Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các phương pháp điều trị bệnh khối u buồng trứng tại BVVNTĐUB trong 4 năm từ 2010 2013 - Pdf 34

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Buồng trứng là một tạng của cơ quan sinh dục nữ, vừa có chức năng nội
tiết vừa có chức năng ngoại tiết, trong đó chức năng nội tiết là chủ yếu. Bệnh
khối u buồng trứng là sự phát triển bất thường ở buồng trứng, phần lớn các khối
u buồng trứng là lành tính, tuy nhiên vẫn còn một tỷ lệ phát triển thành ác tính.
Theo Đinh Thế Mỹ tỷ lệ mắc KUBT là 3,6%, có xu hướng gia tăng, gặp nhiều
hơn ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ [1], [2].
Bệnh KUBT thường không có dấu hiệu lâm sàng điển hình nhưng rất
dễ dẫn đến các biến chứng đòi hỏi phải can thiệp cấp cứu như xoắn nang, vỡ
nang... Đáng phải quan tâm hơn là có một tỷ lệ đáng kể bị ung thư hóa, khi
được phát hiện thường ở giai đoạn muộn. Ung thư buồng trứng gây tử vong
rất cao không chỉ vô cùng tốn kém về chi phí, tiền bạc và thời gian mà điều
trị ung thư buồng trứng là quá trình rất gian nan vất vả cho cả thầy thuốc lẫn
bệnh nhân [3],[4].
Ngày nay với sự trợ giúp của các phương pháp cận lâm sàng, đặc biệt là
siêu âm, việc chẩn đoán KUBT trở nên dễ dàng hơn. Việc loại bỏ các KUBT
được thực hiện với nhiều phương pháp điều trị khác nhau, can thiệp kinh điển là
phẫu thuật mở bụng để cắt bỏ hoàn toàn hoặc bóc tách khối u bảo tồn phần nhu
mô lành buồng trứng, hay cũng có thể chọc hút nang nếu là u nang cơ năng dưới
sự hướng dẫn của siêu âm... [5], [6]. Đặc biệt từ khi phẫu thuật nội soi ra đời đã
giúp cải thiện toàn diện đối với điều trị u nang buồng trứng bằng phẫu thuật: An
toàn hơn, nhẹ nhàng hơn và đạt độ thẩm mỹ cao nhất. PTNS hiện nay đã và
đang được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới cũng như ở Việt Nam, ở các trung
tâm sản khoa lớn như bệnh viện Từ Dũ, bệnh viện Phụ sản Trung Ương, bệnh
viện Phụ sản Hải Phòng... Trên 80% bệnh nhân KUBT lành tính được điều trị
bằng phẫu thuật nội soi [7], [8], [9].


2

1.1.1. Giải phẫu buồng trứng [10], [11], [12], [13].
* Vị trí, hình thể, kích thước của buồng trứng
Buồng trứng là một tạng đôi nằm trong ổ bụng sát thành bên chậu hông bé
một ở bên phải và một ở bên trái. Buồng trứng nằm sau dây chằng rộng được cố
định bởi dây chằng thắt lưng buồng trứng, dây chằng vòi trứng buồng trứng, dây
chằng tử cung buồng trứng và mạc treo vòi tử cung, vị trí, hình thể và kích thước của
buồng trứng thay đổi theo lứa tuổi:
- Trẻ sơ sinh: Buồng trứng có
kích thước khoảng 0,25  0,5  1,5 cm
nặng 0,3-0,4 g, màu hồng nhạt, bề mặt
nhẵn.
- Tuổi dậy thì: Buồng trứng có kích
thước khoảng 1,2  1,8  3 cm, nặng
khoảng 4-7g.
- Phụ nữ sinh đẻ: Buồng trứng có

H×nh 1.1. C¬ quan sinh dôc n÷ [14].

kích thước khoảng 1,5  2  3 cm, bề mặt có nhiều sẹo.
- Tuổi mãn kinh: Buồng trứng có kích thước 0,5  1,5  2 cm hoặc nhỏ
hơn, bề mặt nhẵn.
Khi chưa đẻ buồng trứng nằm trong hố buồng trứng là chạc của nhánh các
động mạch chậu, khi đã đẻ buồng trứng không còn nằm trong hố buồng trứng nữa
mà sa xuống dưới. Buồng trứng dẹt hình hạt đậu cô ve, có hai mặt và hai đầu, nằm
áp vào thành bên của chậu hông, phía sau dây chằng rộng, chếch vào trong và ra
trước. Màu sắc hồng nhạt, khi có kinh màu đỏ tím. Trước tuổi dậy thì, buồng trứng
nhẵn đều. Đến tuổi dậy thì, buồng trứng không nhẵn nữa vì hàng tháng có nang


4

chia ba nhánh: Nhánh vòi trứng ngoài, nhánh buồng trứng ngoài và nhánh nối.


5

- Cả ba nhánh nối tiếp với nhánh cùng tên của động mạch tử cung, thành một
cung mạch máu. Nhờ vậy, khi cắt tử cung hoặc ống dẫn trứng, ít khi xảy ra rối loạn
dinh dưỡng và chức năng nội tiết của buồng trứng.
- Động mạch tử cung tách ra 3 nhánh: Nhánh vòi trứng trong, nhánh
buồng trứng trong và nhánh nối để tiếp nối với các nhánh của động mạch
buồng trứng.
* Tĩnh mạch buồng trứng
Chạy kèm theo động mạch đổ vào tĩnh mạch buồng trứng. Tĩnh mạch buồng
trứng phải đổ vào tĩnh mạch chủ dưới, còn tĩnh mạch buồng trứng trái đổ vào tĩnh
mạch thận trái.
* Bạch mạch: Chạy theo động mạch buồng trứng về các hạch cạnh bên động mạch
chủ.
* Thần kinh: Gồm những nhánh của đám rối liên
mạc treo và đám rối thận.

1.1.2. Chức năng sinh lý của buồng trứng.
Buồng trứng có 2 chức năng: Ngoại
tiết và nội tiết. Trong đó chức năng nội tiết là quan
trọng, quyết định chức năng ngoại tiết [15], [16],
[17].
* Chức năng ngoại tiết:
Buồng trứng có rất nhiều nang noãn, số lượng
nang noãn này giảm dần theo thời gian, vào tuổi

H×nh 1.3. Nang De Graff.

dục như cơ tử cung, cổ tử cung, âm hộ, âm đạo và tuyến vú.

1.1.3. Mô học buồng trứng [18]
Trên diện cắt qua rốn của buồng trứng, người ta thấy buồng trứng chia làm
hai vùng rõ rệt: Vùng vỏ và tuỷ, lớp vỏ ngoài được bao bọc là lớp biểu mô mầm.
* Lớp biểu mô mầm (germinal epithelium)
Lớp biểu mô mầm được cấu tạo bởi một lớp tế bào biểu mô hình vuông hay
hình trụ liên tục với lớp phúc mạc ổ bụng ở mạc treo buồng trứng. Ở phụ nữ trẻ lớp


7

biểu mô này có cấu tạo liên tục và toàn vẹn, tuy nhiên ở giai đoạn trưởng thành lớp
biêu mô này có thể không còn liên tục và đôi khi không được tìm thấy.
Dưới biểu mô kẽ có các tế bào hình thoi và chính những tế bào này biệt hoá
thành những tế bào nội tiết gọi là tế bào kẽ. Những tế bào kẽ và tế bào vỏ của buồng
trứng đảm nhiệm chức năng tiết ra các hormon steroit.
Vùi trong mô kẽ của phần vỏ buồng trứng là những khối hình cầu gọi là nang
trứng, mỗi nang chứa một noãn. Cùng với sự trưởng thành của cơ thể nang noãn
phát triển từ nang noãn nguyên thuỷ thành nang noãn đang phát triển và cuối cùng
thành nang noãn trưởng thành (còn gọi là nang noãn chín).
Khi nang noãn chín noãn được giải phóng ra ngoài. Phần còn lại của nang
noãn tại buồng trứng dần trở thành hoàng thể. Vào cuối vòng kinh hoàng thể teo đi
để lại sẹo trắng, gọi là vật trắng. Đôi khi hoàng thể không thoái triển mà trở thành
nang hoàng thể.
* Vùng vỏ
Vùng vỏ là một tổ chức nằm ngay sát dưới lớp biểu mô mầm chiếm tỉ lệ 1/3
đến 2/3 chiều dày của buồng trứng. Chiều dày của lớp vỏ tỉ lệ thuận với thời kì hoạt
động sinh dục, trong giai đoạn mãn kinh lớp vỏ rất mỏng.
Lớp vỏ được tạo nên bởi một mô đệm dày rất đặc biệt. Mô này được cấu

tuyến xơ/u xơ tuyến nang.
- Mức độ ác tính có hình thái: K tuyến/K dạng tuyến gai/K tuyến xơ - và
sarcoma tổ chức đệm nội mạc - K hỗn hợp ống Muler.
1.2.1.4. U tế bào sáng (u tế bào trung thận)
- Lành tính và ác tính thấp có hình thái: U tuyến xơ.
- Ác tính có hình thái K tuyến.
1.2.1.5. U Brenner có 3 mức độ lành tính - ác tính thấp - ác tính
1.2.1.6. U biểu mô hỗn hợp lành tính - ác tính thấp - ác tính
1.2.1.7. Ung thư không biệt hóa.
1.2.1.8. U biểu mô không phân loại được.


9

1.2.2. U phát sinh từ mô đệm sinh dục:
1.2.2.1. U tế bào hạt, tế bào vỏ:

- U tế bào hạt.
- U xơ - U Thecoma (Thecoma/Fibroma/ u không phân loại).
1.2.2.2. U tế bào Sertoli - Leydig.
1.2.2.3. U phôi lưỡng tính (Gynandroblastoma)
1.2.2.4. U không phân loại được.
1.2.3. U tế bào mỡ.
1.2.4. U phát sinh từ tế bào mầm:
1.2.4.1. U loạn phát tế bào mầm (Dysgerminoma/Seminoma)
1.2.4.2. U xoang nội bì (Endodermal sinus tumor)
1.2.4.3. Ung thư dạng phôi.
1.2.4.4. U phôi (Polyembryoma)
1.2.4.5. Ung thư rau (Choryocarsinoma)
1.2.4.6. U bì/U quái (Teratomas)

một nang mỏng chứa đầy dịch bên trong.
- Nang hoàng tuyến: Là hậu quả của βhCG quá cao thường gặp ở người
chửa trứng hoặc Chorio. Các nang bọc noãn bị kích thích quá mức nên không
phóng noãn mà bị hoàng thể hóa. Đây là loại nang cơ năng ít gặp nhất, thường
gặp trong chửa trứng. Với u nang cơ năng thường không cần điều trị. Người ta
chỉ xử trí phẫu thuật khi có biến chứng.
Biến chứng hay gặp của u cơ năng là vỡ nang. Do vỏ mỏng nên nang dễ
vỡ khi thăm khám hoặc có áp lực đè mạnh lên bụng. Nếu vỏ nang có mạch máu
bị tổn thương thì sẽ gây chảy máu, bệnh cảnh giống như chửa ngoài tử cung vỡ
có thể phải mổ cấp cứu. Chảy máu trong nang cũng là biến chứng thường gặp
và làm cho bệnh nhân đau bụng; mức độ đau phụ thuộc vào tình trạng chảy
máu nhiều hay ít. Một biến chứng khác là xoắn nang, xảy ra khi cuống nang dài,
nang di chuyển và bị xoắn.


11

1.3.2. Các khối u buồng trứng thực thể.
U nang buồng trứng thực thể xuất hiện từ những tổn thương nhu mô bình
thường của buồng trứng [3], [4], [19], [20], [23].
1.3.2.1. Về đại thể
Người ta chia KUBT thành
* Các khối u lành tính:
- U nang nước buồng trứng
Là một túi chứa nước có cuống dài, vỏ mỏng, di động, mặt ngoài trơn
nhẵn, bên trong chứa dịch trong, đôi khi có nhiều thùy. Vỏ nang thường trơn
nhẵn và mỏng nên dễ vỡ. Mặt trong của vỏ nang thường nhẵn, đôi khi có những
nhú nhỏ (các nhú nhỏ cũng có thể xuất hiện ở mặt ngoài của nang). Nang có nhú
thường rất dễ bị ung thư hóa, số lượng nhú càng nhiều thì nguy cơ ung thư hóa
càng cao. Đôi khi dịch trong nang màu nâu, đó là do có chảy máu trong nang.


Nang thực thể

Dây chằng TC - BT

Bình thường

Kéo dài

Mạch máu

Nhiều, hình san hô

Ít, hình răng lược

Vỏ nang

Mỏng

Dầy

Dịch trong nang

Trong, vàng chanh

Thay đổi theo u

Bóc nang

Khó

- U dạng Steroid
 U quái:
- Không điển hình
- Điển hình
- Nang bì
- U tế bào mầm hỗn hợp
 Những nguyên bào sinh dục
 Những u không đặc hiệu của buồng trứng
 Những u không xếp loại.
 Những u di căn.


14

1.4. BIẾN CHỨNG CỦA U NANG BUỒNG TRỨNG
Các diễn biến tự nhiên có thể xảy ra đối với một KUBT [24]:
- Khối u không gia tăng thêm kích thước: thường hiếm gặp.
- Khối u biến mất: thường xảy ra đối với những khối u cơ năng sau theo
dõi từ 2-3 tháng.
- Khối u ngày càng to ra: bụng ngày càng to, có thể kèm theo các biến
chứng do chèn ép như đau bụng dưới, bí tiểu, rối loạn đại tiện, đầy bụng…
- Khối u bị xoắn, vỡ,…
1.4.1. Khối u buồng trứng xoắn [1], [24].
Khối u bị xoắn quanh cuống (giống như quả trên cành nhưng cuống của
khối u buồng trứng vốn là các mạch máu đến và đi từ buồng trứng) làm cho
tuần hoàn đến buồng trứng bị ngưng trệ, khối u ngày càng to ra do ứ đọng máu
bên trong khi máu đến nuôi bị thiếu dẫn đến hoại tử hay vỡ ra. Xoắn hay vỡ là
tình trạng cấp cứu cần phải được phẫu thuật ngay.
Đây là biến chứng hay gặp nhất, theo Petezson, tỉ lệ xoắn cuống 16%. Theo
Nguyễn Hữu Hải tỉ lệ xoắn cuống 10,03%, Trương Thị Chức tỉ lệ là 14,7%.

chuyển dạ có thể trở thành u tiền đạo gây đẻ khó (Hoàng Đức Hinh). Theo
nghiên cứu của Phạm Đình Dũng về ảnh hưởng qua lại giữa khối u buồng trứng
và thai nghén: Tỷ lệ u tiền đạo là 1,98%; sảy thai, đẻ non là 6,93%.

1.5. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH.
Stein Leventhal là người đầu tiên đưa ra những tin tức liên quan đến
bệnh này vào năm 1936. Cho đến nay, trải qua hơn 75 năm, vẫn còn rất nhiều
vấn đề về nguyên nhân phát bệnh, chẩn đoán và điều trị bệnh chưa được giải
quyết. Có ý kiến cho sự thay đổi sinh lý, bệnh lý chủ yếu của bệnh này là:
Testosteron sinh ra trong buồng trứng quá nhiều, trứng phát dục chậm hoặc
dừng khi ở giai đoạn chưa chín. Người mắc bệnh có thể hoàn toàn không
phóng noãn hay kinh nguyệt có thể ít đi, vô kinh hoặc không theo chu kỳ; sau
khi kết hôn không sinh con.


16

Do lượng testosteron trong máu tăng ở mức nhẹ, bệnh nhân có thể mọc
nhiều lông, nổi mụn trứng cá... nhưng không thể phát triển thành nam tính hóa.
Siêu âm kiểm ra âm đạo có thể phát hiện thể tích trứng của người bệnh to hơn
bình thường, số noãn bào tăng nhiều, đường kính khoảng 2-8 mm, noãn bào
không trưởng thành. Phẫu thuật ổ bụng có thể phát hiện thấy vỏ màng bao
quanh buồng trứng dày lên, mặt cắt cho thấy có nhiều bọc rỗng với kích thước
khác nhau. Vì vậy, bệnh được gọi là u nang buồng trứng.
Có một số người bệnh do testosteron và tổ chức mỡ tăng nhiều,
testosteron chuyển hóa từ tổ chức mỡ cũng tăng nhiều. Tình trạng testosteron
ở mức tương đối cao, tác dụng đến nội mạc tử cung trong thời gian dài, lại
thiếu ảnh hưởng đối kháng của progestagen... thường dẫn đến tăng sinh nội
mạc tử cung, thậm chí dẫn đến ung thư. Cũng có khi testosteron ở mức cao
nhưng không gây ra những thay đổi như đã nói ở trên. Có nhiều loại u phát

nữ dưới 40 tuổi. Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Ngô Văn Tài tuổi nhỏ nhất
có khối u buồng trứng là 10 tuổi.
* Triệu chứng thực thể [31], [32], [33], [34]
Khám bụng và thăm âm đạo thấy:
+ Khối u vùng bụng dưới mật độ
căng hay chắc tuỳ từng loại u
+ Khối u di động biệt lập với tử
cung đẩy lệch tử cung sang bên đối
diện. Nếu u dính hoặc nằm trong dây
chằng rộng thì mức độ di động hạn
chế.
+ Khối u bên cạnh tử cung căng
đau khi có biến chứng xoắn.

Hình 1.5. BT bình thường (trên) và nang
cơ năng BT (dưới).

+ Nếu khối u ác tính thường có kèm theo cổ chướng hoặc khối u không di
động và đau.


18

1.6.2. Triệu chứng cận lâm sàng.
* Siêu âm chẩn đoán
Ngày nay siêu âm được sử dụng rộng rãi và đóng vai trò quan trọng trong
chẩn đoán y khoa nói chung và KUBT nói riêng. Siêu âm là phương pháp chẩn
đoán nhanh, chính xác, tiện lợi cho bệnh nhân với giá thành rẻ, đặc biệt là một
phương pháp chẩn đoán không xâm lấn, gần như vô hại cho bệnh nhân. Siêu âm
giúp chẩn đoán khối u buồng trứng, khi nghi ngờ trên khám lâm sàng có thể

ranh giới rõ, dịch thuần nhất, đôi khi trong nang có
vách. Có trường hợp có nhiều nang kích thước khác
nhau, nằm sát nhau, tạo ra hình ảnh nang chùm.
Trên siêu âm là khối trống âm, ranh giới tương đối
rõ, có thể có vách [38].

H×nh 1.6. U nang n-íc BT.

- Nang nhầy: Thường nhiều thuỳ, thành dầy, dịch thuần nhất.
- Nang bì: Không thuần nhất vì các mảnh sụn, răng, tóc, hình ảnh âm vang
trên siêu âm dạng tăng âm khá đồng nhất với âm vang cơ tử cung.
- U ác tính: Nhiều tổ chức đặc cùng với dịch có những nụ sùi trong hay
ngoài u và ở các vách của u, có thể có cổ chướng.
Trên siêu âm là các tổ chức không đồng nhất, tăng
âm xen lẫn với giảm âm, xâm lấn ra xung quanh,
ranh giới không rõ ràng.
- Nang dạng lạc nội mạc tử cung: Vỏ mỏng,
âm vang không đồng nhất.
* Hình ảnh X-quang [36]
- Chụp bụng không chuẩn bị: Có vết vôi hoá
hoặc hình răng là nang bì.
- Chụp X-quang buồng tử cung và vòi tử cung:
s Cho thấy hình ảnh vòi tử cung dãn và kéo dài.

H×nh 1.7.
Chôp MRI khèi KUBT.


20



CA-125 là epitope cacbohydrate, kháng nguyên ung thư glycoprotein,
một dấu hiệu sinh học của u trong huyết thanh. CA-125 bình thường hiện diện ở
lá phôi trong dẫn xuất từ biểu mô mầm, bao gồm phúc mạc, màng phổi và màng
ngoài tim và màng ối. Biểu mô buồng trứng không biểu hiện hoạt tính CA 125.
Mức CA-125 trong huyết thanh là yếu tố quan trọng trong việc đánh giá
khối u vùng chậu, đặc biệt đối với carcinom buồng trứng. Mức CA- 125 trong
huyết thanh liên quan chặt chẽ với sự lan rộng của u, sự đáp ứng với điều trị và
sự tái phát.
Mức CA-125 > 60UI/ml giúp loại trừ những bệnh nhân không có u hoặc u
lành với độ đặc hiệu là 98%, nhưng độ nhạy của xét nghiệm chỉ là 70% và giá
trị tiên đoán chỉ đạt 2% khi tầm soát ở cộng đồng.
CA-125 được đo bằng các xét nghiệm miễn dịch, có nồng độ bình thường
trong huyết thanh 35UI/ml. 80% bệnh nhân bị carcinom buồng trứng loại biểu mô không tiết
nhầy có nồng độ CA-125 tăng cao. CA-125 có thể tăng cao trong 50% trường
hợp ung thư buồng trứng giai đoạn I và trong 60% trường hợp ung thư buồng
trứng giai đoạn II.
Do đó đặc hiệu của CA-125 thấp nên ít có giá trị chẩn đoán đối với
KUBT ở phụ nữ trẻ nhưng với phụ nữ đã mãn kinh có giá trị tiên lượng bệnh.
Do đó, CA-125 dùng để phân biệt u lành hay u ác có giá trị tiên lượng trước mổ
đối với phụ nữ mãn kinh.
Giá trị của CA-125 hiện nay còn nhiều tranh cãi.

1.7. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ [5], [36], [72]
Điều trị KUBT tuỳ thuộc vào lứa tuổi, loại u nang, kích thước u, và các
triệu chứng khác kèm theo.
- Nếu còn trong độ tuổi sinh đẻ cần siêu âm thường xuyên để đánh giá
kích thước và những sự thay đổi bất thường của khối u . Nếu kích thước nang




23

* Các thuốc khác
Các thuốc khác chỉ dùng trong một số bệnh nhân có chẩn đoán là u cơ
năng buồng trứng, và trong thời gian chờ đợi làm phẫu thuật đối với các trường
hợp có chỉ định mổ như kháng sinh, chống viêm, giảm đau... và điều trị các
triệu chứng kèm theo.
1.7.1.2. Phương pháp điều trị đối với u nang cơ năng có biến chứng
Biến chứng hay gặp của u nang cơ năng là vỡ nang. Do vỏ mỏng nên
nang dễ vỡ khi thăm khám hoặc có áp lực đè mạnh lên bụng. Nếu vỏ nang có
mạch máu bị tổn thương thì sẽ gây chảy máu, bệnh cảnh giống chửa ngoài tử
cung vỡ có thể phải mổ cấp cứu. Chảy máu trong nang cũng là biến chứng
thường gặp và làm cho bệnh nhân đau bụng; mức độ đau phụ thuộc vào tình
trạng chảy máu nhiều hay ít. Một biến chứng khác rất ít gặp là xoắn nang, xảy
ra khi cuống nang dài, di chuyển và bị xoắn [2], [40], [41].
Một số nghiên cứu trong nước về u nang buồng trứng chủ yếu tổng kết và
nghiên cứu về u nang thực thể. Trong nghiên cứu này tại BVVNTĐUB chúng
tôi có tổng kết một số u nang cơ năng vào điều trị khi có biến chứng vỡ hoặc
chảy máu trong nang (tổng số 98 trường hợp ): Bệnh nhân vào viện với lý do
đau bụng, siêu âm có hình ảnh nang buồng trứng xẹp, méo mó, kích thước nhỏ
hơn 5cm và có ít dịch Douglas, hoặc hình ảnh nang buồng trứng chảy máu,
không có rối loạn huyết động và đã được chúng tôi theo dõi điều trị nội khoa.
Một số trường hợp phải xử trí phẫu thuật (47 trường hợp) do chảy máu nhiều,
siêu âm nhiều dịch ổ bụng, có rối loạn huyết động, bệnh cảnh giống như chửa
ngoài tử cung vỡ đã mổ bóc nang, cầm máu và kết quả giải phẫu bệnh là nang
cơ năng.



25

1.7.2.3. Phẫu thuật nội soi
Với sự phát triển hoàn thiện hơn về trang
thiết bị phẫu thuật, kinh nghiệm ngày một nâng cao
của phẫu thuật viên, PTNS trong điều trị u nang
buồng trứng ngày càng mở rộng về chỉ định, phạm
vi áp dụng, nâng cao về kỹ thuật và hiệu quả điều trị
ngày một tốt hơn [7], [8], [32], [42], [43].
PTNS cho KUBT lành tính được tác giả
Semm nêu ra lần đầu tiên vào năm 1974.

H×nh 1.8. Mæ néi soi KUBT.

Bệnh viện phụ sản Từ Dũ, Thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu ứng dụng
PTNS từ năm 1993 trong điều trị chửa ngoài tử cung, u nang buồng trứng, vô
sinh, lạc nội mạc tử cung, bóc tách nhân xơ tử cung và gần đây đã cắt tử cung
hoàn toàn [8].
Viện Bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh đã áp dụng PTNS từ năm 1996 với
nhiều loại phẫu thuật khác nhau.
Có hai kỹ thuật xử trí nang buồng trứng được áp dụng trong khi phẫu
thuật nội soi: Cắt nang buồng trứng hay còn gọi là bóc tách nang buồng trứng và
cắt buồng trứng cùng với nang (đôi khi là cắt phần phụ nếu có cắt cả vòi tử
cung). Đối với nang buồng trứng không xoắn, phẫu thuật bóc tách nang bảo tồn
buồng trứng được thực hiện trong hầu hết các trường hợp. Đối với nang buồng
trứng xoắn, tỷ lệ phải cắt buồng trứng là trên 70%.
PTNS đã được áp dụng đối với KUBT trên phụ nữ có thai, tuy nhiên việc
phẫu thuật cũng gặp một số khó khăn như: thao tác cắt u buồng trứng thường
khó hơn các trường hợp không có thai vì không gian nhỏ hẹp lại do thể tích tử
cung choán hết tiểu khung. Hơn nữa tình trạng xung huyết trong thai kỳ cũng là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status