THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG NÔNG THÔN HUYỆN GIA LÂM ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG THÔN NÔNG NGHIỆP - Pdf 64

THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG NÔNG THÔN HUYỆN GIA LÂM
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG NÔNG THÔN HUYỆN GIA LÂM
ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG THÔN
ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG THÔN
NÔNG NGHIỆP
NÔNG NGHIỆP

II.1.GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
II.1.1.Vị trí địa lý:
Huyện Gia Lâm nằm tại phía đông bắc thành phố Hà Nội, ngăn cách với
nội thành bởi sông Hồng. Huyện có 31 xã và 4 thị trấn được giới hạn như sau:
+ Phía Đông, Đông Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh.
+ Phía Nam, Đông Nam giáp tỉnh Hưng Yên.
+ Phía tây giáp sông Hồng (nối với Hà Nội qua cầu Long Biên và cầu
Chương dương).
+ Phía bắc giáp huyện Đông Anh.
Quan hệ giao lưu giữa nội thành Hà Nội và huyện Gia Lâm rất thuận lợi,
thông qua cầu Long Biên và cầu Chương Dương.
Gia Lâm có vị trí chính trị quan trọng do nằm ở cửa ngõ thủ đô Hà Nội-
trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của cả nước lại có thuận lợi về mặt đối
ngoại do là trung tâm của tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội- Hải Phòng-
Quảng Ninh. Sự phát triển của tam giác này sẽ là động lực quan trọng góp
phần thúc đẩy quá trình đô thị hoá, phát triển kinh tế xã hội của huyện.
Bên cạnh đó, do là đầu mối của các tuyến đường giao thông quan trọng
(bao gồm đường không, đường bộ, đường thuỷ và đường sắt) nối liền Hà Nội
và các tỉnh phía Bắc, với cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân… nên huyện Gia Lâm
có thế mạnh đặc biệt trong phát triển công nghiệp, xuất nhập khẩu, từng bước
chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, thương mại và
dịch vụ. Đây có thể được coi là lợi thế so sánh to lớn của Gia lâm hơn các quận,
huyện khác của Hà Nội. Hơn thế, là một huyện sát với trung tâm Hà Nội, quan
hệ giao thông thuận lợi, Gia Lâm sẽ là một điểm đón nhận các doanh nghiệp

+GTSX nông nghiệp 229,7 1195,9 19,2%
- Tổng mức bán lẻ hàng
hoá
xã hội
1 800 18033 10%
Nguồn: Niên giám thống kê+ Cục thống kê ( số liệu 1999)
Như vậy, Gia Lâm đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội
của thủ đô, là một trong những khu vực được coi là thuận lợi để phát triển
công nghiệp. Giá trị sản phẩm công nghiệp chiếm tỷ lệ 18,6% so với toàn
thành phố Hà Nội, trong tương lai khi các khu công nghiệp Đài Tư, Gia Lâm đi
vào hoạt động, quá trình phát triển kinh tế xã hội của huyện Gia Lâm sẽ càng
được đẩy nhanh. Thương mại, dịch vụ và du lịch sinh thái cũng là một thế
mạnh và là yếu tố kinh tế quan trọng của huyện, tuy nhiên tỷ trọng của ngành
so với thành phố chưa cao.
II.1.2.b. Thực trạng phát triển kinh tế xã hội:
Về tăng trưởng kinh tế:
Trong những năm gần đây nền kinh tế xã hội huyện Gia Lâm đã có những
chuyển biến tích cực, các thành phần kinh tế kể cả kinh tế tư nhân phát triển
nhanh chóng trên tất cả các lĩnh vực. Thu nhập dân cư từng bước được cải
thiện, đóng góp ngân sách gia tăng. Giá trị sản xuất tăng trưởng bình quân từ
1991- 1999 đạt khá cao, tốc độ trung bình là 25%/ năm, đặc biệt là sự gia
tăng do đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp và nhà máy trên địa bàn
những năm 1995- 1997.
Về chuyển dịch cơ cấu :
Thời gian qua, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện diễn ra rõ
nét, đặc biệt là cơ cấu công nghiệp – thương mại – dịch vụ tăng mạnh, cơ cấu
ngành nông nghiệp giảm dần. Nhóm ngành nông- lâm- ngư nghiệp đang có xu
hướng chuyển dịch theo hướng đô thị hoá, giá trị sản xuất bình quân hàng
năm tăng 4,6% (toàn thành phố Hà Nội tăng 6,3%), tỷ trọng trong cơ cấu kinh
tế chung giảm từ 15,93% (1991) xuống còn 4,31% (1999 ), dưới 4% năm 2000

II.2.1.a.Tình hình tiết kiệm và đầu tư:
Là một huyện ngoại thành, nguồn vốn chi cho đầu tư phát triển cơ sở hạ
tầng của huyện chủ yếu từ nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung của
thành phố và nguồn vốn sửa chữa chống xuống cấp và sự nghiệp kinh tế của
huyện. Trong đó tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ năm 1991- 2000 vào địa
bàn huyện khoảng 5425 tỷ đồng kể cả vốn đầu tư nước ngoài, có xu hướng
tăng hàng năm.
Cơ cấu vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn huyện
T
T
Nguồn vốn Đơn vị 1991 1994 1995 2000
Tổng số
Tỷđồng 197,7 296,9 1411,3 605
% 100 100 100 100
1. Ngân sách % 23,4 15,2 3,7 4,09
2. Doanh nghiệp Nhà nước % 70,8 48 15,1 57,85
3. Khu vực tư nhân và cá
thể
% 5,8 10,24 3,2 8,26
4. Đầu tư nước ngoài % 0 26,56 78 29,8
Nguồn: Cục thống kê Hà Nội
+ Trong những năm vừa qua đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách dành
cho các hoạt động sản xuất kinh doanh giảm từ 57% năm 1986 xuống 30%
năm 2000 với sự gia tăng tương ứng vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên,
theo bảng số liệu trên nguồn vốn bằng ngân sách cho huyện gần đây giảm cả
về số lượng và cơ cấu, chỉ có nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp là tăng.
Khu vực kinh tế tư nhân và cá thể chiếm tỷ lệ nhỏ. Chính vì vậy ngoài đầu tư
trực tiếp từ ngân sách, Gia Lâm là một trong nhiều địa phương đã có sáng
kiến huy động thêm sự đóng góp bằng tiền và sức lao động của nhân dân để
xây dựng và cải tạo mới hệ thống cơ sở hạ tầng.

Điều đáng nói là tương quan giữa đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước
trên địa bàn trong tổng đầu tư xã hội nhỏ hơn rất nhiều so với tổng lợi nhuận
sau khi nộp thuế và khấu hao cơ bản. Đây mới chỉ là trong doanh nghiệp Nhà
nước, còn các nguồn vốn khác cũng rất lớn như nguồn vốn tín dụng ngân
hàng, nguồn vốn huy động trực tiếp từ dân cư và các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh chưa kể đến.

Việc quản lý và sử dụng nguồn vốn huy động vào ngân sách chưa hợp lý,
thiếu rõ ràng, còn lãng phí và thất thoát lớn. Số vốn huy động được thông qua
hệ thống tổ chức tín dụng chủ yếu là ngắn hạn, do đó không đáp ứng được
nhu cầu đầu tư phát triển và chuyển đổi cơ cấu sản xuất của doanh nghiệp,
đặc biệt là không đáp ứng được nhu cầu đầu tư cho cơ sở hạ tầng. Bên cạnh
đó, số vốn huy động được không phát huy hết hiệu quả sử dụng, vẫn còn một
lượng vốn lớn đang bị ứ đọng không chuyển thành đầu tư được.
Vốn đầu tư trực tiếp của khu vực kinh tế tư nhân chủ yếu vẫn theo qui mô
nhỏ và tập trung vào các lĩnh vực thương mại, phục vụ tiêu dùng (khoảng
70% vốn đầu tư). Trong khi đó nhiều dự đoán cho thấy có hàng chục ngàn tỷ
đồng tiền tiết kiệm của dân cư đang cất giữ dưới dạng vàng, bạc, đá quý, tài
sản có giá trị, tiền mặt, ngoại tệ nhàn rỗi, chưa được chuyển thành vốn để đầu
tư và kinh doanh.
Mặt khác, chúng ta vẫn chưa xoá bỏ tâm lý thích hoạt động ngầm hơn
công khai theo pháp luật, tâm lý dấu giàu của người dân, tâm lý thích đầu tư
ngắn hạn hơn đầu tư dài hạn, thích thu hồi lại vốn nhanh hơn là tái đầu tư
tăng giá trị của đầu tư, thích những cái lợi trước mắt hơn là cái lợi lâu dài sau
này. Chính vì vậy, vấn đề đầu tư cho cơ sở hạ tầng còn rất nan giải chưa được
chú ý quan tâm thích đáng.
Tổng quát lại, mấy năm qua tình hình tiết kiệm và đầu tư đã có những
bước chuyển biến tích cực, đạt được điều này chúng ta đã phải cố gắng rất
nhiều trong công tác huy động vốn, công tác quản lý thu chi ngân sách, trong
việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn. Song những kết quả đạt được đó vẫn chưa

trường đã thay đổi căn bản về cơ cấu nhu cầu, cầu về những sản phẩm truyền
thống gần như đã bão hoà, dần được thay thế bằng những sản phẩm có chất
lượng cao hơn, hình thức đẹp hơn. Phần lớn những năng lực sản xuất được
đầu tư xây dựng trong những năm trước đây hầu như không đáp ứng được
yêu cầu đó, không còn khả năng giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng
sản phẩm dẫn đến khả năng cạnh tranh kém. Như vậy, có thể thấy rõ việc
chuyển đổi cơ cấu đầu tư, cơ cấu sản xuất là yêu cầu vừa cơ bản vừa cấp bách
của quá trình phát triển kinh tế hiện nay của huyện Gia Lâm. Sự thành công
của chuyển đổi cơ cấu kinh tế là yếu tố quyết định đối với thành công của quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Nguyên nhân chủ quan:
Chính sách tài chính quốc gia chưa bao quát và chưa khai thác hết các
nguồn thu của nhà nước và tài sản quốc gia. Trong quản lý vốn và tài sản của
huyện chưa xây dựng được cơ chế hợp lý đảm bảo thực hiện đúng vai trò của
mình. Chính vì vậy, quyền lợi, quyền hạn và trách nhiệm trong quản lý vốn và
tài sản bị phân tán và trong nhiều trường hợpkhông xác định rõ cơ quan Nhà
nước thực sự chịu trách nhiệm trước thành phố, trước Chính phủ và Quốc hội
về cách thức và hiệu quả sử dụng vốn và tài sản được giao. Trong quản lý chi
tiêu, gồm cả chi thường xuyên và chi cho đầu tư phát triển còn chưa được
thực hiện trên cơ sở những tiêu chuẩn và qui định phù hợp với tình hình hiện
nay, chưa hình thành được thước đo hợp lý cho định mức chi tiêu và hiệu quả
chi tiêu Ngân sách, chưa quán triệt nguyên tắc “ tiết kiệm là quốc sách”, chưa
quan tâm đúng mức đầu tư cho cơ sở hạ tầng.
Việc đổi mới doanh nghiệp Nhà nước theo hướng mở rộng quyền tự chủ
sản xuất kinh doanh chỉ mới thực sự thúc đẩy doanh nghiệp cố gắng sử dụng
hết năng lực hiện có, chưa tạo được động lực thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư
dài hạn, mở rộng qui mô, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
cũng như thay đổi cơ cấu vốn, chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Cơ chế quản lý lưu thông tiền tệ chưa hợp lý trước yêu cầu vừa đảm bảo

Cơ sở hạ tầng của ta còn yếu kém, không đáp ứng được yêu cầu của phát
triển kinh tế, gây hạn chế nhiều trong vấn đề đầu tư. Đây là một nguyên nhân
có tác hại lớn đối với việc thu hút vốn đầu tư cả trong nước và nước ngoài.
Tất cả các nguyên nhân trên dù là khách quan hay chủ quan chúng ta
cũng cần phải tìm cách khắc phục. Bởi vì, hậu quả cuối cùng đối tượng phải
gánh chịu là nhân dân, hơn nữa với việc khắc phục được những nguyên nhân
trên chúng ta sẽ tăng được khả năng tiết kiệm giành cho đầu tư phát triển,
thu hút được vốn nhàn rỗi trong dân cư và trong doanh nghiệp, thu hút vốn
đầu tư nước ngoài, nguồn vốn đầu tư dài hạn sẽ tăng, cơ sở hạ tầng được
phát triển, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế được
chuyển dịch.
II.2.2.Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuât và hạ tầng cơ sở:
II.2.2.a.Tình hình đầu tư mạng lưới điện:
Điện là nguồn năng lượng chủ yếu của quá trình sản xuất cũng như sinh
hoạt của nhân dân, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì nhu cầu về năng
lượng nói chung và điện nói riêng đều bùng nổ gây ra sức ép rất lớn đến cơ
cấu và chiến lược phát triển ngành năng lượng. Trong nhiều năm qua, ngành
điện đã có sự phát triển khá, đáp ứng được những mục tiêu chính yếu của
Đảng và Nhà nước đề ra. Điện giữ vai trò cơ bản cung cấp năng lượng cho
mọi hoạt động kinh tế, đặc biệt khi đời sống nhân dân ngày một cao thì nhu
cầu sử dụng càng được nâng lên. Do đó đầu tư xây dựng, bảo đảm nâng cấp
điện thường xuyên là điều cần thiết để đáp ứng nhu cầu đời sống cũng như
sản xuất được đảm bảo và liên tục.
Gia Lâm là huyện có tốc độ đô thị hoá nhanh thì điện ngày càng phải đáp
ứng đủ. Tuy nhiên:
+ Theo số liệu tổng hợp ( thời điểm 7/1999) trên địa bàn các xã có 83
trạm biến áp các loại với công suất: 23100 KVA. Tổng chiều dài đường dây
trung thế 34 km, đường trục hạ thế và các đường dây trục thôn, xóm 562 km
được phân bố trên địa bàn 30 xã. Phần lớn các trạm biến áp được xây từ lâu (
những năm 60, 70), hao tổn công xuất lớn, thường xảy ra quá tải.

đề án nông thôn: xoá bỏ cai thầu, bán điện tới hộ dân, giảm giá bán điện sinh
hoạt dưới giá trần, hạch toán đúng, đủ chi phí, đảm bảo an toàn và đáp ứng
ngày càng tốt hơn nhu cầu về điện cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.
Cùng với việc triển khai có kết quả các dự án đầu tư cải tạo nâng cấp
lưới điện bằng vốn ngân sách của thành phố, các xã đã tích cực tranh thủ, huy
động mọi nguồn vốn ( kể cả vốn vay) để chủ động nâng cấp lưới điện, phục vụ
cho sản xuất và tiêu dùng của nhân dân:
 Đầu tư cải tạo lưới điện bằng nguồn vốn của thành phố:
Năm 1999 huyện Gia Lâm có 3 xã được nâng cấp cải tạo lưới điện theo kế
hoạch của thành phố là Long Biên, Đặng Xá, Lệ Chi với tổng dự toán được
duyệt 4081 triệu đồng trong đó ngân sách cấp 2748 triệu đồng. Uỷ ban nhân
dân- ban chỉ đạo huyện giao Ban quản lý dự án cùng với UBND 3 xã trên tổ
chức thực hiện đến nay đã hoàn thành dự án, phần vốn ngân sách cấp gồm:
hoàn thành việc xây mới 6 trạm biến áp, cải tạo nâng công suất 3 trạm, di
chuyển 2 trạm. Xây mới các tuyến cao thế nối với các trạm biến áp gồm: Đặng
Xá 935m, Lệ Chi 700m, Long Biên 899m. Cải tạo trục hạ thế với tổng chiều dài
tuyến là: Đặng Xá 3455m, Lệ Chi 1897m, Long Biên 1663m.
Nhìn chung, các công trình trên được thực hiện đảm bảo đúng yêu cầu kỹ
thuật, đưa vào sử dụng giảm tổn thất, chất lượng điện được nâng lên đáng kể
( điện áp ổn định, đạt khoảng 180- 200 vôn vào giờ cao điểm ) giảm được giá
bán tới hộ dân.
 Đầu tư của các xã:
Bên cạnh việc đầu tư theo dự án, Uỷ ban nhân dân- Ban chỉ đạo huyện chỉ
đạo các xã tích cực huy động mọi nguồn vốn để cải tại nâng cấp lưới điện,
đảm bảo chất lượng điện phục vụ cho nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân.
Tính từ khi triển khai đề án điện đến nay các xã đã đầu tư 3351 triệu đồng
cho cải tạo nâng cấp, xây mới 10 trạm biến áp, nâng cấp các tuyến hạ thế…
các xã đầu tư nhiều là : Bát Tràng 1340 triệu, Đa Tốn 379 triệu, Dương Xá 220
triệu, Đông Dư 130 triệu, Kim Sơn 80 triệu đồng…
Việc đầu tư trên đã đáp ứng được một phần nhu cầu về điện và góp phần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status