LẠI BÀN VỀ PHƢƠNG CÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ
ĐẶC SẮC CỦA DÂN CA HÒ, VÍ, GIẶM
Nhạc sĩ Thanh Lƣu()
PHẦN 1
MẤY NÉT KHÁI QUÁT VỀ DÂN CA HÒ, VÍ, GIẶM
Từ xa xưa, Nghệ Tĩnh là phên dậu, là biên giới phía Nam của Quốc gia Đại Việt.
Trong tiến trình lịch sử, nơi đây đã hình thành hai vùng văn hoá dân gian (cả vật thể và
phi vật thể) mang sắc thái riêng cùng song song tồn tại. Đó là văn hoá dân gian các dân
tộc thiểu số, sống rải rác khắp miền Tây rộng lớn và văn hoá dân gian của người Việt
(dân tộc kinh), sống ở miền trung du, đồng bằng và ven biển. Trong kho tàng văn hóa dân
gian ấy, thì dân ca Hò Ví Giặm là loại hình tiêu biểu, mang sắc thái bản địa rõ nét nhất,
được xem như một thứ đặc sản văn hóa quý báu của quê hương xứ Nghệ.
Quê hương, chẳng những là một không gian địa lí với những núi sông biển trời, gốc
đa giếng nước, hay một bề dày lịch sử với những dấu tích bi thương và oai hùng qua
những thử thách gian nan chống chọi với thuỷ - hỏa - đạo - tặc, mà còn là những khúc
dân ca mộc mạc ân tình, mênh mang mà sâu lắng, đằm thắm mà dung dị, nó gắn bó với ta
suốt cuộc đời, qua bao thăng trầm lịch sử. Dầu cho vật đổi sao dời, dầu phải đi xa nơi
chân trời góc bể, nhưng mỗi khi nghe những âm điệu gần gũi thân quen ấy nơi quê nhà
vang vọng, hẳn trong sâu thẳm cõi lòng ta lại trào lên bao nỗi niềm thương nhớ, với
những kí ức xa xăm ngọt bùi cay đắng. Phải chăng dân ca là tinh hoa của đất mẹ, là hồn
nước là tình quê.
Để xây dựng một nền văn nghệ mới Việt Nam đậm đà tính dân tộc, nhất thiết phải
coi trọng việc sưu tầm, nghiên cứu và phát huy nguồn văn hóa văn nghệ dân gian nói
chung, dân ca nói riêng. Việc này phải được tiến hành khẩn trương, bởi vì dân ca chỉ tồn
tại đồng thời với sự tồn tại của các nghệ nhân dân gian, mà phần lớn những nghệ nhân đó
đều đã ở vào tuổi "xưa nay hiếm" đang gần đất xa trời, nếu không kịp thời khai thác thì e
rằng vốn cổ quý báu ấy sẽ đi theo các cụ về thế giới bên kia, vậy là ta vô tình mắc lỗi với
cha ông, mắc lỗi với cả con cháu sau này.
Ý thức được điều đó, nhiều thập kỉ qua, các nhà nghiên cứu VHDG nói chung, dân ca
xứ Nghệ nói riêng như: Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, Thái Kim Đỉnh, Trần Hữu
hàng chục hàng trăm câu, và mỗi câu cũng không nhất nhất 5 chữ mà có thể là 4 chữ hoặc 6,
7 chữ (do lời thơ biến thể). Đặc tính chung của giặm là tự sự, tự tình, kể lể khuyên răn phân
trần bày giải, cũng có khi dí dỏm khôi hài châm biếm trào lộng, hoặc trữ tình giao duyên.
III. Thể Hò
Hò có những làn điệu như: hò dô, hò khoan, hò dật, hò đầm đất, hò xeo gỗ, hò trên
sông, hò tình tang... Điệu thức Hò thường mang màu sắc trưởng với quãng 4 đúng đặc trưng
nghe rất sáng và khỏe. Khúc thức Hò thường kết cấu hai đoạn, đoạn I cho người "xướng" tự do
theo thể thơ dân tộc, đoạn II cho tập thể "xô" bằng các âm hò dô khoan, theo tiết tấu đều, tạo
nên xung lực mạnh mẽ trong lao động, đấy là hình thức “nhất hô bách ứng" rất có hiệu quả.
Đặc tính chung của hò là mô phỏng các nhịp điệu lao động. Tuy vậy, vẫn có khi là hò hài
hước và cả hò trữ tình giao duyên.
IV. Các thể hát khác
Ngoài 3 thể hát nêu trên, dân ca xứ Nghệ còn có những điệu hát khác như: Hát ru,
hát đồng giao, hát sắc bùa, hát cầu đồng, tế lễ, hát báo ân, làn dọc, làn tiên, ngâm thơ, lẩy
Kiều, hát xẩm, hát ca trù, hát Tuồng - Chèo... Các thể hát này chỉ một số ít làn điệu có
nguồn gốc Nghệ, còn phần nhiều là xuất xứ từ các vùng miền khác du nhập vào đây, qua sự
giao thoa trong thời gian dài dần dần được Nghệ hóa ít nhiều, do vậy mà gọi là "hệ lai".
Nhìn chung hệ lai rất phong phú về chủng loại, đa dạng về kết cấu điệu thức, âm sắc có
nhiều nét mới lạ.
V. Môi trƣờng và tính chất diễn xƣớng
Qua tìm hiểu và nghiên cứu về không gian môi trường và tính chất diễn xướng ta có thể
khẳng định rằng: Dân ca xứ Nghệ là một hình thái Văn hóa dân gian, chứ không hẳn là một
hình thái nghệ thuật dân gian. Nó có những tính năng đặc sắc sau đây:
1. Hát gắn với không gian và môi trường lao động khi cấy cày gặt hái, đắp đập
đào mương, chăn trâu cắt cỏ (môi trường đồng quê); tung chài kéo lưới, chèo chống
thuyền bè, đánh bắt hải sản (môi trường sông nước); đốn củi đốt than, bứt tranh, kéo gỗ,
bóc măng , làm rẫy , (khai thác lâm sản, môi trường rừng núi); quay tơ dệt vải, đan lát,
làm thủ công mỹ nghệ (môi trường xóm thôn).
hát đồng giao, hát xẩm, hát ca trù, hát tuồng chèo và cả hát cải biên, các đĩa CD, VCD ấy đều
có nhạc đệm cho thêm phần hấp dẫn. Nay nếu lập hồ sơ đệ trình UNESCO thì nên in một tập
bản phổ trong phạm vi Hò, Ví, Giặm thôi. Song song với bản in đó, cũng nên thâu một đĩa
CD gồm những làn điệu Hò, Ví, Giặm tiêu biểu nguyên gốc y như xưa, không nhạc đệm.
Để bảo tồn không gian văn hóa này, một mặt cần duy trì và phát tri ển các câu lạc
bộ dân ca cơ sở trong toàn tỉnh, mặt khác cần phục dựng lại nguyên dạng các hình thức
diễn xướng dân gian trên sông nước, trên ruộng đồng, trên núi non , trong thôn xóm và
trong nhà. Chẳng hạn như: tổ khúc hò lao động (hò đắp đê, hò bơi thuyền trên sông, hò
xeo gỗ, hò đi đường…), cảnh hát ví giao duyên, cảnh hát giặm xẩm, hát giặm ru (Mẹ
giòng than thở cùng con), hát giặm kể (Phụ tử tình thâm), đặc biệt là hát phường vải, một
hình thức diễn xướng rất đặc sắc. Ngày xưa hát phường vải không hẳn là để khoe giọng
các “ca sĩ”, cũng không phải để khoe nhạc điệu hay, cái chính là để thử tài đối đáp, thi
thố tài năng ứng tác văn chương chữ nghĩa kiến thức điển tích giữa đôi bên trong cuộc
hát. Vả lại trai thanh gái lịch đi hát phường vải phần là do nhu cầu tìm hiểu “đối tác” để
trao đổi tâm tình kết bạn giao duyên. Bởi vậy mà nó có sức lôi cuốn đến kỳ lạ, chỉ có vài
làn hát đơn điệu thôi, thế mà họ đối đáp với nhau thâu đêm suốt sáng vẫn không nhàm
chán. Nói về phường vải, năm kia Nhà hát dân ca Nghệ An cũng đã d ựng diễn hoạt cảnh
“Đêm trăng phường vải” xem rất hấp dẫn, được Đài PTTH Nghệ An đem d ự thi PTTH
toàn quốc và đã được tặng giải vàng. Tuy nhiên đó chưa phải là một cuộc hát phường vải
nguyên bản, bởi hoạt cảnh ấy đã được nghệ thuật hóa, dùng đến các thủ pháp ước lệ, cách
điệu, tượng trưng theo kiểu sân khấu, đưa cả làn hát cải biên vào, đưa cả tốp múa tập thể
vào, đưa phông cảnh vẽ cây đa bến nước bờ đê vào, đưa cả trang phục biểu diễn sân khấu
bắt mắt vào, nội dung đối đáp chưa thật sắc sảo, tuần tự các chặng hát cũng chưa thật
sống động logic. Tóm lại “Đêm trăng phường vải” chỉ là một tiết mục nghệ thuật trình
diễn đã được cải biên. Nếu muốn đệ trình UNESCO thì ta nên phục dựng lại cảnh hát
phường vải nguyên xi y như xưa ở một không gian thực, hát thô không nhạc đệm, không
tô vẽ màu mè gì cả. Để làm được điều đó trước hết cần một kịch bản gốc thật chuẩn, sau
đấy sẽ tiến hành dàn dựng một cách tỉ mỉ công phu , do những người thật am hiểu lối hát
hội làng Sen, Ân tình xứ Nghệ, Mời bạn về thăm xứ Nghệ quê tôi...
c. Phát triển bằng hình thức sân khấu hóa (dân ca kịch). Qua hàng chục năm nghiên
cứu và thể nghiệm, với hàng chục vở lớn nhỏ, đủ các thể loại bi - hài - hùng như : Không
phải tôi, Khi ban đội đi vắng, Cô gái sông Lam, Đầu bến sông, Hoa đất, Trắng hoa mai,
Vụ án kỳ lạ, Đốm lửa núi Hồng... Đến vở Mai thúc Loan (1985), kịch hát dân ca Nghệ
Tĩnh đã nghiễm nhiên trở thành một thành viên mới trong đại gia đình kịch hát dân tộc
Việt nam. Từ đó đến nay đoàn dân ca Nghệ An (và Hà Tĩnh) lại tiếp tục dàn dựng nhiều
vở nổi tiếng khác. Chính từ cái nôi dân ca này đã nẩy nở nhiều nghệ sĩ tài năng, trong đó
có những NSƯT như: Song Thao, Xuân Năm, Đức Duy, Hồng Năm, Danh Cách, Đình
Bảo, Tiến Dũng, Lệ Thanh, Hồng Lựu, Minh Tuệ, An Phúc,…
Như vậy, rõ ràng dân ca Hò, Ví, Giặm đã có bước phát triển về chất, đó là sự chuyển
hoá từ hình thức ca hát dân gian, đến ca nhạc chuyên nghiệp, rồi ca kịch sân khấu.
Chúng ta đều biết rằng dân ca thuần tuý thường chỉ tồn tại trong môi trường diễn xướng
dân gian, nhưng khi đưa dân ca vào kịch tức là đi vào mâu thuẫn xung đột, buộc dân ca
phải chuyển tải một nội dung lớn hơn, sâu sắc hơn, đa dạng tính cách hơn, nhiều tâm
trạng phức tạp hơn, tầm tư tưởng lớn hơn. Để biểu đạt được những điều đó thì trước hết
phải sân khấu hoá dân ca, bởi khi đó Hát là hành động, là nội tâm, là tính cách của nhân
vật. Do yêu cầu nội tại của kịch, nếu ta chỉ giới hạn trong mấy làn điệu cổ thì không thể
nào đáp ứng được tính đa dạng của sân khấu, do vậy ngoài việc ứng dụng các làn điệu
gốc, còn phải sáng tạo thêm nhiều "làn điệu" mới (đa dùng hoặc chuyên dùng) mang âm
hưởng Hò, Ví, Giặm, cấu trúc theo khúc thức "mở" dân gian, lời hát theo các thể thơ dân
tộc. Trong quá trình thể nghiệm, một loạt làn điệu cải biên ra đời rất có hiệu quả như:
Giận mà thương, Hát khuyên, Đại thạch, Tứ hoa, Xẩm thương, Xẩm chợ, Một nắng hai
sương, Tình sâu nghĩa nặng, Em giữ lời nguyền, Khóc cha, Cuộc đời nổi trôi, Ai cứu
chàng... (biểu đạt tâm trạng); các điệu: Con cóc, Xoay xở, Lập lờ, Lập loè, Đi rao, Đèo
bòng, Khen Thầy tài, To gan, Uất ức, Bướm say hoa, Chồng chềnh, Lòng vả lòng sung...
(khắc họa tính cách); hoặc như: Vào hội đông xuân, Đứng thẳng người lên, Gốc lúa
quầng trăng, Cha ơi ngồi dậy mà xem, Hỡi công nông binh, Hò vượt sông... (gây không
khí sôi nổi hào hùng). Có thể nói các làn điệu mới sáng tạo bổ sung đã phần nào thỏa
mãn được những đòi hỏi cấp thiết của công cuộc sân khấu hoá dân ca xứ Nghệ, qua sàng
trúc này mà người hát có thể co giãn một cách linh hoạt khi kết hợp với ngữ khí ngữ điệu,
các động tác hình thể (vũ đạo) để biểu đạt các sắc thái tình cảm và tính cách nhân vật.
- Về nhạc tính, Dân ca Nghệ Tĩnh vừa đượm đà chất trữ tình (bâng khuâng sâu lắng,
tha thiết ân tình) ở trong các điệu ví, vừa giàu chất tự sự (Tự thuật, kể chuyện, phân trần
bày giải) ở trong các điệu giặm vè, vừa có tính chất khoẻ khoắn, vui nhộn hài hước ở
trong các điệu hò.
- Về diễn xướng dân gian, Dân ca Nghệ Tĩnh có thể kể ra mấy loại diễn xướng sau:
+ Hát có lề lối, như hát phường vải chẳng hạn, từ hát chào hát hỏi, đến hát đối đáp,
sau đó là hát mời, hát xe kết, và cuối cùng là hát tiễn.
+ Hát tự sự, tức là thông qua hình thức giặm vè để kể lại một sự việc, một sự kiện
xẩy ra trong làng ngoài xã, hoặc kể về một giai thoại, một sự tích nào đó, người kể (hát
nói) thường biểu thị thái độ khen chê rõ ràng.
+ Hát tự tình (hát nội tâm), nghĩa là mượn câu hát để bộc lộ nỗi lòng sâu kín, những
uẩn khúc cuộc đời, những bất công oan trái...
+ Hát nhà nghề (chuyên nghiệp hoá). Đó là các gánh hát ca trù, các ông thầy cúng,
các ông Xẩm hát rong...
+ Hát gắn với môi trường lao động, khi thuyền ngược thuyền xuôi, khi quăng chài
kéo lưới, khi đắp đập đào mương, cấy cày, gặt hái, khi kéo gỗ, bứt tranh, bóc măng, đốn
củi...
Như vậy ta thấy dân ca Nghệ Tĩnh tự thân đã chứa đựng những yếu tố sân khấu rồi.
Nói cách khác thì tính sân khấu ở dân ca Nghệ Tĩnh đã vốn có tự thân trong cấu trúc,
trong nhạc tính và trong diễn xướng dân gian. Đó chính là tiền đề cho việc sân khấu hoá.
2. Yếu tố sân khấu tiền kịch, đó là sự chuyển hoá phức hợp từ diễn xướng dân gian
đến trình diễn nghệ thuật, như các hình thức kể vè, đối ca, hoạt ca, hoạt cảnh bên lửa trại
sân đình hội quán trong những năm kháng chiến chống Pháp, rồi phát triển mạnh vào
thập kỷ 60 (TKXX) với những: "Chiếc xe đầu", "Ngô khoai tranh đấu", "Hỏi ai quan
trọng", "Thần sấm ngã", "Áo xanh áo nâu ", "Giặt áo bên phà Bến thuỷ", "Trước lúc lên
đường"...
hiện đặc thù, mới có khả năng miêu tả (phản ánh) được cuộc sống như vậy. Rõ ràng tính
quy luật ở đây là cái được phản ánh (cuộc sống) quy định (đề ra) cái phản ánh (nghệ thuật
sân khấu). Suy ra thì đấy là một dạng thức của phạm trù nội dung (cuộc sống) quyết định
hình thức (loại hình nghệ thuật).
2. Cuộc sống con người có hai nhu cầu cơ bản, đó là nhu cầu về vật chất và nhu cầu
về tinh thần. Nhu cầu ở mỗi người, mỗi lúc, mỗi nơi là hữu hạn, nhưng nhu cầu chung
của con người là vô hạn. Cuộc sống của con người tự đề ra nhu cầu và rồi con người lại
phải tìm cách tạo ra cái để đáp ứng, để thoả mãn nhu cầu đó. Ví như: Con người cần có
ăn, có ở, có mặc, do vậy con người phải lao động để tạo ra cái ăn, cái ở, cái mặc. Nhu cầu
vật chất ấy không chỉ dừng lại ở một mức độ nhất định, mà nó đòi hỏi càng ngày càng
cao hơn. Về đời sống tinh thần cũng vậy, nhu cầu thẩm mỹ của con người không chỉ
dừng lại ở ca dao, thơ Đường luật, chuyện ngụ ngôn, mà cần có cả thơ hiện đại tự do
phóng khoáng hơn, rồi truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết... Không chỉ dừng lại ở dân
ca, dân nhạc, dân vũ, mà cần cả ca kịch, nhạc kịch, vũ kịch... Như vậy tính quy luật ở đây
là từ nhu cầu thẩm mỹ nghệ thuật mà đẻ ra các loại hình loại thể nghệ thuật. Đó là một
dạng thức của quy luật cung - cầu.
3. Tìm hiểu về các loại hình kịch hát dân tộc ta thấy rằng không một kịch chủng nào
được hình thành một cách ngẫu nhiên và tức thời hoàn thiện cả. Nó đều trải qua một quá
trình vận động tự thân, đấy là quá trình kế thừa và sáng tạo, kế thừa cái đã có, sáng tạo
cái cần có. Đó cũng là quá trình vừa khẳng định vừa phủ định, khẳng định cái đích thực
nó, phủ định cái không phải là nó. Sân khấu là nghệ thuật tổng hợp và mang tính nguyên
hợp, do đó quá trình hình thành cũng chính là quá trình chuyển hoá phức hợp từ thấp đến
cao, từ nông đến sâu, từ thô đến tinh, từ đơn diện đến đa diện. Lấy sân khấu chèo chẳng
hạn, từ dân ca đồng bằng và trung du Bắc bộ, đến dân ca - chèo, rồi đến sân khấu chèo là
một quá trình chuyển hóa như vậy. Tìm hiểu về sân khấu Tuồng, sân khấu Cải lương, sân
khấu ca kịch Bài chòi, ca kịch Huế cũng đều diễn tiến như vậy. Rõ ràng tính quy luật ở
đây là sự chuyển hóa từ dân ca đến ca kịch là sự chuyển hoá phức hợp - tự thân - tất yếu mang tính quá trình.
4. Nghiên cứu về đặc trưng của sân khấu dân tộc, ta thấy đều có những điểm chung
trúc theo sân khấu tự sự truyền thống, song thấp thoáng vẫn thấy bóng dáng kịch Drame
lẻn vào ở lớp này lớp kia, màn này màn nọ...
- Về phƣơng pháp diễn xuất (phương pháp mô tả). Mục đích của chúng ta là tạo dựng
một loại hình sân khấu kịch hát Nghệ Tĩnh theo hướng kịch hát dân tộc, vậy trước hết
phải tiếp thu tính tổng thể ở sân khấu kịch hát tự sự truyền thống, đó là sự kết hợp đồng
thời một cách hài hòa nhất quán giữa các thành tố của sân khấu như: ngôn ngữ (phát âm /
nói), thanh nhạc (hát), vũ đạo (động tác hình thể) và diễn xuất để thể hiện cái tâm lý bên
trong của nhân vật, hay để bàn luận một sự kiện, hoặc là để chỉ về không gian thời gian...
Nói đến nghệ thuật sân khấu thì tính ước lệ, cách điệu và tượng trưng là thế mạnh sở
trường, nó không những không làm giảm tính hiện thực mà còn tăng thêm tính thẩm mỹ,
tránh được tự nhiên chủ nghĩa. Đó là nghệ thuật hiện thực ước lệ tinh tế và thi vị. Tuy
nhiên đôi khi nội dung kịch đòi hỏi sự thể hiện phải chân xác hơn thì có thể ứng dụng thủ
pháp diễn xuất hiện thực tâm lý. Tóm lại là phải xuất phát từ nội dung mà có sự cân nhắc
chọn lựa những thủ pháp biểu hiện thích hợp, nhằm tạo được hiệu quả sân khấu tối đa.
Hiệu quả đó là tính tư tưởng, tính thẩm mỹ, là sự hài hòa giữa hình thức và nội dung, là
sự nhất quán về phong cách.
- Về âm nhạc (chủ yếu là xử lý làn hát), sân khấu kịch hát, nhất là kịch hát truyền
thống đều là nghệ thuật tổng thể mang tính nguyên hợp. Các thành tố sân khấu như: âm
nhạc - múa - ngôn từ - mỹ thuật... đều có mối quan hệ hữu cơ biện chứng. Tuy vậy, mỗi
thành tố ấy lại có vai trò chức năng riêng của nó. Trước hết ta nói đến vai trò của âm
nhạc (điệu hát) trong sân khấu kịch hát như thế nào? Chúng ta đều biết rằng: Ca hát là
nguồn gốc sâu xa và là cơ sở cho sự hình thành nên kịch hát dân tộc. Có lẽ hát Chèo Tuồng có trước sân khấu chèo tuồng; ca cải lương, ca Huế, hô bài chòi có trước sân khấu
cải lương, ca kịch Huế và ca kịch Liên khu V. Tương tự như thế, hát ví giặm đã có từ xa
xưa, còn kịch hát Nghệ Tĩnh thì chỉ mới hình thành gần đây thôi. Vậy là rõ ràng mối
quan hệ giữa âm nhạc (ca hát) với sân khấu (kịch chủng) là mối quan hệ có tính nhân quả. Ở đây thì âm nhạc là nhân. Mặt khác ta cũng thấy rằng: Có Thị Mầu lên chùa mới có
điệu hát cẩm giá, bình thảo; có Tuần Ty - Đào Huế mới có điệu dậm chân chạy Huế; có
Súy Vân giả dại mới có điệu gà rừng, quá giang; có lớp kịch vợ ngăn chồng đi buôn lậu
mới có điệu hát Giận mà thương; có cu Phi tháo trộm nước mới có điệu con cóc, trời
nhân vật và cách điệu các động tác hình thể. Ngoài ra vũ đạo sân khấu còn là để giải
phóng cơ thể, rèn luyện kỹ xảo và định hình phong cách kịch chủng. Vì vậy múa sân
khấu có vai trò hết sức quan trọng. Tuy nhiên để sáng tạo ra một hệ thống vũ đạo riêng
cho một kịch chủng thật vô cùng khó khăn, có khi phải mất hàng trăm năm. Ngay như ca
kịch Huế, ca kịch Bài chòi đã hình thành cách đây gần trăm năm rồi mà vẫn chưa tạo
được những nét vũ đạo riêng cho mình. Đối với kịch hát Nghệ Tĩnh hiện nay cũng chỉ
mới cách điệu những động tác giản đơn. Làm thế nào để hình thành được một hệ thống
vũ đạo cơ bản quả là rất nan giải. Hướng giải quyết trước mắt là: Một mặt vay mượn ở
sân khấu truyền thống những nét vũ đạo thích hợp rồi tìm cách ứng biến Nghệ hoá nó,
mặt khác khai thác kho tàng múa dân gian địa phương rồi tìm cách sân khấu hóa những
động tác cơ bản mà ứng dụng vào vở diễn. Tuy nhiên, nếu là vở hiện đại thì cũng không
quá câu nệ bởi các thứ vũ đạo rườm rà lê thê, mà phải linh hoạt hơn, tự do phóng khoáng
hơn. Có như vậy thì mới miêu tả được chân thực cuộc sống mới, con người mới khỏi
khiên cưỡng.
- Về ngôn từ âm sắc: Ngôn ngữ, ngoài chức năng giao tiếp và tư duy, còn có chức
năng thẩm mỹ. Ngôn ngữ có những đặc tính như: tính hình tượng, tính biểu cảm, tính
hàm súc... Trong mỗi Quốc gia thường có quốc ngữ, phương ngữ và tộc ngữ. Ngày xưa,
từng miền, từng vùng, từng địa phương, từng dân tộc đều ít nhiều có tính biệt lập, ít giao
lưu thông thoáng, do đó ngôn từ cũng ít phát triển. Ngày nay cuộc sống cởi mở hơn thông
thoáng hơn, sự giao tiếp rộng rãi hơn, ngành nghề cũng đa dạng hơn, khoa học công nghệ
và văn hóa nghệ thuật thì liên tục phát triển, do đó lượng và chất của ngôn ngữ cũng ngày
càng thêm phong phú và đa dạng, những tín hiệu quy ước của ngôn ngữ cũng được mở
rộng và phát triển không ngừng. Dĩ nhiên trong sự phát triển của tiếng Việt có sự phát
triển của tiếng địa phương và tiếng dân tộc. Cái riêng nhiều màu sắc thì cái chung càng
phong phú, nó có tác dụng bổ trợ cho nhau theo khuynh hướng giảm dần thổ âm địa
phương và tăng dần tiếng phổ thông. Đấy là nói về ngôn ngữ chung, còn ngôn từ - tiếng
nói trên sân khấu là loại ngôn từ đặc biệt, được cách điệu cao so với tiếng nói thông
thường, bởi ngôn từ sân khấu là để biểu diễn chứ không phải để đọc như trong văn bản,
hoặc là để tư duy như trong nhận thức khoa học, hay để giao tiếp như trong cuộc sống
bình thường. Ngôn ngữ sân khấu phải đảm bảo cho được ngữ điệu, ngữ khí, ngữ phong...
Không phải tôi, Khi Ban đội đi vắng, Xem mặt, Chuyện nhà, Hai cặp pin, Một lá đơn,
Đầu bến sông, Cô gái sông Lam, Đốm lửa núi Hồng, Hoa đất, Vụ án kỳ lạ (Nghêu sò ốc
hến), Trắng hoa mai, Bão táp cửa Kỳ Hoa, Ông vua hóa hổ, Hai ngàn ngày oan trái,
Linh hồn của đá (Hòn vọng phu), Lời thề thứ 9, Chăm Xa May, Quyền được hạnh phúc,...
Về sau này khi tái chia tách 2 tỉnh Nghệ An - Hà Tĩnh, hai đoàn lại tiếp tục dàn dựng
nhiều vở mới có chất lượng nghệ thuật cao được đông đảo công chúng trong và ngoài
tỉnh mến mộ. Tuy nhiên việc khen chê trong nghệ thuật còn tuỳ thuộc vào trình độ và
năng lực cảm thụ, vào sở trường và thị hiếu thẩm mỹ, vào sự am hiểu bộ môn nghệ thuật
đó hay không của từng đối tượng công chúng. Vấn đề là chúng ta phải biết chắt lọc sự
khen chê cho xác đáng với thái độ bình tĩnh khách quan và cầu thị.
Sự nghiệp tạo dựng một loại hình sân khấu mới cho quê hương xứ sở quả là vô cùng
gian nan. Để đi tới định hình kịch chủng còn phải trải qua nhiều thể nghiệm công phu
nghiêm túc có tính học thuật cao. Bởi thế Nhà hát Dân ca Nghệ An nay là Trung tâm
BT&PHDS Dân ca xứ Nghệ nên xác đ ịnh rõ chức năng thể nghiệm để hành xử một cách
khoa học hơn, bài bản hơn. Mong rằng Trung tâm sẽ kiên trì tiếp tục sự nghiệp cao cả
này với tinh thần cầu thị để có những vở diễn xứng tầm cả về nghệ thuật và cả về phương
diện khoa học thực nghiệm.