm giờ học đỡ đơn điệu, tạo mối quan hệ tương tác giữa cô và trò. Giúp tôi
kịp thời điều chỉnh nội dung, hình thức và phương pháp dạy học phù hợp với các đối
tượng học sinh; đưa ra những câu hỏi gợi ý tuỳ theo câu trả lời của học sinh sát với
mục tiêu bài học.
Căn cứ vào mục tiêu bài học, tôi xây dựng hệ thống câu hỏi chính và câu hỏi
phụ kèm theo. Câu hỏi ngắn gọn có nội dung rõ ràng, dễ hiểu, chính xác phù hợp với
trình độ của học sinh. Câu hỏi thể hiện phân hoá đối tượng học sinh, tạo điều kiện
cho học sinh yếu kém được trả lời, phát huy tính tích cực của tất cả học sinh trong
lớp. Câu hỏi đưa ra được tôi sắp xếp từ dễ đến khó.
Ví dụ dạy bài 66: uôm – ươm
Sau khi học xong vần uôm, tôi hỏi: Các em vừa học vần mới nào, tiếng và từ
gì mới? HS trả lời: Hôm nay, em học vần uôm, tiếng buồm; từ cánh buồm. Qua câu
hỏi đã giúp các em tái hiện điều mà mình đã học.
Khi dạy vần uôm – ươm, tôi hỏi: Hai vần uôm – ươm có gì giống và khác
nhau? Các em sẽ trả lời ngay hai vần uôm – ươm đều có âm m ở cuối, khác nhau
vần uôm có nguyên âm đôi uô, vần ươm có nguyên âm đôi ươ, do sự khác nhau đó
nên ta đọc và viết khác nhau. Như vậy các em đã biết so sánh sự giống và khác nhau
giữa các vần,….
Khi dạy chủ đề luyện nói ''Nhà trẻ '' bài 26: y – tr trang 54 sách giáo khoa
Tiếng Việt 1, tập 1, tôi đặt câu hỏi để học sinh so sánh việc học ở nhà trẻ và học ở
+ Em làm gì để tỏ lòng kính yêu mẹ?
Mỗi câu hỏi đưa ra, tôi đều giành thời gian cho học sinh suy nghĩ, tạo tính thu
hút sự chú ý của các em. Rồi khuyến khích những học sinh rụt rè, chậm chạp trả lời
trước, các em mạnh dạn trả lời sau.
Biện pháp thứ ba: Tổ chức '' Trò chơi học tập ''
17
Trần Thị Minh – TH Võ Thị Sáu
Kinh nghiệm dạy học phát huy tính tích cực trong môn Tiêng Việt cho HS lớp 1 dân tộc thiểu số.
Trò chơi học tập là một loại hoạt động không thể thiếu được trong mọi lứa tuổi.
Trò chơi giúp các em phát triển cả về năng khiếu lẫn tư duy. Vì vậy tổ chức trò chơi
chú ý những đặc tính: Vui - Khoẻ - An toàn - Có ích; trong đó bao gồm cả giải trí,
thư giản...được xem là một yếu tố cơ bản của trò chơi. Trò chơi học tập là hình thức
học tập thông qua trò chơi. ''Học mà chơi, chơi mà học '' tạo cho các em hứng thú và
niềm tin trong học tập, duy trì được khả năng chú ý của các em trong tiết học. Trò
chơi học tập không chỉ nhằm giải trí mà còn góp phần củng cố tri thức, kĩ năng học
tập cho học sinh. Việc sử dụng trò chơi học tập trong quá trình dạy học nhằm làm
cho việc tiếp thu tri thức, rèn kĩ năng bớt đi khó khăn, có thêm sự sinh động, hấp
dẫn, phát huy tính tự giác, tích cực của học sinh, rèn cho học sinh tính mạnh dạn,
tính thi đua, tính kỉ luật... do đó hiệu quả học tập của các em cao hơn. Vì vậy khi tổ
chức trò chơi học tập, tôi đã soạn thảo nội dung trò chơi gắn liền với mục tiêu của
bài học, luật chơi đưa ra rõ ràng, đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện, điều kiện và
phương tiện tổ chức trò chơi phong phú, hấp dẫn, sử dụng trò chơi đúng lúc, đúng
chỗ. Có như vậy mới kích thích sự thi đua giành phần thắng cho các em bên tham
gia.
Ví dụ : Dạy bài 77: ăc, âc trang 156 sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1, tập 1
Tôi tổ chức cho các em trò chơi Tìm chữ bí ẩn. Đầu tiên, tôi giới thiệu tên trò chơi,
hướng dẫn cách chơi, thời gian chơi và phổ biến luật chơi, chia nhóm rồi phát cho
đến hiệu quả giảng dạy. Học sinh được luyện tập kĩ năng đọc, viết theo nhiều hình
thức, chống học vẹt. Giúp các em ghi nhớ bằng nhiều giác quan cách đọc, cách viết
mà không nhàm chán và ghi nhớ bài học tốt hơn. Là cơ hội để các em đều luyện
đọc, luyện viết, luyện nói, được làm việc tập thể theo nhóm, học cách hợp tác với
bạn bè trong học tập. Nó tạo môi trường thuận lợi cho việc giao tiếp, cho việc rèn
luyện 4 kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết).
Khi dạy một tiết học vần, tôi đã cho các em đọc thành tiếng trên bảng lớp,
trong sách giáo khoa; đọc thầm trong sách giáo khoa. Thực hiện song song với việc
luyện đọc thì luyện viết cũng không kém phần quan trọng. Các em được luyện viết
vào bảng con, viết trên bảng lớp, viết trong vở tập viết. Sau khi đọc, viết thành thạo,
tôi tổ chức cho các em tập nói câu, nói theo chủ đề. Khi tổ chức các hình thức học
tập, tôi đã kết hợp sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, tận dụng thế mạnh của mỗi hình thức
học tập trong quá trình dạy học như các hình thức: cá nhân - theo nhóm - cả lớp
19
Trần Thị Minh – TH Võ Thị Sáu
Kinh nghiệm dạy học phát huy tính tích cực trong môn Tiêng Việt cho HS lớp 1 dân tộc thiểu số.
thích hợp với các nội dung học tập. Trong quá trình thực hiện, tôi luôn luôn gần gũi,
kịp thời khen ngợi, ghi nhận những tiến bộ của học sinh, động viên các em tiếp tục
phát huy, tạo sự tự tin trong học tập cho các em. Đối với các em khá giỏi tôi khuyến
khích, gợi mở bằng những câu hỏi khái quát hơn.
c. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp
Để thực hiện các giải pháp, biện pháp trên đòi hỏi giáo viên phải chủ động,
sáng tạo, lập kế hoạch phù hợp cho từng hoạt động trong mỗi tiết dạy đặc biệt là đối
với từng đối tượng học sinh trong lớp. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học phải đầy
đủ. Phải được sự quan tâm của lãnh đạo nhà trường, sự phối hợp giữa các giáo viên
dạy luân phiên, dạy bộ môn và sự giúp đỡ của bạn bè đồng nghiệp.
d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
SL
%
Dưới trung bình
SL
%
Đầu năm học
20
8
40,0
14
60,0
Cuối học kì I
20
14
60,0
6
30,0
24
21
87,5
3
12,5
2014 – 2015
Cuối học kì I
* Giá trị khoa học: Với mục tiêu phát hiện những yếu kém, khắc phục những
khó khăn trong giảng dạy, trong việc học tập của học sinh lớp Một dân tộc thiểu số,
nhằm từng bước nâng cao chất lượng dạy học. Sau khi nghiên cứu và thực hiện các
giải pháp trên cho thấy học sinh có ý thức động cơ học tập; tính tích cực, tự giác,
chủ động của các em cao hơn; giờ học sôi nổi; chất lượng dạy học nâng cao.
II. 4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề
nghiên cứu
* Kết quả thu được qua khảo nghiệm: Qua quá trình vận dụng các biện pháp
nêu trên một cách linh hoạt sáng tạo cùng với sự cố gắng học hỏi trau dồi chuyên
môn nghiệp vụ. Đến nay, các em đã có ý thức tự giác tích cực chủ động, thích tham
gia các hoạt động học tập, giờ học sôi nổi. Số học sinh chưa hoàn thành về năng lực
giảm dần, số học sinh hoàn thành về năng lực nâng cao dần theo thời gian. Đa số các
em đều ngoan, chăm học, ý thức học tập tốt. Không còn tình trạng học sinh lười học.
21
Trần Thị Minh – TH Võ Thị Sáu
Trần Thị Minh – TH Võ Thị Sáu
Kinh nghiệm dạy học phát huy tính tích cực trong môn Tiêng Việt cho HS lớp 1 dân tộc thiểu số.
Thực hiện tốt chỉ thị “Hai không” của Bộ GDDT; bám sát chủ đề năm học để
lên kế hoạch tháng, tuần cho phù hợp và khoa học.
Giáo viên cần phải chuẩn bị rất chu đáo về mọi công việc như: đồ dùng dạy
học, giáo án và thâm nhập giáo án một cách kĩ càng. Khi đứng lớp phải bình tĩnh, tự
tin, tác phong nhanh nhẹn, ngôn ngữ truyền đạt rõ ràng để làm sao hướng đẫn HS
cho hiểu nội dung bài một cách dễ dàng. Đồng thời khai thác nội dung để phát huy
tính sáng tạo của HS khá, giỏi. Có như vậy thì giờ dạy mới đạt hiệu quả.
III. 2. Kiến nghị
a. Đối với nhà trường
Thường xuyên tổ chức hội thảo, chuyên đề về công tác dạy học.
Quán triệt hơn nữa tinh thần học tập của học sinh.
Có thêm nhiều sách tham khảo.
b. Đối với địa phương, gia đình
Uỷ ban nhân xã phải có biện pháp hỗ trợ nhà trường đối với những HS thường
xuyên nghỉ học hay bỏ học.
Uỷ ban nhân xã cũng nên có quỹ khuyến học cho những HS vượt khó, HS có
hoàn cảnh khó khăn.
Gia đình phải chú trọng quan tâm đến việc học hành của con cái nhiều hơn.
Gia đình cần dành nhiều thời gian giám sát việc học ở nhà của con em. Cần mua
sắm đồ dùng học tập cho con em đầy đủ.
c. Đối với giáo viên
Giáo viên phải là người làm chủ lớp học, thiết lập bầu không khí thân thiện
tích cực, chủ động giải quyết mọi tình huống bảo đảm yêu cầu sư phạm.
Cần chuẩn bị kĩ lưỡng kế hoạch bài giảng, sử dụng hợp lý sách giáo khoa và sử
dụng có hiệu quả thiết bị dạy học, phương tiện trực quan, phương tiện nghe nhìn;
STT
TÊN TÀI LIỆU
Giáo dục học
TÁC GIẢ/NHÀ XUẤT
GHI
BẢN
CHÚ
Nguyển Sinh Huy-NXBGD-
1
1997)Vụ Giáo dục Tiểu học
–NXB Giáo dục Việt Nam
2
Tâm lý học
Phạm Minh Hạc- NXB Giáo
dục - 1996
3.Luật giáo dục