ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
CAO TUẤN HƢNG
HỆ THỐNG QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ
MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN CỦA CÁC CHỦ THỂ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
CAO TUẤN HƢNG
HỆ THỐNG QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ
MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN CỦA CÁC CHỦ THỂ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số
: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Cảnh Quý
môi giới bất động sản của các chủ thể ............................................................ 33
1.4 Hệ thống quy phạm pháp luật về môi giới bất động sản của một số quốc
gia và những kinh nghiệm có thể vận dụng ở Việt Nam ................................ 39
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG QUY PHẠM PHÁP LUẬT
VỀ MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN CỦA CÁC CHỦ THỂ Ở VIỆT NAM 49
2.1 Những điểm nổi bật của hệ thống quy phạm pháp luật về môi giới bất
động sản của các chủ thể ................................................................................. 49
2.2 Những hạn chế, bất cập của hệ thống quy phạm pháp luật về môi giới bất
động sản của các chủ thể và nguyên nhân. ..................................................... 72
CHƢƠNG 3: CÁC QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ
THỐNG QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN
CỦA CÁC CHỦ THỂ Ở VIỆT NAM.......................................................... 77
3.1 Các quan điểm hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật về môi giới bất
động sản của các chủ thể ................................................................................. 77
3.2 Các giải pháp hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật về môi giới bất
động sản của các chủ thể ................................................................................. 83
KẾT LUẬN .................................................................................................... 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 94
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BĐS
: Bất động sản
BLDS
: Bộ luật dân sự
động sản. Khi thị trường bất động sản nói chung và nghề môi giới bất động
sản nói riêng phát triển mạnh mẽ, cần thiết phải có một hệ thống quy phạm
pháp luật để kiểm soát và điều tiết các vấn đề liên quan. Để điều chỉnh các
quan hệ về môi giới bất động sản thì Nhà nước đã ban hành hệ thống quy
phạm pháp luật về môi giới bất động sản nhằm định hướng cho hoạt động môi
giới bất động sản đi theo đúng vai trò của mình.
1
Dưới góc độ lý luận, các vấn đề về hệ thống quy phạm pháp luật về môi
giới bất động sản của các chủ thể ở Việt Nam hiện nay đã có một số công
trình nghiên cứu ở khía cạnh này hay khía cạnh khác. Tuy nhiên đến nay vẫn
còn ít các công trình nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện có hệ thống về
các quy phạm pháp luật về môi giới bất động sản của các chủ thể để xây dựng
lên nền tảng lý luận để xây dựng hệ thống quy phạm pháp luật về môi giới bất
động sản của các chủ thể ở Việt Nam hiện nay.
Dưới góc độ thực tiễn, hệ thống quy phạm pháp luật về môi giới bất động
sản của các chủ thể ở Việt Nam hiện nay đã có những ưu điểm. Trong những
năm qua Nhà nước đã ban hành một số quy phạm pháp luật về môi giới bất
động sản, điều chỉnh các quan hệ của một số tổ chức, cá nhân môi giới bất
động sản. Các quy phạm pháp luật về môi giới bất động sản của các chủ thể
đã được quy định tương đối cụ thể, đầy đủ và đã điều chỉnh các quan hệ môi
giới bất động sản, đã có những quy định về quyền cũng như nghĩa vụ của các
chủ thể trong hoạt động môi giới bất động sản. Tuy nhiên hệ thống quy phạm
pháp luật về thị trường bất động sản còn chứa đựng nhiều bất cập và hạn chế
như mâu thuẫn, chồng chéo, thậm chí không phù hợp với thực tế ở Việt Nam
và xu hướng phát triển trong khu vực và thế giới.
Hiện tại đã có khá nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các vấn
đề liên quan tới môi giới bất động sản, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều điểm bất
nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương thực hiện dưới sự bảo trợ của Chương
trình phát triển Liên Hợp quốc.
- “Thị trường bất động sản – Lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” của
PGS.TS Thái Bá Cẩn và Th.s Trần Nguyên Nam do Nhà xuất bản Tài chính
ấn hành năm 2003
- “Thị trường bất động sản Hà Nội từ khi mở rộng quy mô năm 2008”,
Luận văn Thạc sĩ của Phạm Ngọc Hương Quỳnh, Đại học Kinh tế – Đại học
Quốc gia Hà Nội (2008).
3
- “Vai trò Nhà nước đối với thị trường bất động sản Việt Nam”, Luận văn
Thạc sĩ của Phạm Minh Tuấn, Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội
(2012).
- “Pháp luật về sàn giao dịch bất động sản”, Luận văn Thạc sĩ của Lô Thị
An Na, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2013).
- “Pháp luật về đăng ký bất động sản ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ của
Phạm Xuân Hoàng, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2008).
- “Hợp đồng mua bán nhà ở trong hoạt động kinh doanh bất động sản ở
Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ của Vũ Thùy Liên, Khoa Luật – Đại học Quốc
gia Hà Nội (2009)
Liên quan tới vấn đề pháp luật về môi giới bất động sản có các công trình
nghiên cứu sau:
- “Pháp luật về hoạt động môi giới bất động sản ở Việt Nam”, Luận văn
Thạc sĩ của Đặng Văn Được, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2005).
- “Pháp luật về môi giới bất động sản ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ của
Phùng Thị Thu Hà, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2013).
- “Pháp luật về tạo dựng đẳng cấp và thương hiệu môi giới bất động sản
ở Việt Nam”, sách chuyên khảo của PGS.TS Doãn Hồng Nhung (2010).
còn tồn tại và nguyên nhân dẫn tới những hạn chế, tồn tại đó trong pháp luật
về môi giới bất động sản của Việt Nam.
Ba, nêu ra quan điểm và đề xuất các giải pháp để hoàn thiện hệ thống quy
phạm pháp luật về môi giới bất động sản ở Việt Nam, nâng cao chất lượng
cũng như tính hiệu quả của hoạt động môi giới bất động sản trong bối cảnh
phát triển kinh tế trong nước và hội nhập thị trường quốc tế sắp tới.
5
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận và hệ thống các
quy phạm pháp luật về môi giới bất động sản, cùng với thực trạng về hiệu quả
của việc áp dụng các quy phạm pháp luật đối với lĩnh vực môi giới bất động
sản và phương hướng hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi luận văn, tác giả không đi sâu vào khía cạnh kinh tế của
lĩnh vực môi giới mà tập trung làm rõ các nội dung lý luận về bất động sản, hệ
thống quy phạm pháp luật trong lĩnh vực bất động sản thực tế tại Việt Nam,
cũng như các nội dung lý luận về môi giới bất động sản của một số các quốc
gia có hệ thống pháp luật về môi giới bất động sản phát triển.
5. Cơ sở lý luận nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn nghiên cứu trên cơ sở lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, các quan điểm, chỉ
đạo của Đảng và Nhà nước về đổi mới, phát triển đất đai và thị trường bất
động sản, chính sách pháp luật của Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực môi
giới bất động sản và hợp tác, đầu tư quốc tế.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
NAM HIỆN NAY
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hệ thống quy phạm pháp luật
về môi giới bất động sản của các chủ thể
1.1.1 Khái niệm bất động sản và môi giới bất động sản
1.1.1.1 Khái niệm bất động sản
Sự phân chia tài sản thành “bất động sản” và “động sản” được khởi đầu từ
Luật La Mã cổ, theo đó bất động sản bao gồm đất đai, của cải trong lòng đất,
bên cạnh đó còn có những thứ được tạo ra do công sức lao động trên mảnh đất
đó. Ngoài ra, bất động sản bao gồm công trình xây dựng, cây trồng và những
gì liên quan tới đất đai hoặc gắn liền với đất đai.
Pháp luật của nhiều nước trên thế giới đều thống nhất ở chỗ coi bất động
sản gồm đất đai và những tài sản gắn liền với đất đai. Tuy vậy, hệ thống pháp
luật mỗi nước cũng có những quan điểm và tiêu chí phân loại riêng. Hầu hết
các nước đều coi bất động sản là đất đai và những tài sản có liên quan đến đất
đai, không tách rời với đất đai, được xác định bởi vị trí địa lý của đất (Điều
517, 518 Luật Dân sự Cộng hoà Pháp, Điều 86 Luật Dân sự Nhật Bản, Điều
130 Luật Dân sự Cộng hoà Liên bang Nga, Điều 94, 96 Luật Dân sự Cộng
hoà Liên bang Đức…). Tuy nhiên, mỗi nước lại có quan niệm khác nhau về
những tài sản gắn liền với đất đai được coi là bất động sản. Luật Dân sự Đức,
Luật Dân sự Nhật Bản hay Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ và Sài Gòn cũ đưa ra khái
niệm bất động sản bao gồm đất đai và các tài sản gắn với đất, Điều 520 Luật
Dân sự Pháp quy định “mùa màng chưa gặt, trái cây chưa bứt khỏi cây là bất
động sản, nếu đã bứt khỏi cây được coi là động sản”. Trong khi đó, Điều 100
8
Luật Dân sự Thái Lan quy định: “Bất động sản là đất đai và những vật gắn
liền với đất đai, bao gồm cả những quyền gắn với việc sở hữu đất đai”.
Trước 1995, hệ thống pháp luật của Việt Nam chưa có sự đồng nhất trong
thấy việc định nghĩa bất động sản dựa trên đặc tính vật lý của tài sản. Cách
định nghĩa này được sử dụng từ Bộ luật dân sự 1995, sau đó Bộ luật dân sự
2005 đã kế thừa các quy định của Bộ luật dân sự 1995 về vấn đề này. Tuy
nhiên, từ việc định nghĩa này có thể nhận thấy chỉ những tài sản nào được
pháp luật thừa nhận và quy định mới được coi là bất động sản.
Để định nghĩa cụ thể về bất động sản, cần xem xét các đặc tính vật lý của
tài sản, gồm có:
+ Tính cá biệt và khan hiếm. Về cơ bản, bất động sản phổ biến nhất là đất
đai, do đó tính chất này xuất phát từ tính chất của đất đai. Tính khan hiếm cụ
thể là việc giới hạn về diện tích của từng miếng đất, khu vực, vùng miền, địa
phương... Bổ sung đặc điểm cố định, không di dời được, bất động sản có tính
cá biệt. Khó có thể tồn tại các bất động sản giống nhau hoàn toàn, do có
những yếu tố khác biệt về không gian và các vấn đề khác liên quan.
+ Tính lâu bền. Tính lâu bền chỉ tuổi thọ của vật kiến trúc và công trình
xây dựng. Đất đai là tài nguyên thiên nhiên xem như không thể bị hủy hoại
trừ trường hợp thiên tai, đó đó tính lâu bền của bất động sản gắn với việc đất
đai không bị mất đi, không bị thanh lý sau khi sử dụng, có thể dùng vào nhiều
mục đích khác nhau.
Như vậy, có thể khái niệm về bất động sản là đất đai và các công trình, tài
sản khác gắn liền với đất đai, có những đặc tính vật lý đặc thù liên quan tới
đất đai và các tài sản khác do pháp luật quy định.
Bên cạnh đó, Điều 17 Hiến pháp 1992 và Điều 53 Hiến pháp 2013 đã quy
định đất đai “là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ
sở hữu và thống nhất quản lý”, đồng nghĩa với việc pháp luật Việt Nam
không thừa nhận quyền sở hữu đất đai của bất kì một chủ thể nào, và đất đai
10
trở thành đối tượng không thể đem ra trao đổi, giao dịch. Tuy nhiên, Luật Đất
1.1.1.2 Khái niệm môi giới bất động sản và chủ thể trong môi giới bất
động sản.
Khi một nền kinh tế thị trường phát triển, đi cùng với nó là sự phát triển
của quá trình trao đổi hàng hóa. Thị trường càng phát triển, quá trình trao đổi
hàng hóa cũng phát triển về mặt quy mô, số lượng, hình thức và chủng loại...
Đứng trước vấn đề đa dạng về hàng hóa, thì việc sở hữu những thông tin, lời
khuyên để có thể giảm thiểu rủi ro khi tham gia giao dịch hàng hóa là một yếu
tố rất quan trọng. Thị trường bất động sản cũng vậy. Khi thị trường bất động
sản bắt đầu phát triển, việc sở hữu thông tin về bất động sản mang ý nghĩa
sống còn đối với những người tham gia để nâng cao tính an toàn khi tham gia
vào thị trường bất động sản. Tuy vậy, trước một lượng “hàng hóa” càng lúc
càng nhiều lên, việc nắm bắt một cách chính xác các thông tin cần thiết rất
phức tạp và không phải là điều dễ dàng. Do đó, một nghề mới ra đời, làm
trung gian trong giao dịch bất động sản, cung cấp thông tin giữa bên mua và
bên bán. Sự ra đời của nghề này là một hệ quả tất yếu của một thị trường bất
động sản phát triển, xuất phát từ chính những đặc điểm của bất động sản và
thị trường bất động sản. Thị trường bất động sản ngày một phát triển, quy mô
của các giao dịch không còn gói gọn trong một khu vực, một vùng dân cư nữa
mà mở rộng ra rộng hơn, nhiều vùng, nhiều khu vực hoặc nhiều quốc gia, và
ngay cả hình thức của các giao dịch bất động sản cũng dần trở nên phong phú
hơn, ngoài mua bán còn có thêm các hình thức khác như cho thuê, thế chấp
nhà ở hoặc quyền sử dụng đất v.v... Sự phát triển cả về quy mô và hình thức,
dẫn tới việc cần thiết phải xuất hiện một yếu tố trung gian kết nối giữa các
bên để thúc đẩy sự phát triển, giảm tải rủi ro do việc thiếu thông tin gây ra.
Nghề môi giới ra đời là yếu tố tất yếu và cần thiết trong một thị trường bất
động sản phát triển. Vai trò của nghề môi giới quan trọng, được quy định rõ
ràng cùng với những nguyên tắc nhất định trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
12
Nhìn chung, khi xem xét về khái niệm môi giới bất động sản cần xem xét
các vấn đề: mục đích, nhiệm vụ và điều kiện của hoạt động môi giới bất động
sản. Hoạt động môi giới là hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận cho bản thân.
Các nhà môi giới đạt được mục đích này thông qua việc gắn kết giữa các chủ
thể giao dịch bất động sản có nhu cầu tương đồng lại với nhau để thực hiện
các thay đổi về mặt pháp lý của bất động sản. Tuy nhiên tính đặc thù trong
hoạt động môi giới bất động sản nằm ở giá trị “hàng hóa” trong giao dịch bất
động sản, do đó hoạt động này đòi hòi những điều kiện tương đối đặc trưng
về trình độ. Trong thực tế tên gọi về nghề nghiệp này nhắc cho chúng ta liên
tưởng về nhóm những người cụ thể, hoạt động trong thị trường bất động sản.
Luật Kinh doanh bất động sản 2014 định nghĩa: “Môi giới bất động sản là
việc làm trung gian cho các bên trong mua bán, chuyển nhượng, cho thuê,
cho thuê lại, cho thuê mua bất động sản”. Từ định nghĩa này có thể thấy, bên
trung gian (bên môi giới) thực hiện công việc cho các bên tham gia giao dịch
bất động sản (bên được môi giới) dẫn đến sự thay đổi ở khía cạnh pháp lí và
thực tế của bất động sản, dẫn tới kết quả là việc thực hiện những yêu cầu của
khách hàng như hợp đồng mua bán, trao đổi, cho thuê với sự giúp đỡ của nhà
môi giới. Bên môi giới thực hiện các công việc nhằm mục đích nhận được thù
lao cho những thay đổi về các quyền đối với bất động sản. Có thể khái niệm
về môi giới bất động sản như sau: “Môi giới bất động sản là việc các tổ chức,
cá nhân làm trung gian cho các bên trong mua bán, chuyển nhượng, cho thuê,
cho thuê lại bất động sản để nhằm tìm kiếm lợi nhuận”.
Bên cạnh đó, có thể khái niệm các chủ thể trong môi giới bất động sản
như sau: "Các chủ thể trong môi giới bất động sản là các chủ thể tham gia
vào quan hệ môi giới bất động sản gồm có bên môi giới và bên được môi
giới", đối tượng là các quyền đối với bất động sản, mục đích của bên môi giới
là hưởng thù lao, hoa hồng do bên được môi giới trả. Theo quy định, bên môi
14
15
về lĩnh vực môi giới bất động sản, điều chỉnh các quan hệ xã hội giữa các chủ
thể tham gia vào hoạt động môi giới bất động sản, quy định về nguyên tắc,
nội dung, thù lao, hoa hồng môi giới, quy định các quyền và nghĩa vụ của tổ
chức, cá nhân môi giới, quy định việc cấp, thu hồi chứng chỉ môi giới bất
động sản. Hệ thống quy phạm pháp luật về môi giới bất động sản của các chủ
thể quy định về hoạt động trong lĩnh vực môi giới như tìm kiếm đối tác, đáp
ứng các điều kiện của khách hàng để tham gia đàm phán ký kết hợp đồng môi
giới. Các hoạt động đại diện theo ủy quyền để thực hiện các công việc liên
quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản. Thông qua các quy phạm pháp
luật, pháp luật về môi giới bất động sản quy định trách nhiệm về cung cấp
thông tin, hỗ trợ cho các bên trong việc đàm phán, ký hợp đồng mua bán,
chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản.
Có thể khái niệm hệ thống quy phạm pháp luật về môi giới bất động sản
của các chủ thể như sau: “Hệ thống quy phạm pháp luật về môi giới bất động
sản của các chủ thể là tổng thể các quy phạm pháp luật, mang tính bắt buộc
chung, được ban hành và bảo đảm thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền, thể hiện quan điểm, ý chí của Nhà nước đối với lĩnh vực môi giới
bất động sản nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội giữa các chủ thể mua bán
bất động sản và các chủ thể môi giới, cũng như quy định các vấn đề thuộc
phạm vi môi giới bất động sản có liên quan”.
1.1.2.2 Đặc điểm của hệ thống quy phạm pháp luật về môi giới bất động
sản của các chủ thể
Các quy phạm pháp luật về môi giới bất động sản của các chủ thể cũng có
những đặc điểm chung như các quy phạm nói chung, cụ thể như:
Thứ nhất, quy phạm pháp luật về môi giới bất động sản của các chủ thể
thể hiện ý chí nhà nước. Quy phạm pháp luật về môi giới bất động sản là
mệnh lệnh của nhà nước, thể hiện thông qua các điều cấm, điều cho phép, các
chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực môi giới bất động sản. Các quy phạm pháp
17
luật về môi giới bất động sản được thể hiện rõ ràng trong các văn bản Luật và
văn bản pháp luật liên quan như Nghị định, Thông tư, Quyết định..., thể hiện
rõ ràng dưới hình thức thành văn.
Thứ tư, quy phạm pháp luật về môi giới bất động sản của các chủ thể
được nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện. Các quy phạm quy định về
môi giới bất động sản được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, chứa
đựng tư tưởng, quan điểm của Đảng về môi giới bất động sản, áp đặt ý chí của
mình bằng cách xác định những đối tượng nào trong những hoàn cảnh, điều
kiện nào thì phải chịu sự tác động của quy phạm pháp luật và những chế tài
pháp lý mà họ phải gánh chịu nếu không tuân thủ. Việc bảo đảm thực hiện
thông qua các biện pháp của nhà nước và xã hội, bằng sự tự giác, ý thức trách
nhiệm công dân, lương tâm đạo đức của chính mỗi một cá nhân. Tính đảm
bảo thực hiện này là thuộc tính phân định quy phạm pháp luật với các quy
phạm xã hội. Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện các văn bản về môi
giới bất động sản, các văn bản này có các cơ chế bắt buộc các đối tượng chịu
sự điều chỉnh của pháp luật về môi giới bất động sản phải tuân theo và không
được phép làm trái
Bên cạnh đó, hệ thống quy phạm pháp luật về môi giới bất động sản của
các chủ thể có những đặc điểm riêng biệt sau:
Một là, hệ thống quy phạm pháp luật về môi giới bất động sản của các
chủ thể mới được hình thành và phát triển từ khi Việt Nam chuyển đổi sang
cơ chế thị trường. Hệ thống quy phạm pháp luật về môi giới bất động sản của
các chủ thể ra đời tương đối muộn. Từ khi Đảng ta bắt đầu chuyển đổi sang
nền kinh tế thị trường thông qua Đại hội Đảng VI năm 1986 và Đại hội Đảng
VII năm 1991, nền kinh tế của Việt Nam cũng đã có những sự thay đổi đáng
sản. Thêm nữa, các điều kiện về hình thức hoạt động của các chủ thể môi giới
cũng chỉ được quy định chung chung. Với sự ra đời của Luật Kinh doanh bất
động sản 2006, các vấn đề của hoạt động môi giới bất động sản được quy
19
định tập trung hơn, thông qua Luật Kinh doanh bất động sản và các văn bản
hướng dẫn thi hành cũng như các văn bản khác của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền. Nhìn chung, việc phân tán các quy định trong nhiều văn bản quy phạm
pháp luật sẽ dẫn tới việc dễ xảy ra sự chồng chéo, trùng lắp hoặc mâu thuẫn
quy định lẫn nhau. Bên cạnh đó, với việc có nhiều văn bản rải rác, các chủ thể
của hoạt động môi giới bất động sản sẽ có thể gặp nhiều khó khăn trong việc
theo dõi các quy định của Nhà nước.
Ba là, hệ thống quy phạm pháp luật về môi giới bất động sản của các chủ
thể có phạm vi điều chỉnh rộng khắp trên mọi miền đất nước. Hệ thống quy
phạm pháp luật về môi giới bất động sản không phải ban hành cho một số
trường hợp cụ thể, các khu vực địa lý cụ thể, mà phạm vi điều chỉnh có tính
rộng khắp trên lãnh thổ quốc gia. Các chủ thể hoạt động trong lĩnh vực môi
giới bất động sản trên lãnh thổ Việt Nam đều phải tuân thủ các quy định của
hệ thống quy phạm pháp luật này. Các chủ thể trong các trường hợp mà pháp
luật đã có sự dự liệu phải thực hiện đúng các quy định điều chỉnh của pháp
luật.
Bốn là, hệ thống quy phạm pháp luật về môi giới bất động sản điều chỉnh
các quan hệ xã hội về môi giới bất động sản, quy định các quyền, nghĩa vụ,
những hành vi được làm và những hành vi bị cấm trong hoạt động môi giới
bất động sản. Được ban hành nhằm thể hiện quan điểm, ý chí của Đảng và
Nhà nước đối với thị trường bất động sản nói chung và hoạt động môi giới bất
động sản nói riêng, hệ thống quy phạm pháp luật về môi giới bất động sản
điều chỉnh các mối quan hệ xã hội của các chủ thể trong lĩnh vực môi giới bất