VẤN ĐỀ ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG CHO NÔNG THÔN - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI & BẤT ĐỘNG SẢN
š&›

TIỂU LUẬN MÔN HỌC
QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
CHỦ ĐỀ:

VẤN ĐỀ ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG NÔNG THÔN

SVTH: VƯƠNG THỊ THÚY HẰNG
MSSV: 1142417
LỚP: LT11QL
GVHD: BÙI VĂN HẢI

Tháng 12 năm 2012


Tiểu luận QHPTNT

GVHD: BÙI VĂN HẢI

MỤC LỤC
I.ĐẶT VẤN ĐỀ

2

II. MỘT SỐ CƠ SỞ HẠ TẦNG Ở NÔNG THÔN

2


6

1.3. Về cơ chế chính sách

7

2. Những thành tựu đạt được

8

IV. THÁCH THỨC TRONG THỜI GIAN TỚI

9

V.KẾT LUẬN

10

VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO

10

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
SVTH: ĐỖ TƯỜNG QUÂN

Trang 2


Tiểu luận QHPTNT


Tiểu luận QHPTNT

GVHD: BÙI VĂN HẢI

II.1. Hệ thống giao thông :

Hệ thống giao thông là hệ thống hạ tầng đặt biệt quan trọng đối với phát triển kinh
tế xã hội. Sự phát triển hệ thống giao thông quốc gia nối liền các vùng kinh tế xã hội khác
nhau với các trung tâm kinh tế xã hội của đất nước, sẽ có tác động lớn tới sự phát triển
của vùng nông thôn.
Hiện nay ở nước ta có 150.106 km đường bộ, trong đó 31.264km đường huyện,
91.216 km đường xã ôtô có thể đi đượcvà 35.700km đường sông. Tính đến hết nắm 1999,
cả nước đã nối đường ôtô đến 92,9% số xã. Đến nay trong 61 tỉnh, thành phố đã có 20
tỉnh, thành phố hoàn thành đường ôtô tới 100% xã.
Cần có công tác bảo dưỡng : các loại mặt đường cần có tuổi thọ nhất định và cần
được di tu bảo dưỡng định kỳ, luôn luôn giữ cho cống rãnh thoát nước được thông. bởi vì
ứ đọng nước trên đường không chỉ là mất vệ sinh, mà còn là nguyên nhân phá hỏng
đường nặng nhất.

II.2. Cung cấp nước :

SVTH: ĐỖ TƯỜNG QUÂN

Trang 4


Tiểu luận QHPTNT

GVHD: BÙI VĂN HẢI

GVHD: BÙI VĂN HẢI

Trong điều kiện xã hội hiện đại, thông tin là yếu tố có vai trò to lớn và nhiều khi có
ảnh hưởng quyết định tới sự phát triển kinh tế -xã hội và văn hoá. Xây dựng và phát triển
hệ thống thông tin hoàn chỉnh và hiện đại là một nhiệm vụ trọng yếu trong việc xây dựng,
phát triển hạ tầng đáp ứng đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn.
Đến nay, hệ thống bưu điện đã phục vụ 75% dân cư nông thôn. Tất cả các huyện
đã có điện thoại nội hạt, trong đó có 332 huyện có điện thoại tự động. Mạng lưới truyền
thanh, truyền hình đã phủ sóng tới hầu khắp các vùng nông thôn. Trong tổng số các xã có
40% xã có hệ thống truyền thanh của xã.
II.4. Hệ thống điện nông thôn :

SVTH: ĐỖ TƯỜNG QUÂN

Trang 6


Tiểu luận QHPTNT

GVHD: BÙI VĂN HẢI

Hệ thống điện nông thôn là toàn bộ các yếu tố cơ sở vật chất làm nền tảng cho
việc cung cấp điện sử dụng vào tưới tiêu, các hoạt động sản xuất và phục vụ sinh hoạt
nông thôn.
Đến năm 1994, nước ta đã xây dựng được hệ thống điện quốc gia thốg nhất, với
tổng công suất khoảng 4000 mv, tronh đó thuỷ điện chiếm 67,4%.Tổng lượng điện cung
cấp cho nông thôn(1000 km/h năm 1990 là 586,5; năm 1991 là 807,4; năm 1992 là 957,0;
năm 1993 là 1000 và 1994 khoảng 1166. .
Điện cung cấp cho nông thôn chủ yếu dùng để tưới tiêu, chiếm khoảng 40-50%,
còn lại dùng cho một số hoạt động sản xuất khác và sinh hoạt nông thôn.

Tiểu luận QHPTNT

GVHD: BÙI VĂN HẢI

thị hạng 3 trở lên; (ii) hỗ trợ đối với các xã đặc biệt khó khăn và (iii) hỗ trợ các xã còn
lại.
1.3. Đầu tư cấp điện: Nguồn vốn WB theo dự án năng lượng nông thôn đã được
phê duyệt dự án và có kế hoạch đầu tư; vốn khấu hao ngành Điện; vốn ngân sách theo các
chương trình, quyết định đang triển khai trên địa bàn tỉnh, trong đó kể cả đầu tư đường
dây hạ thế sau các trạm biến áp do ngành Điện đã đầu tư và vốn do nhân dân đóng góp
xây dựng đường nhánh rẽ hộ tiêu thụ, lắp đặt công tơ, máy thuỷ điện nhỏ.
Tổng ngân sách và vốn phân bổ cho xây dựng nâng cấp, bảo trì GTNT
Giai đoạn 2006 – 2020

III.1.2. Về quy hoạch, thiết kế các hệ thống công trình :
Đầu tư các công trình phải bám sát quy hoạch sắp xếp dân cư, phát triển sản xuất
trên từng địa bàn.
Trong đầu tư cần bám sát quy hoạch và tiến độ đầu tư các công trình thủy điện
trong từng khu vực để tính toán lợi dụng nguồn nước, kết hợp đầu tư cho hiệu quả.
Đổi mới công tác quy hoạch, gắn quy hoạch với kế hoạch. Việc xây dựng quy
hoạch kết cấu hạ tầng phải đặt trong quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, khắc phục tình
trạng điều chỉnh nhiều lần quy hoạch.
Khi khảo sát, thiết kế lưu ý việc lựa chọn nguồn nước ổn định, nhất thiết có ý kiến
của địa phương tránh tình trạng nhân dân tranh chấp nguồn nước giữa các thôn, giữa các
hộ; được nguồn nước sinh hoạt, mất nguồn nước cho thủy lợi.
Đối với những công trình cấp nước tập trung: đường ống thiết kế dùng ống nhựa
HDPE, những nơi địa chất là đá hoặc địa hình phức tạp mới dùng ống thép để giảm chi
phí đầu tư; Chủ yếu bố trí các bể chứa nước ở cụm hộ, hạn chế việc đầu tư bể và đường
ống đến từng hộ (phần này do hộ tự đầu tư).
SVTH: ĐỖ TƯỜNG QUÂN

đã ban hành Thông tư số 156/2009/TT-BTC, theo đó, từ ngày 16/9/2009, các dự án đầu tư
kiên cố hóa kênh mương, các dự án phát triển đường giao thông nông thôn, cơ sở hạ tầng
nuôi trồng thủy sản, cơ sở hạ tầng làng nghề nông thôn, sẽ được vay vốn tín dụng đầu tư
phát triển với lãi suất 0%.
Điều kiện vay là các chương trình, dự án phải phù hợp với yêu cầu, điều kiện của
địa phương, được cấp có thẩm quyền quyết định và có đủ thủ tục đầu tư xây dựng cơ bản
theo quy định của pháp luật, phải xác định rõ nguồn vốn để thực hiện các dự án, bao gồm
vốn của địa phương, vốn từ nguồn huy động đóng góp của nhân dân và vốn từ nguồn vốn
tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước. Trên cơ sở tổng mức vốn tín dụng phát triển hạ
tầng của Nhà nước được Thủ tướng Chính phủ giao hằng năm, căn cứ nhu cầu vay vốn
của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và khả năng trả nợ của ngân sách địa

SVTH: ĐỖ TƯỜNG QUÂN

Trang 9


Tiểu luận QHPTNT

GVHD: BÙI VĂN HẢI

phương. Bộ Tài chính quyết định mức vốn vay hằng năm đối với từng tỉnh, thành phố với
lãi suất 0%.
Việc cho vay vốn được thực hiện qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Sau 12
tháng, kể từ ngày giải ngân khoản vốn vay đầu tiên, bắt đầu trả nợ. Thời gian trả nợ là 4
năm, riêng đối với các tỉnh miền núi, các tỉnh có nguồn thu ngân sách nhà nước trên địa
bàn (thu nội địa) chỉ bảo đảm dưới 30% nhiệm vụ chi ngân sách địa phương thì thời gian
trả nợ là 5 năm.
Ngoài các chương trình, dự án kể trên, nếu các địa phương có nhu cầu đầu tư vào
dự án trạm bơm điện phục vụ tưới tiêu sản xuất nông nghiệp cũng sẽ được vay với lãi suất


Tiểu luận QHPTNT

GVHD: BÙI VĂN HẢI

đường ô tô đi lại được quanh năm, có 6.356 xã (chiếm 70%) đường ô tô được nhựa, bê
tông hóa.
Về thuỷ lợi: Tới nay, cả nước có trên 1.952 hồ chứa có dung tích chứa trên 0,2
triệu m3 nước; 10 ngàn trạm bơm, 1000km kênh trục chính...Tổng năng lực thiết kế tưới
của các hệ thống đảm bảo cho 11,45 triệu ha gieo trồng, trong đó tưới cho 6,85 triệu ha
đất lúa, 1 triệu ha rau màu; đảm bảo tiêu cho khoảng 1,71 triệu ha, ngăn mặn cho 0,87
triệu ha, cải tạo 1,6 triệu ha đất, cấp nước sinh hoạt, công nghiệp và dịch vụ trên 5 tỷ
m3/năm.Trong giai đoạn 2001 - 2005, năng lực tưới đã tăng thêm 575 ngàn ha, năng lực
tiêu tăng thêm 235 ngàn ha.
Về điện lưới quốc gia: Điện lưới quốc gia đã cấp điện cho 525/536 huyện đạt
97,95%; 10.522 xã phường có điện lưới quốc gia, đạt 96,80%; số hộ dùng điện lưới quốc
gia đạt 93,34%.
Về cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn: Đến cuối năm 2005,
đạt tỷ lệ 62% dân cư nông thôn đảm bảo cung cấp nước sinh hoạt đạt vệ sinh. Tới cuối
năm 2007, đã có 70% cư dân nông thôn có nước sinh hoạt hợp vệ sinh và có khoảng 30%
người dân được dùng nước đạt tiêu chuẩn của Bộ Y tế, 12% số xã có hệ thống thoát nước
thải chung...
Nhờ đầu tư cho hạ tầng nông nghiệp, nông thôn nên đã tạo điều kiện phát triển sản
xuất nông, lâm, ngư nghiệp và kinh tế nông thôn, giải quyết việc làm, nên thu nhập của
người dân đã được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn đã giảm rõ rệt. Trong 5 năm
2001-2005, giá trị sản xuất toàn ngành tăng 5,4%/năm, vượt mức mục tiêu Đại hội đảng
IX (4,8%), năm 2006 tăng 4,1%, năm 2007 tăng 4,6%. Năm 2006, thu nhập bình quân 1
hộ nông thôn đạt 26,1 triệu đồng, tăng 11,3 triệu đồng (75,8%) so với năm 2002; tỷ lệ hộ
nghèo nông thôn là 18% giảm 3,2% so với năm 2004. Năm 2002, tỷ lệ nhà kiên cố và bán
kiên cố ở khu vực nông thôn tương ứng là 12,58% và 59,19% thì năm 2006 tăng lên là

từ các khu vực ngoài Nhà nước khoảng 165 nghìn tỷ đồng (46%). Năm 2006, đầu tư ngân
sách cho nông nghiệp đạt 15%, bằng 7% giá trị sản xuất nông nghiệp, 1,3% GDP.
Trong thời gian tới nhu cầu về đầu tư cho cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn
mà Đảng, Nhà nước ta đặt ra cho những năm tới là rất lớn như:
Đến năm 2010 đảm bảo có đường ô tô đi lại 4 mùa đến tất cả các xã, cụm xã (trừ
hải đảo), 70% mặt đường được cứng hoá...Phấn đấu đến năm 2020 cấp đủ nước để khai
thác 11 triệu ha đất nông nghiệp; 80% diện tích đất nuôi trồng được cấo nước chủ động;
100% cư dân nông thôn có nước sạch và bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh... Đảm bảo điện cho
sản xuất nông nghiệp; Điện cho sinh hoạt; Chất lượng điện ở địa bàn nông thôn. Đến năm
2020, 100% hộ nông thôn có điện sử dụng...
V.KẾT LUẬN :
Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn trong một đất nước có gần 80% dân số sống
trong khu vực nông thôn là việc vô cùng cần thiết. Những năm qua mặc dù cơ sở hạ tầng
nông thôn đã được quan tâm và đầu tư nhưng mức độ phát triển ở nhiều nơi vẫn còn chưa
đáp ứng nhu cầu của người dân. Hi vọng trong thời gian tới Đảng và Nhà nước sẽ có
những chương trình hỗ trợ tích cực ( đầu tư vốn, nhân lực, chính sách….) để có thể phát
triển khu vực nông thôn một cách mãnh mẽ.

VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO :
- TLGD Phát triển công nghiệp và cơ sở hạ tầng nông thôn - Trần Minh Tâm- Khoa
KTCNMT- ĐHAG.
SVTH: ĐỖ TƯỜNG QUÂN

Trang 12


Tiểu luận QHPTNT

GVHD: BÙI VĂN HẢI


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status