ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI KHÂU LỖ THỦNG LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG - Pdf 34

1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI
KHÂU LỖ THỦNG LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG

Ngô Đức Đễ, Nguyễn Huy Đàn, Trần Quốc Vỹ,
Ngô Công Tùng, Nguyễn Hữu Huy, Quản Minh
Trị, Lê Anh Tuấn, Nguyễn Kim Kiên, Trần Hồ
Trung Thành, Dương Văn Ninh.

TÓM TẮT:
Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi khâu lỗ thủng loét dạ dày tá tràng tại
BV Đa khoa Đồng nai.

Phương pháp: Thử nghiệm lâm sàng không nhóm chứng. Thời gian từ 01-2011 đến
06-2012. Đối tượng: tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán viêm phúc mạc do thủng loét dạ
dày tá tràng thỏa mãn tiêu chí chọn bệnh được tiến hành phẫu thuật nội soi.

Kết quả: Trong thời gian 18 tháng chúng tôi thực hiện được 36 ca. Tất cả đều là BN
nam , tuổi trung bình 42,5 tuổi, có các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng kinh điển
của thủng loét dạ dày tá tràng. Thời gian PT trung bình là 80 phút, có 3 trường hợp
dùng 4 trocars còn lại 33 trường hợp dùng 3 trocars thông thường. Thời gian trung tiện
sau mổ là 2,66 ngày, sau 4,3 ngày thì rút dẫn lưu. Thời gian nằm viện khoảng 7 ngày.
Không có tai biến hay biến chứng nào. Tất cả BN đều hài lòng với phương pháp phẫu
thuật nội soi này .

Kết luận: Phẫu thuật nội soi khâu lỗ thủng loét dạ dày tá tràng là kỹ thuật mổ không
khó khăn, thời gian mổ và thời gian nằm viện cũng tương đương với mổ mở, các tai biến và
biến chứng cũng ít gặp nhưng mang lại giá trị thẩm mỹ cao giúp BN không phải chịu một
sẹo mổ dài như trong mổ mở.


dạ dày tá tràng tại BV.

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
1. Đánh giá kết quả PTNS khâu lỗ thủng ổ loét dạ dày tá tràng. Xác định tỉ lệ
thành công của phẫu thuật.
2. Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng.
3. Tìm hiểu một số yếu tố kỹ thuật trong quá trình phẫu thuật.


3

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu:
Thử nghiệm lâm sàng không nhóm chứng.
Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành trên các BN bị thủng loét dạ dày tá tràng được
chỉ định can thiệp PTNS tại BV Đồng nai bắt đầu từ tháng 01.2011 đến 6.2012.
Tiêu chí chọn bệnh:
- Tất cả các BN nhập viện được chẩn đoán viêm phúc mạc do thủng loét dạ
dày tá tràng.
Tiêu chí loại trừ:
Tất cả các BN nhập viện được chẩn đoán viêm phúc mạc do thủng loét dạ
dày tá tràng mà có các yếu tố sau đây đi kèm thì chúng tôi loại ra khỏi lô nghiên
cứu:
- Đang vô sốc.
- Có vết mổ cũ đường giữa.
- Có chống chỉ định chung của PTNS.
- Đã có kết quả nội soi ung thư dạ dày hoặc hẹp môn vị trước đó.
- Đang có xuất huyết tiêu hóa đi kèm.
Dụng cụ và phương pháp phẫu thuật:

thuật.
- Chăm sóc sau mổ:
● Dùng dịch truyền bù điện giải và nuôi ăn trong những ngày đầu. Tổng
cộng phải trên 2 lít mỗi ngày.
● Dùng kháng sinh Cephalosporine thế hệ 2 hoặc 3 + Aminoglucoside +
Metronidazole từ 1 tuần đến 10 ngày.
● Dùng giảm đau hạ sốt bằng Acetaminophene dạng truyền, kháng tiết acide
bằng ức chế bơm proton. Thêm các Vitamine đường chích.
● Ống sonde dạ dày được rút bỏ khi BN có trung tiện trở lại.
● Ống sonde tiểu được rút khi BN hồi tỉnh.
● Các dẫn lưu được rút khi không còn ra dịch bẩn.
Quản lý và xử lý số liệu: bằng phần mềm StataSE10.


5

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
Trong thời gian 18 tháng từ 01-2011 đến 6-2012, chúng tôi thực hiện được 36
trường hợp phẫu thuật nội soi khâu lỗ thủng loét dạ dày tá tràng, các kết quả số liệu
ghi nhận như sau:
1.
-

Lâm sàngvà cận lâm sàng:
Tất cả 36 BN đều là nam giới
Tuổi trung bình lả 42,5. Cao nhất là 61, thấp nhất là 16 tuổi.
Địa chỉ:
Bảng 1
Số BN
Tỉ lệ %

Đối tượng công nhân chiếm tỉ lệ nhiều nhất ( 19 ca, 52,78% )
- Thời gian khởi bệnh đến khi NV:
Bảng 3
Số BN
Tỉ lệ %
< 12h
11
30,56
12h – 24h
13
36,11
24h – 48h
9
25,00
>48h
3
8,33
36
100
Đa số các BN đều nhập viện sớm trong vòng 24h sau khi xuất hiện triệu
chứng đau bụng.
- Các triệu chứng lâm sàng khác:
Trong lô nghiên cứu của chúng tôi có khoảng một nửa số BN có tiền sử loét
dạ dày. Tất cà BN đều nhập viện vì đau bụng, trong đó chỉ có khoảng 1/3 số
BN có triệu chứng sốt đi kèm. Trên phim XQ hầu hết đều ghi nhận có liềm


6

hơi dưới hoành ( 94,44% ), trong khi đó chỉ có khoảng 60% siêu âm ghi

Độ lệch chuẩn

2.
-

-

Trị số tối thiểutối đa
7300 - 23300

Bạch cầu
12969
3665
3
( /mm )
Đường huyết
5,8
1,7
4,0 – 11,8
( mol/ L )
Hct
40,2
4,0
28,1 – 49,3
(%)
Các trị số trong mổ và sau mổ:
Thời gian phẫu thuật trung bình là 82 phút, ngắn nhất là 45 phút và dài nhất
là 120 phút.
Tình trạng ổ bụng quan sát trong mổ:
Bảng 6

2 - 10
Lượng khí CO2 dùng
152,19
53,82
58 – 330
Có trường hợp chúng tôi phải rửa với 10 lít nước vì bụng quá dơ và vì vậy
thời gian cuộc mổ cũng kéo dài hơn và lượng khí CO2 dùng bơm hơi ổ bụng
cũng nhiều hơn.
- Các trị số thời gian: ( đơn vị ngày )
Bảng 8
Trung bình
Độ lệch chuẩn
Tối thiểu – Tối
đa
T.gian trung tiện
2,6
0,6
1–4
sau mổ
T.gian rút dẫn
4,3
1,1
3–8
lưu
T.gian nằm viện
7,1
1,7
5 – 15
Trung bình


là 61,11% và kết luận thủng là 63,89%. Trong khi đó XQ cho thấy liềm hơi
dưới hoành là 94,44% trường hợp. Như vậy về phương diện CLS thì XQ
giúp chẩn đoán tốt hơn siêu âm trong trường hợp viêm phúc mạc do thủng
loét, đồng thời XQ cũng mang tính khách quan hơn so với siêu âm mang
tính chủ quan phụ thuộc vào người đọc.
Trong tiêu chí chọn bệnh, chúng tôi quan tâm nhiều đến tình trạng lâm
sàng, tuổi BN và các bệnh nội khoa đi kèm hơn là quan tâm đến thời gian
đau của BN. Trong lô nghiên cứu của chúng tôi đa số đều đến trước 24h, tuy
nhiên cũng có 3 trường hợp nhập viện sau 48h đau và chúng tôi cũng đã làm
phẫu thuật nội soi. Như vậy nếu BN đến muộn sau 48h mà tuổi còn trẻ, lâm
sàng ổn định không có sốc và không có bệnh nội khoa đi kèm thì chúng ta
cũng có thể can thiệp nội soi. Những BN đến muộn mà lâm sàng ổn định
chứng tỏ tình trạng viêm phúc mạc không nặng nề do lúc thủng thì dạ dày
trống.
Nhiều báo cáo cho thấy tỉ lệ thất bại phải chuyển mổ mở là khoảng
5%(1),(3),(4),(9). Tất cả 36 BN của chúng tôi đều được can thiệp phẫu thuật nội
soi và không có trường hợp nào phải chuyển mổ mở, và chúng tôi cũng chưa
gặp biến chứng nào. Đó là do số liệu của chúng tôi tương đối ít, phẫu thuật
này mới được triển khai nên chúng tôi chọn bệnh rất nghiêm ngặt do đó tỉ lệ
thành công này chưa có ý nghĩa thống kê.
Thời gian mổ trung bình của chúng tôi là 82 phút, ngắn nhất là 45 phút
lâu nhất là 120 phút. Thời gian này theo các báo cáo khác như sau:
Bảng9:
Tác giả
N
Thời gian trung bình (phút)
Siu
63
42
Lunevicius R.

Bảng trên cho thấy thời gian mổ của chúng tôi cũng không khác biệt mấy
so với các báo cáo khác. Chúng tôi ghi nhận thời gian mổ phụ thuộc vào
trình độ kinh nghiệm của phẫu thuật viên, tình trạng nhiễm bẩn trong xoang
bụng do BN đến muộn sẽ làm cho cuộc mổ kéo dài do phải mất thời gian
bơm rửa. Ngoài ra thời gian mổ kéo dài còn do ảnh hưởng của tổng trạng
BN , các dụng cụ dùng trong mổ và cả sự phối hợp ăn ý của cả ê kíp.
Chúng tôi dùng nước muối sinh lý để rửa ổ bụng với số lượng từ 2-10 lít.
Lượng khí CO2 dùng để bơm hơi ổ bụng từ 58-330 lít. Nước rửa và khí
CO2 nhiều hay ít thì tùy thuộc vào tình trạng nhiễm bẩn của ổ bụng và thời
gian kéo dài cuộc mổ. Chính vì vậy nếu dự đoán bụng BN rất bẩn do đến
muộn và BN lớn tuổi, có khả năng kéo dài cuộc mổ thì nên chọn mổ mở
ngay từ đầu để mang lại sự an toàn .
Kỹ thuật đóng lỗ thủng có nhiều cách, có thể khâu đơn thuần, khâu chữ
X, có đắp mạc nối hoặc không. Đa số các tác giả đều dùng mũi khâu chữ X
có kèm đắp mạc nối và chỉ Vicryl 2.0. Chúng tôi khâu chữ X, hoặc khâu mũi
rời 2 lớp bằng soie 2.0 hoặc 3.0 và không đắp mạc nối. Việc sử dụng Vicryl
sẽ mất thời gian làm nhiều nơ nên chúng tôi sử dụng soie chỉ cần buộc 3 nơ
là đủ. Tác giả Đoàn Văn Trân tán thành quan điểm đắp mạc nối còn Trần
Bình Giang, Nguyễn Anh Dũng, Hoàng Thanh Bình, Trần Kiến Vũ thì chỉ
khâu đơn thuần (3),(9),(18),(20).
Kỹ thuật và vị trí đặt trocar của chúng tôi cũng tương tự như các tác giả
khác. Chúng tôi vào trocar rốn đầu tiên sau đó là trocar 5 ở HSP và trocar 10
ở HST. Có 3 trường hợp khó do bụng có nhiều mỡ và bị gan che khuất lỗ
thủng khó khâu nên chúng tôi phải vào thêm trocar thứ 4 giữa HST và rốn
để thực hiện thao tác. Lỗ trocar 5 ở HSP sẽ được dùng làm nơi đặt dẫn lưu
khi kết thúc cuộc mổ. Có 6 trường hợp chúng tôi đặt 2 dẫn lưu vì dịch bẩn
giả mạc quá nhiều nên phẫu thuật viên không yên tâm, sợ áp xe tồn lưu, 1
dẫn lưu được đặt ở gầm gan vắt lên trước chổ khâu lỗ thủng 1 dẫn lưu đặt ở
Douglas, cả 2 dẫn lưu này đều ra chung lỗ trocar 5 ở HSP. Nghiên cứu của
các tác giả khác chỉ thấy đặt 1 dẫn lưu. Chúng tôi rút dẫn lưu trung bình sau

3. Tỉ lệ thành công của phẫu thuật nội soi khâu lỗ thủng loét dạ dày tá
tràng là rất cao. Kỹ thuật mổ không khó, thời gian phẫu thuật không
quá dài, thời gian nằm viện không lâu, ít tai biến và biến chứng. Phẫu
thuật này cho kết quả rất tốt, mang lại giá trị thẩm mỹ, tất cả các BN
đều hài lòng vì không bị đau nhiều và không bị vết sẹo mổ dài như
trong mổ mở.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1.
2.
3.
4.

5.
6.

Bergamashi R, Marvic R. Open versus Lacparoscopic repair of perforated peptic
ulcer. Surg Endosc-Ultras 1999;13: 679-682.
Boey
J, Wong
J, Ong GB.
A
Prospective
study
of
operative
factors in perforated peptic ulcer. Ann Surg 1982: 195-269. .
Bs Nguyễn Văn Dũng, Bs Đỗ Đình Công. Khâu thủng loét dạ dày tá tràng qua nội soi ổ
bụng. Tạp chí Y học TP HCM 2008.
Darzi A CNJ, Somers S. S, Super P.A, Guillou P.J, Monson J.R.T., . Laparoscopic omental

20.

tràng bằng phẫu thuật nội soi.Tạp chí y học tp Hồ Chí Minh2006;Tập 10:114-120.
Hoàng Văn Bình NNP, Nguyễn Xuân Phương, Nguyễn Hồng Minh. Nhận xét kết quả phẫu
thuật nội soi khâu lỗ thủng ổ loét dạ dày hành tá tràng tại Bệnh viện 175. Y học TP Hồ
Chí Minh 2008;12.
Katkhouda N MJ, Arregui M.E, Fitzgibbons R.J.Jr., Kakhouda N, McKernan J.B, Reich H.
Treatment of complications of peptic ulcer. Principles of laparoscopic surgery: Basic and
Advanced Techniques 1995; New York: Springer Verlag: 260-267.
Lau W.Y LKL, Kwong K.H, Davey L.C, Chung S.C.S, Dawson. J.J.W, Li. , A.K.C. A randomized
study comparing laparoscopic versus open repair of perforated peptic ulcer using suture
or sutureless technique. Ann Surg 1996; 224 (2): 1131-1138.
Marescaux J. Ulcèle duodénal perforé et laparoscopie. Chirurgie digestive par
laparoscopie;Masson 1997: 137-147.
Mouret P FY, Vignal J, Barth X, Platet R.L. . Laparoscopic treatment of perforated peptic
ulcer. Br J Surg 1990; 77: 1006.
Mouret P,Franois Y,etal.Lacparoscopic treatment of perforated peptic ulcer. Br J surg
1990;77:1006.134: 845-850.
Nathason LK, Easter DW, Cushiery A. Lacparoscopic repair.peritoneal toilet of
perforated duodenal ulcer Surg - Endosc 1990; 4: 232-233.
Nguyễn Đình Hối. Thủng dạ dày tá tràng. Bệnh lý phẫu thuật dạ dày tá tràng, Trường Đại
học Y dược TP HCM 1989: 91-104.
Nguyễn Văn Dũng. Khâu thủng loét DDTT qua ngả soi ổ bụng. Luận văn thạc sĩ y học
1999.
Nguyễn Anh Dũng ĐĐC, Nguyễn Thanh Minh, , Phan Minh Trí. Nhận xét khau
thủng dạ dày tá tràng qua ngả nội soi ổ bụng. Ngoại khoa 2000: 40-45
Trần Thiện Trung.Xử trí thủng ổ loét dạ dày tá tràng.Tạp trí y học thực hành. 2000;383:
46-48.
Trần Thiện Trung. Kết quả bước đầu của khâu thủng ổ loét dạ dày tá tràng kết hợp
với diệt trừ Helicobacter pylory. Ngoại khoa 2000;4: 8-14.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status