ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ HẢI NHƢ
PHÁP LUẬT VỀ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG HÀNH NGHỀ LUẬT SƢ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử Nhà nƣớc và pháp luật
Mã số
: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ TRỌNG HÁCH
Hà Nội – 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
2.2.1. Tổ chức quản lý, theo dõi và kiểm tra, giám sát vi phạm hành
chính trong hành nghề luật sư ............................................................... 40
2.2.2. Các hành vi vi phạm và hình thức xử lý hành chính trong hành
nghề luật sư ........................................................................................... 43
2.3. Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về vi phạm hành chính
trong hành nghề luật sƣ ...................................................................... 58
2.3.1. Ưu điểm ................................................................................................. 58
2.3.2. Hạn chế.................................................................................................. 63
2.3.3. Nguyên nhân của hạn chế ..................................................................... 71
CHƢƠNG 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG HÀNH NGHỀ
LUẬT SƢ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY............................................... 82
3.1. Phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật về vi phạm hành chính trong
hành nghề luật sƣ ở Việt Nam hiện nay ............................................ 82
3.1.1. Xây dựng pháp luâ ̣t về vi ph ạm hành chính trong hành nghề luật
sư toàn diê ̣n, thố ng nhấ t, đồ ng bô ̣, phù hợp với thời kỳ hội nhập ........ 82
3.1.2. Xây dựng pháp luâ ̣t v ề vi phạm hành chính phù hơ ̣p với c ải cách
hành chính, cải cách tư pháp ................................................................. 85
3.1.3. Đảm bảo dân chủ , minh ba ̣ch , cạnh tranh trong hoạt động nghề
nghiê ̣p của luật sư ................................................................................. 85
3.2. Giải pháp hoàn thi ện pháp luật v ề vi phạm hành chính trong
hành nghề luật sƣ ................................................................................ 88
3.2.1. Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật về vi phạm hành chính............ 88
3.2.2. Thể chế hóa các nguyên tắ c trong hoa ̣t đô ̣ng nghề nghiê ̣p của lu ật
sư ........................................................................................................... 95
3.2.3. Nâng cao hiệu quả hoạt động thực hiện pháp luật về vi phạm hành
chính trong hành nghề luật sư ............................................................... 96
KẾT LUẬN .................................................................................................. 100
pháp lý khác. Sứ mệnh xã hội của luật sư là góp phần bảo vệ công lý, công
bằng xã hội và pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Ở nước ta, từ khi Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ra đời cùng các
văn bản pháp luật liên quan khác luôn chứa các quy định về lĩnh vực luật sư,
từ những quy định nhỏ lẻ cho đến việc hình thành một mục riêng biệt cho
thấy cách nhìn nhận vị trí và vai trò của hành nghề luật sư ngày càng được
Đảng và Nhà nước quan tâm.
Có thể nói, luật sư với tư cách là người có kiến thức sâu, rộng về pháp
luật có chức năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, tham
gia tích cực trong việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, cần phải khẳng định
mình hơn nữa trong công cuộc xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh ở Việt Nam.
Bên cạnh những đóng góp tích cực, trong hành nghề luật sư còn có mặt
hạn chế và nhiều lỗ hổng cần được khắc phục. Thực tế thời gian qua cho thấy,
không ít những luật sư vi phạm các quy định pháp luật và quy tắc đạo đức
nghề nghiệp, làm phát sinh nhiều vụ việc khiến dư luận ngày càng mất lòng
tin vào nền tư pháp nước nhà. Những hành vi sai phạm này không những làm
thay đổi cái nhìn về giới luật sư từ phía người dân, mà còn làm phát sinh các
tiêu cực trong chính các cơ quan nhà nước, làm ảnh hưởng đến công cuộc xây
dựng Nhà nước pháp quyền, bảo vệ quyền con người và hội nhập quốc tế của
nước ta hiện nay.
1
Với vị trí và vai trò của luật sư trong ngành Tư pháp và đời sống xã hội
như đã nói ở trên, nghiên cứu pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong
hành nghề luật sư là công việc cần thiết để tìm được hướng khắc phục sai sót
và hoàn thiện chất lượng ngành tư pháp nói riêng và hệ thống pháp luật về xử
lý vi phạm hành chính nói chung.
- LS. Nguyễn Thành Vĩnh (2013), bài viết “Vai trò của luật sư trong tố
tụng hành chính”, đăng trên website Sinhvienluatkhoa ngày 19/12/2013;
- TS.Nguyễn Văn Tuân (2013), Sách pháp luật “Một số vấn đề về luật
sư và nghề luật sư”, Nhà xuất bản Tư pháp – Hà Nội;
Tuy nhiên các đề tài, chuyên đề và bài viết nêu trên mới chỉ cụ thể hóa
một khía cạnh hay một cách khái quát về hành nghề luật sư ở Việt Nam. Chưa
có đề tài nào đi sâu vào pháp luật về các hành vi và biện pháp xử lý vi phạm
hành chính trong hành nghề luật sư ở Việt Nam. Đề tài “Pháp luật về vi phạm
hành chính trong hành nghề luật sư ở Việt Nam hiện nay” là một vấn đề mới
cần nghiên cứu để bổ sung vào hệ thống tài liệu về Pháp luật hành chính để có
những góc nhìn đa dạng và hoàn thiện toàn bộ hệ thống quy định pháp luật
của nước ta.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục đích: Nghiên cứu những vấn đề lý luận về vi phạm hành chính,
phân tích, đánh giá thực trạng về các hành vi, hoạt động xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực hành nghề luật sư, cụ thể là những luật sư hành nghề với
tư cách cá nhân ở nước ta hiện nay. Từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện
cả về cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng pháp luật.
- Nhiệm vụ: Từ mục đích chung nêu trên, trong nội dung luận văn cần
phải làm rõ một số vấn đề như sau:
Nghiên cứu nội hàm của khái niệm vi phạm hành chính trong hành
nghề luật sư, xem xét quá trình phát triển của chế định này trong hệ thống
3
pháp luật Việt Nam, tham khảo một số quy định của pháp luật quốc tế về xử
lý vi phạm hành chính trong hành nghề luật sư.
Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
trong hành nghề luật sư và thực trạng thực thi các quy định này ở Việt Nam
phương pháp điển hình hoá, mô hình hóa các quan hệ xã hội; phương pháp hệ
thống hóa các quy phạm pháp luật; phương pháp so sánh pháp luật; và
phương pháp đánh giá thực trạng pháp luật.
Cụ thể, phương pháp tổng hợp, thông kê, tập hợp các thông tin, số liệu
và vụ việc được sử dụng nhằm thu thập cơ sở lý thuyết, thành tựu lý thuyết đã
đạt được, chủ trương và chính sách và số liệu thống kê liên quan đến nội dung
của luận văn. Phương pháp điển hình hoá, mô hình hóa các quan hệ xã hội
nhằm xác định các đối tượng điều chỉnh của pháp luật về vi phạm hành chính
trong hành nghề luật sư ở Việt Nam, đồng thời là đối tượng hướng đến của
luận văn. Phương pháp hệ thống hóa các quy phạm pháp luật; phương pháp so
sánh pháp luật; và phương pháp đánh giá thực trạng pháp luật nhằm tổng hợp,
sắp xếp, phân loại chính xác các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến
đề tài, đi sâu nghiên cứu việc thực hiện pháp luật trên thực tiễn đời sống để
đưa ra đánh giá và hướng hoàn thiện.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận pháp luật vi
phạm hành chính trong hành nghề luật sư ở Việt Nam; đưa ra các phân tích,
đánh giá đối với thực trạng thực hiện pháp luật về vi phạm hành chính trong
hành nghề luật sư; từ đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất hệ thống giải pháp
nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật vi phạm hành chính trong hành nghề
luật sư ở Việt Nam hiện nay.
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể là tài liệu
tham khảo cho những người đang học tập và nghiên cứu về chuyên ngành luật
5
học, đặc biệt là nghiên cứu về các hành vi, thủ tục, thẩm quyền và cách thức
xử phạt vi phạm hành chính trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Hoa Kỳ, ở Úc được công nhận và cho phép hành nghề theo lãnh thổ từng
bang, trong phạm vi thẩm quyền tài phán của tòa án từng bang hoặc liên bang.
Một luật sư có thể được phép hành nghề tại nhiều bang và phải tuân theo quy
chế của từng bang đặt ra. Luật sư hành nghề tại tòa án tiểu bang cũng có thể
xin công nhận và được phép hành nghề tại các Tòa án tối cao của liên bang.
Luật sư hành nghề bằng kiến thức pháp luật, kỹ năng nghề nghiệp của
cá nhân luật sư. Nói cách khác, phẩm chất và năng lực cá nhân của luật sư là
yếu tố quyết định trong nghề luật sư. Người muốn hành nghề luật phải được
7
công nhận là luật sư. Pháp luật các nước trên thế giới thường không đưa ra
khái niệm luật sư mà chỉ quy định về tiêu chuẩn để trở thành luật sư. Tùy theo
quy định mỗi nước khác nhau về tiêu chuẩn luật sư và điều kiện hành nghề
luật sư mà xác định cơ quan hay tổ chức có thẩm quyền công nhận một người
là luật sư, cũng như thời điểm nào một người được công nhận là luật sư và
giấy tờ gì chứng minh một người là luật sư ở mỗi nước là khác nhau.
Tuy nhiên, nhìn chung, tiêu chuẩn phổ biến để được công nhận luật sư
là: Là công dân ở nước sở tại; Có bằng cử nhân luật; Có phẩm chất đạo đức
tốt. Ngoài các tiêu chuẩn trên, muốn trở thành luật sư phải qua đào tạo nghề,
tập sự hành nghề luật sư hoặc chỉ cần đỗ kỳ thi quốc gia để được công nhận
luật sư, điều đó còn phụ thuộc vào quy định pháp luật mỗi nước. Thẩm quyền
công nhận có thể là Tòa án tối cao hay Bộ Tư pháp hoặc chỉ cần đăng ký gia
nhập một Đoàn luật sư thì trở thành luật sư.
Như vậy, ta có thể rút ra khái niệm luật sư như sau: Luật sư được hiểu
là một chức danh bổ trợ tư pháp, có tư cách pháp lý độc lập, có đủ tiêu chuẩn
và điều kiện hành nghề luật chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật, cung
cấp dịch vụ pháp lý bao gồm tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện
ngoài tố tụng và các dịch vụ pháp lý khác nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp
nghề có phương thức hành nghề tự do, được các văn bản pháp luật của Nhà
nước quy định. Lịch sử nghề Luật sư ở mỗi nước gắn liền với chế độ chính trị
ở nước đó và phục vụ quyền lợi của giai cấp thống trị nước đó.
Cụm từ “hành nghề luật sư” phải hiểu là việc luật sư tham gia hoạt
động tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác theo yêu
cầu của cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ theo
quy định của pháp luật.
Nghề luật sư có đặc thù riêng của nó, đây là một nghề mang tính trí tuệ
rất cao, đòi hỏi kiến thức luật, vốn sống, suy nghĩ độc lập, bản lĩnh, sự nhanh
nhạy để tìm hiểu vụ việc, bảo vệ quyền lợi thân chủ và đấu trí với các đối
9
tượng liên quan đến vụ việc. Bởi vậy, người hành nghề luật sư, nhờ các kỹ
năng nghề nghiệp và kiến thức pháp luật đã được đào tạo và công nhận bởi
Bộ Tư pháp, họ là người am hiểu pháp luật và có khả năng “lách” luật, qua
mắt các cơ quan nhà nước có trách nhiệm quản lý để kiếm lợi bất chính.
Chính bởi đặc điểm này mà công tác xử lý vi phạm hành chính trong hành
nghề luật sư đặc biệt khó khăn trên thực tiễn, đây là vấn đề mà Nhà nước cần
xem xét, tìm hiểu và khắc phục để bảo đảm luật sư thực hiện đúng chức năng,
nhiệm vụ của mình là đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần vào việc quản lý
nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật
của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Tóm lại, hành nghề luật sư là một nghề mà trong đó luật sư – một chức
danh bổ trợ tư pháp – có quyền tự do trong phương thức hành nghề của mình,
cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng theo quy định của pháp luật và quy
tắc đạo đức nghề nghiệp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách
hàng, góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
của mình hơn so với luật sư hành nghề theo tư cách cá nhân do còn bị rành
buộc bởi các quy định về nghĩa vụ của người lao động.
Dù có những điểm khác nhau nhưng mục đích chung của các luật sư dù
hoạt động dưới hình thức nào cũng đều là đưa ra lời khuyên về mặt pháp lý và
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm pháp luật vi phạm hành chính trong hành
nghề luật sƣ
Pháp luật là hệ thống những qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do
nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, được đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí
của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội pháp triển
phù hợp với lợi ích của giai cấp mình.
11
Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm “vi phạm hành chính” lần đầu
tiên được định nghĩa một cách chính thức tại Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành
chính ngày 30/11/1989, Điều 1 của Pháp lệnh này quy định “vi phạm hành
chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm
phạm quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo
quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.
Định nghĩa này sau đó đã được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn thi
hành pháp luật và đưa vào các giáo trình giảng dạy về pháp luật. Theo Pháp
lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và sau đó là Pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính năm 2002 thì khái niệm vi phạm hành chính không được
định nghĩa riêng biệt nữa mà được đưa “lồng” vào trong khái niệm “xử lý vi
phạm hành chính”, nếu trích dẫn từ định nghĩa về “xử lý vi phạm hành chính”
được quy định tại khoản 2 Điều 1 LXLVPHC năm 2002 thì vi phạm hành
chính được hiểu là “hành vi cố ý hoặc vô ý của cá nhân, tổ chức, vi phạm các
quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và
quả của vi phạm và mong muốn hậu quả đó xảy ra hoặc ý thức được hậu quả
và để mặc cho hậu quả xảy ra; hình thức lỗi là vô ý trong trường hợp người vi
phạm thấy trước được hậu quả của hành vi nhưng chủ quan cho rằng mình có
thể ngăn chặn được hậu quả hoặc không thấy trước hậu quả sẽ xảy ra dù phải
thấy trước và có thể thấy trước được hậu quả của vi phạm. Đây có thể coi là
dấu hiệu “tinh thần” của vi phạm.
Hành vi vi phạm hành chính là hành vi vi phạm các quy định của pháp
luật về quản lý nhà nước do cá nhân, tổ chức thực hiện và vi phạm này không
phải là tội phạm, tức là chưa đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, trong đó yếu
13
tố có tính chất quyết định là mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi
phạm hành chính.
Cho đến hiện nay, nhiều người vẫn hiểu sai về bản chất của hai cụm từ
“Xử lý vi phạm hành chính” và “Xử phạt vi phạm hành chính”, để làm rõ hai
khái niệm này, luận văn xin đưa ra một số phân tích để làm rõ như sau:
Trước tiên, cần hiểu bản chất của hoạt động “xử lý vi phạm hành
chính” là việc áp dụng một số loại biện pháp cưỡng chế hành chính do pháp
luật quy định. Cưỡng chế hành chính được xác định là biện pháp cưỡng chế
nhà nước do cơ quan hoặc người có thẩm quyền quyết định áp dụng theo thủ
tục hành chính đối với cá nhân có hành vi vi phạm hành chính hoặc đối với
một số cá nhân nhất định với mục đích ngăn chặn, phòng ngừa hoặc thực hiện
công vụ vì lí do an ninh, quốc phòng và vì lợi ích quốc gia.
Xử phạt vi phạm hành chính là việc áp dụng xử phạt đối với cá nhân, tổ
chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý
nhà nước mà không phải tội phạm theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt
hành chính. Theo đó, Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm
quyền xử phạt áp dụng các hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục đối với cá
Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và
phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải
được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật;
Việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công
khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của
pháp luật;
Việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ,
hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng;
15
Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do
pháp luật quy định.
Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần.
Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi
người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính đó.
Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm
hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm;
Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm
hành chính. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua
người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính;
Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với
tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
Các biện pháp xử lý hành chính khác là những biện pháp hành chính có
tính đặc thù và tính cưỡng chế cao hơn các hình thức xử phạt hành chính
thông thường, chỉ áp dụng đối với chủ thể vi phạm là cá nhân, căn cứ vào
nhân thân và quá trình vi phạm pháp luật của đối tượng; bao gồm giáo dục tại
xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa
vào cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính.
cấm. Các Đoàn luật sư, LĐLSVN hàng năm đều có báo cáo gửi các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền về hành nghề luật sư nói chung, trong đó có các số
liệu và vụ việc về vi phạm hành chính của luật sư, từ đó các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quản lý, kiểm tra, thanh tra và giám sát hoạt động của luật sư
trên cả nước nhằm tìm ra khó khăn trong thực tiễn áp dụng và hạn chế trong
quy định pháp luật về vi phạm hành chính trong hành nghề luật sư ở Việt
Nam, từ đó tìm ra giải pháp và hướng hoàn thiện hợp lý, kịp thời để điều
chỉnh.
17
1.2. Nội dung của pháp luật vi phạm hành chính trong hành nghề luật sƣ
ở Việt Nam
1.2.1. Hành vi vi phạm hành chính trong hành nghề luật sƣ tại Việt Nam
Theo Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/09/2013 quy định về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp,
hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
của Chính phủ thì có 24 hành vi được gọi là hành vi vi phạm trong hành nghề
luật sư tại Việt Nam; bổ sung thêm 12 loại hành vi so với Nghị định 60/2009
quy định về lĩnh vực này trước đó. Cụ thể các hành vi như sau:
Không thông báo cho khách hàng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm
nghề nghiệp của mình trong việc thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng;
Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân không thực hiện việc đăng ký hành
nghề với cơ quan có thẩm quyền trong trường hợp chuyển Đoàn luật sư.
Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân cung cấp dịch vụ pháp lý cho cơ
quan, tổ chức, cá nhân khác ngoài cơ quan, tổ chức mình đã ký hợp đồng lao
động, trừ trường hợp được cơ quan nhà nước yêu cầu hoặc tham gia tố tụng
trong vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và thực hiện
trợ giúp pháp lý theo sự phân công của Đoàn luật sư mà luật sư là thành viên;
luật sư; Luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam trong trường hợp không
đủ điều kiện hành nghề.
Thực hiện dịch vụ pháp lý mà không ký hợp đồng bằng văn bản hoặc
ký hợp đồng thiếu một trong các nội dung quy định tại Khoản 2 Điều 26 của
Luật luật sư; Cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng có quyền lợi đối lập
nhau trong cùng một vụ, việc; Cố ý cung cấp tài liệu, vật chứng giả, sai sự
thật; Xúi giục khách hàng khai sai sự thật hoặc xúi giục khách hàng khiếu nại,
19
tố cáo trái pháp luật; Tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết
trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản
hoặc pháp luật có quy định khác; Móc nối, quan hệ với người tiến hành tố
tụng, người tham gia tố tụng, cán bộ, công chức khác để làm trái quy định của
pháp luật.
Như vậy, có thể thấy các hành vi vi phạm hành chính trong hành nghề
luật sư ở Việt Nam chủ yếu được chia thành 02 loại, gồm: thứ nhất là loại
hành vi vi phạm liên quan đến chứng chỉ hành nghề luật sư, giấy đăng ký
hành nghề luật sư, giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam, giấy chứng nhận
về việc tham gia tố tụng, giấy chứng nhận người bào chữa; thứ hai là loại
hành vi liên quan đến những nghĩa vụ cơ bản của luật sư trong hành nghề
những nghĩa vụ cơ bản đồng thời là một nội dung quan trọng của quy tắc đạo
đức nghề nghiệp luật sư, hay những hành vi xâm phạm đến bảo vệ lợi ích của
Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá
nhân.
1.2.2. Hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong hành nghề luật sư tại
Việt Nam
Luật Xử lý vi phạm hành chính được Quốc hội khóa XIII thông qua
ngày 20/06/2012, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2013, quy định các Hình