TÓM LƯỢC
Qua thời gian thực tập tại công ty cổ phần thời trang Jin Việt Nam, cùng sự hướng
dẫn tận tình của PGS.TS Phan Thị Thu Hoài và những nỗ lực nghiên cứu, tìm tòi của
bản thân, em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Phát triển phối thức xúc
tiến thương mại sản phẩm jeans kids của công ty cổ phần thời trang Jin Việt Nam
trên địa bàn Hà Nội”
Nội dung của đề tài được tóm lược như sau:
Chương I: Nêu tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm các vấn đề: tính cấp thiết,
mục tiêu nghiên cứu cũng như phạm vi nghiên cứu của đề tài. Trong chương này, em
đã nêu rõ vấn đề cấp thiết khi đi tới lựa chọn đề tài này.
Chương II: Đưa ra một số vấn đề lý luận về XTTM và phát triển XTTM sản phẩm
của công ty kinh doanh. Đó là một số định nghĩa, khái niệm cơ bản của xúc tiến
thương mại, phối thức xúc tiến thương mại...cụ thể là lý thuyết của Phillip Kotler và
thầy GS.TS Nguyễn Bách Khoa. Đồng thời tìm hiểu một số công trình nghiên cứu sản
phẩm của các năm trước. Và để làm rõ hơn đề tài, em đã đưa ra thêm phát triển phối
thức xúc tiến thương mại sản phẩm của công ty kinh doanh.
Chương III: Giới thiệu tổng quan về công ty cổ phần thời trang Jin Việt Nam. Sử
dụng các phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp và sơ cấp để nghiên cứu về
thực trạng phối thức XTTM sản phẩm quần áo jeans kids của công ty qua ý kiến của
khách hàng và những nhà quản lý của công ty. Qua đó đánh giá các nhân tố ảnh hưởng
đến phát triển XTTM sản phẩm quần áo jeans kids của công ty.
Chương IV: Các kết luận và đề xuất phát triển phối thức xúc tiến thương mại sản
phẩm quần áo jeans kids của công ty cổ phần thời trang Jin Việt Nam. Trên cơ sở lý
thuyết và thực trạng phát triển XTTM sản phẩm quần áo jeans kids của công ty, đưa ra
những thành công, một số tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại đó. Dựa vào các
dự báo triển vọng, những phương hướng và mục tiêu công ty đề ra để đề xuất một số
giải pháp và kiến nghị để hoàn thiện phát triển XTTM sản phẩm mới.
Kết quả của khóa luận này, em hi vọng sẽ giúp công ty cổ phần thời trang Jin Việt
Nam giải quyết các vấn đề về phối thức xúc tiến thương mại sản phẩm jeans kids tại
thị trường Hà Nội hiện nay và cả trong tương lai có thể cạnh tranh với các đối thủ cạnh
tranh, duy trì và phát triển trong thị trường khó khăn như hiện nay.
DANH MỤC BẢNG BIỂU
3
DANH MỤC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ
4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
XTTM: Xúc tiến thương mại
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
CP: Cổ phần
5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG
XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI SẢN PHẨM ĐỒ JEANS TRẺ EM CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN THỜI TRANG JIN VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
1.1 Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài.
Hiện nay trên thế giới công nghệ đang không ngừng phát triển một cách chóng
mặt, luôn tạo ra những sản phẩm mới cải tiến nhằm hạn chế những nhược điểm của
sản phẩm hiện tại. Sản phẩm mới có nhiều tính năng, công dụng, đáp ứng được nhiều
yêu cầu của khách hàng hơn. Sản phẩm mới làm cho sức cạnh tranh của công ty cao
hơn so với các công ty khác từ đó tạo ra và nâng cao vị thế so với các đối thủ cạnh
năm trước.
Trong nước, phát triển hoạt động XTTM đến nay không còn là một vấn đề mới, đã
có rất nhiều các công trình nghiên cứu trước đây về đề tài này. Trong quá trình học tập
ở trường em đã có những nhận thức nhất định về XTTM và tầm quan trọng của nó. Trong
một vài năm gần đây đã có một số sinh viên tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề này như:
Đề tài : “ Phát triển XTTM sản phẩm sữa Nguyên kem Nuti của công ty TNHH
Dịch Vụ và Thương Mại Đạt Lộc trên thị trường Hà Nội”, sinh viên Lê Minh Hồng –
K45C6 trường Đại Học Thương Mại nghiên cứu.
Đề tài: “ Phát triển hoạt động XTTM sản phẩm bia Saigon Special của công ty
CP thương mại Sabeco Bắc Trung Bộ tại thị trường Hà Nội” do sinh viên Lê Thị Thùy
Linh – K45C trường Đại Học Thương Mại nghiên cứu.
Đề tài: “Phát triển XTTM dịch vụ thiết kế website của công ty Cp Dữ Liệu &
Truyền Thông Đại Việt” do sinh viên Trần Thị Hà – K45C7 trường Đại Học Thương
Mại nghiên cứu.
Những đề tài này đã đưa ra hệ thống lý thuyết khá đầy đủ về vấn đề phát triển
XTTM cho công ty kinh doanh, cũng đã đưa ra những dẫn chứng cụ thể về việc phát
triển này, và một số giải pháp phát triển, tuy nhiên, hiện tại chưa có đề tài nào nghiên
cứu về vấn đề phát triển hoạt động XTTM của sản phẩm jeans kids của Công Ty Cổ
Phần Thời Trang Jin Việt Nam.
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu và các vấn đề của đề tài nghiên cứu
Khoá luận này nhằm đề xuất giải pháp phát triển hoạt động XTTM sản phẩm quần
áo jeans kids tại Công Ty Cổ Phần Thời Trang Jin Việt Nam. Đầu tiên là hệ thống hoá
về hoạt động xúc tiến thương mại cho sản phẩm quần áo jeans kids tại công ty cổ phần
thời trang Jin Việt Nam. Tiếp theo nghiên cứu thực trạng hoạt động xúc tiến thương
mại, từ đó tìm ra thành tựu, hạn chế của hoạt động xúc tiến thương mại sản phẩm quần
áo jeans kids tại công ty cổ phần thời trang Jin Việt Nam, và cuối cùng là đề xuất giải
7
nhuận của công ty, dựa vào báo cáo tài chính được công bố tại các kỳ họp của công ty
trong 3 năm gần đây, tức năm 2012-2014 (lưu trữ tại phòng kế toán). Số liệu về ngân
sách dành cho hoạt động xúc tiến đối với sản phẩm jeans kids tại công ty, và phần trăm
phân bổ ngân sách cho các công cụ xúc tiến thương mại cho riêng sản phẩm quần áo
jeans kids đối với từng giai đoạn cụ thể của các năm 2012 đến 2014 (lưu trữ tại phòng
kinh doanh). Và số liệu báo cáo sơ bộ về hiệu quả hoạt động kinh doanh sản phẩm
jeans kids qua các thời kỳ từ năm 2012 đến năm 2014 (lưu trữ tại phòng kinh doanh).
Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu sơ cấp.
8
• Từ việc nghiên cứu dữ liệu thứ cấp cho thấy, số liệu có được là chưa đủ
để đánh giá về hiệu quả của hoạt động xúc tiến thương mại sản phẩm quần áo
jeans kids tại Jin Việt Nam (Jin Jeans), đồng thời xu hướng cần thiết để truyền
thông sản phẩm này đến với đối tượng nhận tin mục tiêu. Do vậy các dữ liệu sơ
cấp cần thu thập: Những thông tin phản hồi từ phía khách hàng về các hoạt
động XTTM của công ty đối với sản phẩm đèn trang trí nội thất, những đánh
giá của nhân viên công ty về các hoạt động XTTM của công ty, hay đánh giá
của nhà quản trị về hoạt động XTTM của công ty hiện nay.
• Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp:
Điều tra khách hàng: sử dụng bảng câu hỏi để điều tra khách hàng đề từ đó có
những thông tin sơ cấp liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định mua của
họ; thái độ của họ đối với nhân viên bán, mặt hàng, giá cả,…đánh giá và nhận xét của
họ về các hoạt động XTTM của công ty cho sản phẩm đèn trang trí nội thất mà công ty
đang tiến hành so với các đối thủ cạnh tranh cũng như mong muốn của khách hàng về
hoạt động xúc tiến trong tương lai của công ty. Em sẽ sử dụng mẫu là 30 khách hàng,
đối tượng cụ thể bao gồm 2 nhóm khách hàng: khách hàng cá nhân và khác hàng là tổ
chức. Đối với khách hàng là cá nhân tới các cửa hàng mua hàng trực tiếp, em sẽ phát
phiếu điều tra và nhờ họ trả lời phiếu điều tra. Đối với nhóm khách hàng là tổ chức,
phẩm đồ jeans trẻ em của công ty Cổ phần thời trang Jin Việt Nam trên địa bàn Hà
Nội.
10
CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẪN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT
TRIỂN HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾNG CỦA CÔNG TY KINH DOANH
2.1. Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản
2.1.1. Một số khái niệm.
a)
Xúc tiến thương mại.
Xúc tiến thương mại là thuật ngữ xuất hiện trong kinh tế học từ những năm đầu
của thế kỷ 20 cùng với sự hình thành và phát triển của khái niệm marketing. XTTM
gắn liền với hoạt động của thị trường và Marketing vì XTTM là một bộ phận không
thể tách rời trong mô hình Marketing hỗn hợp (Marketing mix) của bất cứ doanh
nghiệp nào, bất cứ nền kinh tế nào. Có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về XTTM.
Theo định nghĩa chung thì XTTM được hiểu là: “Bất kỳ nỗ lực nào từ phía người
bán để thuyết phục người mua chấp nhận thông tin của người bán và lưu trữ nó dưới
hình thức có thể phục hồi lại được”.
Xuất phất từ góc độ công ty, XTTM được hiểu một cách tổng hợp và cụ thể như
sau: “XTTM là một lĩnh vực hoạt động Marketing đặc biệt và có chủ đích được định
hướng vào việc chào hàng chiêu khách và xác lập một quan hệ thuận lợi nhất giữa
công ty và bạn hàng của nó với tập khách hàng tiềm năng trọng điểm nhằm phối hợp
và triển khai năng động chiến lược và chương trình Marketing - mix đã lựa chọn của
công ty”.
Còn theo quan điểm của GS.TS Nguyễn Bách Khoa thì XTTM là “Một lĩnh vực
cốt lõi của truyền thông Marketing nhằm mở rộng tư duy, hiểu biết của khách hàng về
những lợi ích, ưu thế vượt trội và kích thích, thu hút các khách hàng tiềm năng thành
XTTM làm cho việc bán hàng dễ dàng và năng động hơn, đưa hàng vào kênh phân
phối và quyết định lập các kênh phân phối hợp lý. Qua hoạt động XTTM các nhà kinh
doanh có thể tạo ra được những lợi thế về giá bán. Do vậy XTTM không phải chỉ là
những chính sách biện pháp hỗ trợ cho các chính sách sản phẩm, giá và phân phối mà
còn làm tăng cường kết quả thực hiện các chính sách đó.
2.1.3. Mô hình XTTM tổng quát
Công ty thương mại
Mã hóa
Thông điệp
Kênh truyền thông
Giải mã
Người nhận
Phản hồi
12
Đáp ứng
Nhiễu cản trở
Hình 2.1 : Mô hình quá trình xúc tiến tổng quát
( Giáo trình Marketing thương mại trang 321, GS.TS. Nguyễn Bách Khoa)
Mô hình này bao gồm 4 nhóm nhân tố sau:
•
Người gửi và người nhận: là đại diện cho đối tác truyền tin
Người gửi: là công ty hoặc cá nhân nào đó có nhu cầu gửi tin cho khách hàng mục
tiêu của họ
Người nhận: là đối tượng nhận tin – thông điệp do người gửi truyền tới
• Thông điệp và kênh truyền thông: là biểu thị của công cụ truyền tin
Giải mã
Thông điệp
Mã hóa
Nhiễu
Liên hệ ngược
Phản ứng đáp lại
Kênh
Tr. thông
H.2.1. Mô hình quá trình truyền thông
14
(Nguồn: Quản trị marketing – Phillip Kotler)
Theo mô hình trên, để đạt được hiệu quả trong truyền thông, các công ty phải xác
định được rõ muốn truyền thông cái gì từ đó mã hoá thành các thông điệp. Tuy nhiên,
quá trình mã hoá và giải mã có thể khác nhau do sự tác động từ môi trường ngoài, do
vậy cần liên tục kiểm tra phản ứng đáp lại của người nhận tin để đánh giá hiệu quả của
hoạt động truyền thông nhằm làm gia tăng hiệu quả. Theo như mô hình này, vấn đề
đầu tiên doanh nghiệp cần phải xác định là xác định người nhận mục tiêu, những hành
vi và môi trường xung quanh họ. Tiếp đến doanh nghiệp xác định mục tiêu truyền
thông, tức là những mong muốn về sự đáp lại của người nhận tin mục tiêu đối với hoạt
động truyền thông của công ty. Sau đó, mã hoá mục tiêu đó thành những thông điệp cụ
thể, thông điệp phải đảm bảo nội dung, bố cục, nội dung và hình thức sao cho có hiệu
quả. Đồng thời lựa chọn cách thức truyền tải thông điệp đó tới đối tượng nhận tin mục
tiêu một cách hợp lý và hiệu quả nhất. Xác định một mức ngân sách dành cho hoạt
động XTTM. Và cuối cùng là theo dõi phản ứng đáp lại của người nhận tin đối với
được nghiên cứu theo quan điểm của GS.TS Nguyễn Bách Khoa.
2.3. Phân định nội dung vấn đề phát triển hoạt động xúc tiến sản phẩm quần
áo jeans kids của công ty cổ phần thời trang Jin Việt Nam.
2.3.1. Quy trình thực hiện hoạt động xúc tiến sản phẩm
2.3.1.1 Xác định người nhận tin trọng điểm và lượng giá sự chấp nhận.
Xác định người nhận tin trong điểm
Doanh nghiệp khi tiến hành truyền thông phải xác định rõ người tiếp nhận thông
tin và đặc điểm của họ. Người nhận tin chính là khách hàng mục tiêu của công ty bao
gồm khách hàng hiện tại hoăc khách hàng tiềm năng, những người quyết định hoặc
những người tác động đến việc mua hàng của công ty. Đối tượng nhận tin có thể là
từng cá nhân, những nhóm người, những giới cụ thể hoặc quảng đại công chúng.
Từ việc nghiên cứu môi trường và hành vi của người nhận tin, doanh nghiệp có
thể nhận diện được sự chấp nhận của người nhận tin đối với hình ảnh, hoặc có thể
16
kiểm tra sự chấp nhận đối với hình ảnh của công ty và của đối thủ cạnh tranh hiện có
trên thị trường.
Lượng giá sự chấp nhận của tập khách hàng trọng điểm về mặt hàng
Các công ty trên thị trường đều đạt được một thị phần xác định đó là sự chấp nhận
của tập khách hàng trọng điểm về mặt hàng. Những thay đổi trong thị phần phản ánh
các hiệu lực hợp nhất của hoạt động công ty và các đối thủ cạnh tranh cùng những
thay đổi trên thị trường. Những thay đổi trên thị trường đến thay đổi sự chấp nhận của
khách hàng có nguyên nhân từ các chương trình xúc tiến của công ty và đối thủ cạnh
tranh đòi hỏi phải có thêm dữ kiện từ khách hàng. Muốn vậy phải tiến hành một quan
trắc người tiêu dùng để đáp ứng với một hỗn hợp nhãn hiệu chỉ ra được phần trăm
người tiêu dùng biết đến mặt hàng đó, phần trăm người có ý định lớn nhất về một nhãn
hiệu và thị phần kỳ vọng của nó.
Đảm bảo danh tiếng của một mặt hàng hoặc một nhãn hiệu.
-
Làm nổi bật một yếu tố, một đặc tính của một mặt hàng hay một nhãn hiệu.
-
Đưa lại một hình ảnh cho một mặt hàng, một nhãn hiệu, một công ty.
-
Kích thích sự thương mại hóa sản phẩm.
-
Kích thích những hình thức khác của giao tiếp (ví dụ: quảng cáo, xúc tiến bán hàng
của những người bán lẻ đặc quyền).
2.1.2.3 Xác định ngân sách xúc tiến thương mại
Phương pháp xác định ngân sách XTTM
Các công ty thường xác định ngân sách xúc tiến theo 4 phương pháp thông thường
sau:
•
Phương pháp căn cứ vào mục tiêu và nhiệm vụ: Phương pháp này yêu cầu các doanh
nghiệp phải hình thành ngân sách truyền thông của mình trên cơ sở những mục tiêu,
•
dung sau:
- Nội dung thông điệp.
Nội dung của thông điệp phải có khả năng gây chú ý nhằm tạo ra một gợi dẫn tạo
được sự đáp ứng kỳ vọng. Có ba loại gợi dẫn chủ yếu như: gợi dẫn duy lý, gợi dẫn
cảm tính, gợi dẫn đạo đức.
Gợi dẫn duy lý: liên hệ tới lợi ích của người nhận, thông thường thông điệp tạo lời
dẫn này nói lên lợi ích mà người nhận nhận được khi sử dụng sản phẩm.
Gợi dẫn cảm tính: thường tạo ra những cảm giác tích cực hoặc tiêu cực nào đó
nhằm kích thích sự tò mò cho người nhận tin và dẫn đến hành động mua.
Gợi dẫn đạo đức: hướng đến tự ý thức cải thiện nơi khách hàng. Ví dụ: thúc giục
khách hàng ủng hộ các mục tiêu có tính chất xã hội như môi trường, giúp đỡ người
khó khăn.
- Cấu trúc thông điệp.
Một thông điệp cần có cấu trúc rõ ràng, rành mạch, tránh sử dụng các câu có cấu
trúc phức tạp hay đa nghĩa. Có thể lựa chọn đưa ra các kết luận hay để người nhận tự
kết luận.
- Hình thức thông điệp.
Thông điệp phái được thể hiện dưới hình thức hấp dẫn, lựa chọn những từ ngữ đơn
giản và gần gũi với người sử dụng. Chất lượng giọng, âm, nhịp điệu phải tạo nên sự
chú ý của người nhận.
Quyết định lựa chọn kênh truyền thông.
19
Công ty cần quyết định lựa chọn kênh truyền thông có tính chất cá biệt hay đại
chúng.
- Kênh có tính cá nhân
Trong kênh này, hai hay nhiều người sẽ trực tiếp giao tiếp lẫn nhau hoặc có thể
qua điện thoại, thư từ… Kênh này có hiệu quả khá cao do có thể nhận được phản hồi
ngay sau khi đưa thông tin đến với khách hàng. Tuy nhiên, độ bao phủ của nó không
quan trọng trong hoạt động XTTM của công ty kinh doanh do mức độ bao phủ của
quảng cáo khá lớn trong một khu vực thị trường.
Đặc trưng của quảng cáo.
Quảng cáo mang một số nét đặc trưng sau:
Tính đại chúng. Quảng cáo là một hình thức truyền thông mang tính đại chúng rất
cao. Bản chất đại chúng của nó đem lại tính chính thức cho sản phẩm và cũng tạo nên
một tiêu chuẩn của hàng hóa. Quảng cáo không nhắc đến một đối tượng cụ thể mà nói
chung chung. Thông thường, quảng cáo chỉ đưa thông tin chung về sản phẩm, hoặc
nhắc nhở người tiêu dùng đến sản phẩm mà doanh nghiệp đang cung cấp.
Tính lan truyền. Quảng cáo là một phương tiện lan truyền nhanh, cho phép người
bán lặp lại một thông điệp nhiều lần. Nó cũng cho phép người mua nhận và so sánh
thông điệp của các đối thủ cạnh tranh khác nhau. Quảng cáo với quy mô lớn do người
bán tiến hành cũng nói lên một điều tốt về quy mô, khả năng và sự thành đạt của người
bán.
Sự diễn đạt khuếch đại. Quảng cáo tạo ra những cơ hội để giới thiệu công ty và
sản phẩm của nó bằng cách sử dụng khôn khéo hình ảnh, âm thanh và màu sắc. Tuy
nhiên đôi khi tác dụng biểu cảm rất mạnh của công cụ này có thể làm mờ nhạt hay
đánh lạc hướng sự chú ý đến thông điệp.
Tính vô cảm. Quảng cáo không có tính chất ép buộc như trường hợp đại diện bán
hàng của công ty. Công chúng không cảm thấy mình có bổn phận phải chú ý hay
hưởng ứng. Quảng cáo chỉ có thể thực hiện độc thoại chứ không phải đối thoại với
công chúng.
2.3.2.2 Bán hàng cá nhân.
Một hình thái đặc biệt kết nối giữa hoạt động chào hàng do cá nhân đại diện
thương mại và nhân viên bán hàng trực tiếp tiến hành với vị thế một khâu tác nghiệp
của quá trình bán hàng nhằm tìm kiếm, phát hiện và thuyết phục khách mua hàng
Theo ý khách hàng: Thông điệp có thể được soạn thảo theo ý khách hàng để hấp
dẫn cá nhân người nhận.
Cập nhật: Có thể soạn thảo rất nhanh rồi gửi đi cho một người nào đó.
2.3.2.4 Quan hệ công chúng.
Xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp với các giới công chúng khác nhau bằng cách
làm cho nhiều người biết và có thiện cảm với mình, xây dựng một “hình ảnh” tốt đẹp,
và xử lý hay ngăn chặn những đàm tiếu, câu chuyện, vụ việc bất lợi.
Đặc trưng hoạt động quan hệ công chúng.
Tín nhiệm cao: Nội dung và tính chất của thông tin có vẻ xác thực và đáng tin cậy
hơn đối với người đọc so với quảng cáo.
Không cần cảnh giác: Quan hệ công chúng có thể tiếp cận đông đảo khách hàng
triển vọng mà họ thường né tránh tiếp xúc với nhân viên bán hàng và quảng cáo.
Thông điệp đến với người mua dưới dạng tin sốt dẻo, chứ không như truyền thông
thương mại.
Giới thiệu cụ thể: Giống như quảng cáo, quan hệ công chúng có khả năng giới
thiệu cụ thể công ty hay sản phẩm.
2.3.2.4 Xúc tiến bán
22
Là các hoạt động marketing chuyên biệt bao gồm những chỉnh sửa trong một
khoảng thời gian xác định việc chào hàng cơ bản của công ty theo hướng đưa ra một
lợi ích đặc trưng thuận lợi cho một tập khách hàng tiềm năng và một tập mặt hàng
trọng điểm xác định.
Đặc trưng hoạt động xúc tiến bán.
trẻ em Jin Jeans Kids đã trở thành sự lựa chọn đầy tin tưởng của các ông bố, bà mẹ.
3.1.2. Ngành nghề kinh doanh chính.
Jin Jeans Kids chuyên kinh doanh sản xuất mặt hàng may sẵn quần áo trẻ em chất
liệu jeans thô và mềm. Tập trung sản xuất quần áo, váy trẻ em cho bé trai và bé gái từ
6 tuổi đến 15 tuổi. Lấy tiêu chí chất lượng, kiểu dáng và sức khỏe của các bé lên làm
đầu, nên mọi nguyên vật liệu, nhân công luôn được công ty lựa chọn rất kỹ càng và
cẩn trọng. Mẫu mã đa dạng, những bộ sưu tập thời trang độc đáo, được thiết kế xinh
xắn với các sản phẩm quần áo jeans như: quần short yếm mickey, áo gilê, sơ mi cho bé
trai và bé gái, chân váy jeans…
Bán buôn cho các shop quần áo trẻ em, các nhà phân phối…và bán lẻ cho bố mẹ
các bé từ 6 đến 15 tuổi.
24
3.1.3
Cơ cấu tổ chức và quản lý của công ty
3.1.3.1
Cơ cấu tổ chức và quản lý công ty.
Sơ đồ 3.1: Cơ cấu tổ chức quản lý
Giám đốc
Bộ phận kho hàng
Bộ phận tài chính - kế toán
Bộ phận kinh doanh
Bộ phận kỹ thuật
Nguồn: Phòng kinh doanh
Tại Jin Jeans Kids có tổng số nhân viên làm viêc tại công ty là: 30 người. Trong đó