Đánh giá sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống bí ngồi hàn quốc vừa mới được nhập vào việt nam tại xã chiềng mung mai sơn sơn la vụ xuân năm 2013 - Pdf 34

LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành khóa học 2010 – 2013, em được nhà trường, khoa Nông
Lâm nhất trí cho em thực hiện đề tài tốt nghiệp: “Đánh giá sự sinh trưởng, phát
triển và năng suất của giống bí ngồi Hàn Quốc vừa mới được nhập vào Việt
Nam tại xã Chiềng Mung - Mai Sơn - Sơn la vụ xuân năm 2013”
Để hoàn thành đề tài này ngoài sự nỗ lực của bản thân em còn nhận được
rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, bạn học . Đặc biệt là cô giáo hướng
dẫn Phan Thị Gấm.
Sau 2 tháng thực tập em đã hoàn thành được đề tài này. Qua đây em xin
gửi lời tới các thầy cô giáo đặc biệt là cô giáo hướng dẫn, bạn học đã nhiệt tình
giúp đỡ em hoàn thiện đề tài.
Do năng lực bản thân còn hạn chế và trong quá trình thực hiện đề tài còn
gặp một số vấn đề khó khăn về thời gian, nên kết quả của đề tài không thể tránh
khỏi thiếu sót kính mong các thầy cô giáo cùng các bạn đọc góp ý kiến để cho
đề tài hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, ngày 28 tháng 4 năm 2013
Sinh viên thực hiện

Đặng Đình Trung

1


PHẦN 1.MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây bí ngồi đã xuất hiện cách đây khoảng 5.000 năm và có nguồn gốc từ
phương đông. Cây bí ngồi được trồng phổ biến ở Đông Nam Á, Trung Quốc,
Hàn Quốc và Nam Mỹ. Đây là một trong số những cây công nghiệp ngắn ngày
có hàm lượng kinh tế cao và đem lại hiệu quả kinh tế lớn.
Giá trinh kinh tế của cây bí ngồi được quyết định với thành phần chất

người Hmông…và điều kiện đất đai chủ yếu là đồi núi, nghèo chất dinh dưỡng
do bị xói mòn, rửa trôi, kỹ thuật canh tác lạc hậu…việc đưa các giống mới cho
năng suất cao giúp bà con nông dân cải thiện đời sống là rất cần thiết.
Do vậy việc tìm ra những giống bí ngồi có khả năng sinh trưởng phát triển
tốt cho năng suất cao phù hợp với điều kiện vụ xuân hè trên đất Chiềng Mung để
giúp bà con nông dân thâm canh tăng vụ, tăng thu nhập là rất cần thiết.
Xuất phát từ yêu cầu đó, được sự nhất trí của khoa nông lâm trường Cao
Đẳng Sơn La, tôi đã lựa chọn và thực hiện đề tài “ Đánh giá sự sinh trưởng và
phát triển và năng suất của giống bí ngồi Hàn Quốc vừa được nhập khẩu vào
Việt Nam vụ xuân năm 2013 tại xã Chiềng Mung – Mai Sơn – Sơn La”.
2. Mục đích và yêu cầu
2.1 Mục đích
Bước đầu đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của giống bí ngồi
tham gia thí nghiệm giống bí ngồi Hàn Quốc, qua việc đánh giá khả năng sinh
trưởng và phát triển của giống bí ngồi Hàn Quốc trong khu thí nghiệm để chọn
được nguồn giống mang lại năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất.
2.2. Yêu cầu
Theo dõi chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của giống bí ngồi thí nghiệm
Điều tra về tình hình kinh tế xã hội của vùng
Xử lý số liệu

.
.
.
.
.
3


PHẦN 2. TỔNG QUẢN TÀI LIỆU



ngồi cũng chỉ tập trung ở Viễn Đông như Trung Quốc, Inđônêxia, Nhật Bản,
Triều tiên.
Tính chất hiện đại của lịch sử trồng trọt bí ngồi không những ở chỗ phát
hiện ra công dụng nhiều mặt của hạt bí ngồi mà còn do tính mới mẻ của nó trên
những địa bàn sản xuất hoàn toàn khác với nguyên sản, cũng như các tiến bộ kỹ
thuật mới đặt ra cho những nước sản xuất cổ truyền.
2.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu bí ngồi trong và ngoài nƣớc
2.2.1. Tình hình sản xuất và nghiên cứu bí ngồi trên thế giới
2.2.1.1. tình hình sản xuất bí ngồi trên thế giới
[1] Bí ngồi là cây trồng được phát hiện từ rất sớm, diện tích trồng bí ngồi
trên thế giới trong những năm gần đây không ngừng tăng lên điều đó chứng
minh qua nhu cầu tiêu thụ bí ngồi trên thị trường thế giới diện tích trồng bí ngồi
trên thế giới từ những năm 1940 đến năm 200 tăng từ 12.440 triệu ha lên đến
73.340 triệu ha. Năng suất bí ngồi trong những năm gần đây cũng không ngừng
tăng mạnh qua từng năm nhờ những tiến bộ về giống và kỹ thuật canh tác. Điều
đó thể hiện như năng suất bí ngồi bình quân trên thế giới đạt 1470kg/ha vào năm
1971, thì đến năm 2000 năng suất bí ngồi bình quân trên thế giới đã đạt
2183kg/ha. Hiện nay, bí ngồi được trồng rộng khắc ở nhiều quốc gia nhưng vẫn
tập trung nhiều nhất ở khu vực Châu Mỹ với 73%, sau đó là các nước Châu Á
với hơn 23%
Qua bảng 2.1 ta thấy diện tích và sản lượng bí ngồi cũng như năng suất từ
năm 2002 – 2006 không ngừng tăng lên, trong đó diện tích đã tăng lên 24,43
triệu ha trong vòng 5 năm và năng suất cũng tăng lên 0,06 tạ/ha nhờ đó làm sản
lượng bí ngồi cũng tăng lên đáng kể trong vòng 5 năm qua.

5




2004

91,30

22,65

206,43

2005

130,02

22,99

209,89

2006

95,60

23,03

237,26

23,01

219,99

2007

thế giới
Tại Mỹ các nhà chọn giống đã chọn ra giống bí ngồi Clark bs, Hororey là
2 giống mà năng suất của chúng có thể đạt 30 – 40 tạ/ha và đồng thời đã nghiên
cứu thành công công nghệ chuyển ghen kháng bệnh và các giống bí ngồi có
năng suất cao này.
Tại Ấn Độ: Saigo B.B và Japolin P.N đã dùng nguồn gen kháng bệnh của
Ấn Độ để tiến hành lai 3 cặp giữa các giống mẫn cảm và kết quả là đã tạo ra
dòng bí ngồi từ quần thể phân ly có năng suất cao 3,4 – 4 tấn/ha với mức kháng
bệnh trung bình.
Trung Quốc đã tiến hành lai hữu tính nhập nội giống đã tạo ra cho đất
nước này có một nguồn ghen phong phú và nhiều giống có năng suất cao, phẩm
chất tốt, có khả năng chống chịu sâu bệnh khá như: CN001, CN002 …năng suất
bình quân đật 2,0 – 3,0 tấn/ha sản xuất đại trà.
Nhiều tổ chức mạng lưới nghiên cứu, cải tạo giống bí ngồi quốc tề được thành
lập và tham gia nhiều hoạt động như:
Chương trình nghiên cứu bí ngồi quốc tề tại Mỹ (INTSOY)
Viện nông nghiệp nhiệt đới ở Nga (IITA)
Trung tâm phát triển rau màu Châu Á tại Đài Loan (AVRDC)
Chương trình hợp tác nghiên cứu cây thực phẩm ở Trung Mỹ (PPCCMA)
Trong đó AVRDC là nơi nghiên cứu và đánh giá tập đoàn ghen bí ngồi
sớm nhất có khả năng chống chịu với bệnh gỉ sát và thích ứng với điều kiện
trồng trọt tại nhiều quốc gia.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người về đậu tượng thì công
tác nghiên cứu trên thế giới cũng đang nỗ lực rất nhiều để tạo ra các giống mới.
7


Hiện nay với sự tiến bộ lớn mạnh của công nghệ sinh học và công nghệ di
truyền phân tử sẽ mở ra tiềm năng lớn hơn nữa cho cây đậu tượng.
2.2.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu bí ngồi tại Việt Nam .

Diện tích

Năng suất

Sản lƣợng

(Triệu ha)

(Tạ/ha)

(Triệu tấn)

2002

158,60

12,96

205,60

2003

165,60

13,27

219,70

2004


Năm

(Nguồn viện giám sát thống kê năm 2009)
Qua bảng số liệu thống kê ta thấy từ năm 2003 – 2007 diện tích, năng
suất, sản lượng bí ngồi ở Việt Nam tăng lên đáng kể so với năm 2002, năm sau
cao hơn năm trước. Trong 1 năm từ 2002 – 2003 diện tích trồng bí ngồi tăng 7
nghìn ha và sản lượng tăng 14,1 nghìn tấn. Năng suất bí ngồi năm 2003 đạt
13,27 tạ/ha cao hơn năm 2002 là 0,31 tạ/ha. Năm 2004 diện tích là 182,5 nghìn
ha táng 23,9 nghìn ha so với năm 2002 và 16,9 nghìn ha so với năm 2003. Tuy
nhiên trong năm nay thì năng suất lại không tăng sơ với năm 2003 cho nên sản
lượng bí ngồi có tăng nhưng là nhờ sự mở rộng về diện tích. Trong những năm
tiếp theo thì diện tích, năng suất, sản lượng bí ngồi đều tăng lên tương đối so với
năm trường đó, cụ thể: năm 2007 diện tích trồng bí ngồi đã tăng lên 31,5 nghìn
ha so với năm 2002 và đạt 190,10 nghìn ha và năng suất bí ngồi cũng đã tăng
164 tạ/ha so với năm 2002 và đạt 14,6 tạ/ha.
Qua bảng số liệu cho ta thấy những năm gần đây tình hình sản xuất bí
ngồi của nước ta đang rất được chú trọng phát triển, qua đó cũng cho ta thấy
được cây bí ngồi đã và đang rất được bà con nông dân chú ý và kỹ thuật thâm
canh cây bí ngồi thì cũng cho ta thấy việc chọn tạo các giống bí ngồi năng suất
cao phục vụ sản xuất cũng đang được các nhà khoa học rất ý nghiên cứu và phát
triển.

9


Hiện nay cả nước ta chia làm nhiều vùng sản xuất bí ngồi: Miền núi và
trung du Bắc Bộ, đặc biệt là vùng Tây Bắc của nước ta. Trong đó vùng miền núi
và trung du bắc bộ có sản lượng lớn nhất. Năm 2000 sản lượng đạt 48,6 nghìn
tấn chiếm 34,2% diện tích cả nước, trong khi diện tích chỉ chiếm 28,6% diện
tích cả nước. Đứng thứ hai là khu vực Tây bắc với diện tích là 27,1 nghìn ha


Nước ta cũng đa và đang áp dụng các phương pháp chế tạo giống mới: lai
tạo, xử lý đột biến, nhập nội giống, áp dụng công nghệ sinh học. Công tác nhập
nội giống của việc cây lương thực và thực phẩm, viện khoa học nông nghiệp
Việt Nam. Nếu đánh giá về tốc độ sản xuất bí ngồi thì nước ta lại là nước có tốc
độ phát triển khá nhanh so với các nước trên thế giới. Đặc biệt là trong khoảng
thời gian từ 1983 – 1993, Việt Nam đã rất coi trọng đầu tư nghiên cứu khoa học
kỹ thuật trong sản xuất bí ngồi. Nhiều công trình khoa học đã bắt đầu phát huy
được tác dụng đối với sản xuất.
Trong những năm 1957 – 1965 thí nghiệm 2 giống nhập nội (chủ yếu ở
Trung Quốc), và hàn quốc đã chọn ra được 2 giống tốt, được phổ biến mạnh ra
sản xuất đại trà đó là:
Giống ở Trung Quốc, thích hợp cho vụ xuân hè ở miền Bắc Việt Nam.
Giống Satumvia có nguồn gốc ở hàn quốc có thời gian sinh trưởng 65 ngày rất
thích hợp với khí hậu ở miền tây bắc, tuy năng suất cao từ 30 – 40 tạ/ha nhưng
hạt đen, không được thị trường quốc tế ưa chuộng.
Hiện nay có một số chương trình hợp tác giữa Bộ nông nghiệp và
ICRISAT có nhiều cơ quan như: Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam,
viện cây lương thực, thực phẩm, trung tâm nghiên cứu và phát triển rau màu
Châu Á, các trường đại học nông nghiệp cùng nhiều cơ sở nghiên cứu khoa học
khác đã tập trung chọn tạo giống bí ngồi từ các vật hậu trong nước, nhập nội và
gây đột biến. Kết quả công tác nghiên cứu, chọn giống ở Việt Nam có 4.188 lượt
mẫu giống được khảo sát.
Trong giai đoạn 1996 – 2000 chủ yếu tại viện khoa học kỹ thuật nông
nghiệp Việt Nam (trung tâm giống cây trồng Việt – Xô: 3.041 mẫu và trung tâm
nghiên cứu bí: 325 mẫu). Trong đó 1.147 mẫu giống ở các cơ sở nghiên cứu
khác. Từ những năm 1980 trở lại đây các cơ sở nghiên cứu khoa học đã tập
trung đi sâu vào hai hướng cơ bản chính trong sản xuất đậu đỗ nói chung và cây
bí ngồi nói riêng đó là:
+ Chọn tạo giống thích hợp cho từng vùng sinh thái, từng mùa vụ khác

đoàn giống bí ngồi ở Việt Nam đã phong phú bàng phương pháp lai hữu tính,
Nguyễn Tấn Minh cùng các cộng tác viên [3] đã chọn tạo được giống Đ9804 có
năng suất cao, ổn định, thích hợp với điều kiện gieo trồng trong vụ xuân, vụ
động ở vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ và hè thu cho các tỉnh miền núi phía
12


Bắc với những tập đoàn giống phong phú như vậy, đây sẽ là nguồn nguyên liệu
quý giá cho việc sản xuất và phục vụ cho công tác chọn giống sau này.
Nếu khoảng cách trồng như bác Xuyến thì trung bình 2m2 trồng một cây
bí ngồi . Một sào Bắc bộ trồng 180 cây, mỗi cây cho 5 quả, quả nặng trung bình
2,5-3kg, thì mỗi sào ta thu được 2,3-2,7 tấn quả bí ngồi. Giá bí ngồi hiện tại ở
Nam Định là 15-17.000 đ/kg (bí ta có giá 8-10.000 đ/kg), như vậy mỗi sào bí
ngồi sẽ thu khoảng 40 triệu đồng, trồng trong 2 tháng....
Nếu khoảng cách trồng như bác Xuyến thì trung bình 2m2 trồng một cây
bí ngồi . Một sào Bắc bộ trồng 180 cây, mỗi cây cho 5 quả, quả nặng trung bình
2,5-3kg, thì mỗi sào ta thu được 2,3-2,7 tấn quả bí ngồi. Giá bí ngồi hiện tại ở
Nam Định là 15-17.000 đ/kg (bí ta có giá 8-10.000 đ/kg), như vậy mỗi sào bí
ngồi sẽ thu khoảng 40 triệu đồng, trồng trong 2 tháng... Giống bí ngồi Hàn Quốc
du nhập vào Việt Nam chừng vài năm nay. Theo các tài liệu, đó là loài cây chỉ
thích nghi với vùng đất có khí hậu mát và ẩm, nhiệt độ trung bình từ 25-300C.
Một số nhà nghiên cứu nói rằng: Giống bí ngồi của Hàn Quốc chỉ trồng được ở
khu vực Đơn Dương, Đà Lạt, (Lâm Đồng). Tôi chỉ là người nông dân nhưng
thực tế đã ứng dụng tại mảnh vườn số nhà 43, khu Tân giang, xã Nam Thanh
(Nam Trực- Nam Định) theo 2 phương thức: Trồng trên luống và trồng trong
chậu đều thành công cả. Chỉ cần cái chậu xi măng có đường kính 45-50cm,
chiều sâu khoảng 40 cm là trồng được một cây. Đợt đầu tôi trồng vào ngày
mùng 3 Tết Bính Tuất và thu hoạch vào ngày 5/3 (ÂL). Thời gian dài hơn sách
vở là 15 ngày. Qua theo dõi và nghiên cứu tôi thấy giống bí ngồi của Hàn Quốc
có mấy đặc tính sau đây: - Chúng rất thích nghi với ánh sáng đa chiều. Do vậy

để ở tiền sảnh, ban công, sân chơi. Khi chúng ra hoa kết trái cũng đẹp mắt. Nó
có thể thay thế cây cảnh làm thư giãn tâm hồn người mà lại có rau sạch ăn
ngon.,
2.2.3. Hiệu quả kinh tế từ cây bí ngồi
Trồng cây bí ngồi vụ đông trên địa bàn thôn Phương Hạ, xã Đại Trạch
những năm gần đây trở thành cây trồng cho thu nhập cao của người dân.
Đại Trạch là địa phương có truyền thống trồng các loại cây rau màu vụ
đông như cà chua, dưa chuột, ngô... trong đó cây bí ngồi được người dân chú
trọng vì giá trị kinh tế cao, chi phí thấp, dễ trồng, sản lượng cao và tiêu thụ dễ
dàng.
14


Từ nhiều năm nay, nông dân Quảng Bình vẫn có tâm lý coi vụ đông là vụ
sản xuất tận dụng giữa hai vụ chính, ai có điều kiện thì làm, không thì bỏ đất
trống. Với thôn Phương Hạ thì lại khác, nếu không trồng bí ngồi thị họ cũng tận
dụng trồng các loại rau màu khác như cà chua, dưa chuột... để tăng thêm thu
nhập. Do hiệu quả kinh tế cao nên những năm gần đây bà con nơi đây đã chọn
cây vụ đông của họ là bí ngồi.
Theo những người dân ở đây thì cách trồng và chăm bón cây bí ngồi vô
cùng đơn giản, rất thích hợp với thời tiết miền Trung nên việc làm giàu từ cây
này không hề khó. Khó khăn nhất ở đây vẫn là hạt giống, đã nhiều năm nay,
những người trồng cây bí ngồi vẫn tự tìm mua giống. Cứ một sào đất thì cần một
lốc giống với giá 180.000 đồng. Ai muốn trồng giống cây này thì phải đăng ký
trước 3 tháng để cử người đi mua giống ở Hà Nội.
Hiện nay, thôn Phương Hạ có hơn 2 ha đất trồng cây bí ngồi. Trừ giống
cây và phân bón thì mỗi vụ người dân thu lãi hơn 8 triệu đồng/ 1 sào. Người dân
thường trồng cây bí ngồi vào tháng 9-10 , thu hoạch tháng 11 -12 âm lịch. Thời
gian sinh trưởng của loại cây này thường 55-60 ngày. Kỹ thuật trồng cũng đơn
giản, chỉ cần lên luống cao 20-25 cm, mặt luống rộng 60-70 cm, rãnh giữa 2

cảm của kiểu ghen đều ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây. Cây bí
ngồi có nguồn gốc ôn đới nhưng nó không phải là cây chịu được rét. Yêu cầu về
nhiệt độ của cây bí ngồi từ 25 – 300c đến sinh trưởng và phát triển. Nếu nhiệt độ
dưới 210c và trên 320c sẽ giảm sự ra hoa và đậu quả, nhiệt độ trên 420c sẽ ảnh
hưởng đến quá trình tích lũy quả của bí ngồi.
Ở các thời kỳ sinh trưởng khác nhau cây bí ngồi cần những yếu cầu là vào
giai đoạn ra hoa đến tạo quả, đặc biệt là giai đoạn quả mẩy. Nếu thiếu nước vào
thời kỳ này sẽ làm giảm tỷ lệ đậu quả, hạn vào thời kỳ quả mẩy sẽ làm cho năng
suất giảm đi lớn nhất.
Bí ngồi là cây mẫn cảm với ánh sáng ngày ngắn và yêu cầu được chiếu
sáng đầy đủ, chu kỳ chiếu sáng cho sự ra hoa và hình thành hạt là 6 – 12h. Căn
cứ vào yêu cầu sinh thái của cây bí ngồi, đặc điểm khí hậu của vụ đông miền
Bắc Việt Nam cho thấy: Bí ngồi sinh trưởng và phát triển không thuận lợi trong
điều kiện vụ đông, trời khô hanh, rét, ánh sáng ngày ngắn dần, nhiệt độ giảm
dần đó chính là nguyên nhân làm cho năng suất cây bí ngồi giảm so với các vụ
khác. Mặt khác vụ đông do điều kiện ngoại cảnh bất lợi, là điều kiện để cho sâu
16


bệnh phát sinh và gây hại ảnh hưởng tới năng suất. Yêu cầu đặt ra là phải chọn
được bộ giống phù hợp với điều kiện vụ đông và có khả năng chịu rét, chịu hạn,
chống chịu sâu bệnh, thời gian sinh trưởng phù hợp.. Như vậy so sánh và đánh
giá dòng, giống là một khâu quan trong không thể thiếu trong quá trình chọn tạo
giống.
2.2.4.2. Cơ sở thực tiễn
Xuất phát từ nhu cầu thực tiến nền nông nghiệp của nước ta tuy có tăng
trưởng nhưng vẫn chữa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của con người.
Bên cạnh đó hệ thống cây trồng ở một số vùng là chưa đa dạng nên chưa khai
thác hết tiềm năng đất đai và tiềm năng lao động ở nông thôn trong lúc nông dân
phá vỡ thế độc canh cây lúa đồng thời cải tạo đất, luân canh tăng vụ. Do vậy

Làm đất nhỏ, sạch cỏ dại, lên luống ruộng 1,8 – 2m,
Trồng 1 luống 2 hàng. Bổ hốc, bón phân vào hốc, đảo đều đất rồi đặt bầu
chú ý phải rạch bầu trước khi trồng, tưới giữ ẩm thường xuyên.
Mật độ khoảng cách trồng: Hàng cách hàng 60 cm, cây cách cây 55 – 60
cm (500 – 600 cây/sào) ,

18


3.3.3. Lượng phân bón cho 1 sào Bắc bộ: ,
- Đạm Urê: 5 –6 kg; Phân chuồng: 300 kg; Kaly Clorua (loại 60%): 4 kg;
Supe lân lâm thao: 20 kg ;
+ Kỹ thuật bón: bón lót toàn bộ phân chuồng + toàn bộ lân + 30% kali +
30% đạm. ,
- Bón thúc một lần sau khi cây bén rễ, hồi xanh: 15% đạm. ,
- Bón thúc lần 2: Khi cây có 4 – 5 lá thật kết hợp vun xới: 50% Kaly +
30% đạm. ,
- Bón thúc lần 3: Bón vào đất hoặc tưới gốc khi cây đậu quả non: 25%
đạm + 20% kali ,
3. Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh ,
- Chú ý phun thuốc trừ bệnh phấn trắng ngay khi cây còn nhỏ; ,
- Khi hoa nở nên thụ phấn bằng tay ( 8 – 10 h sáng) nếu thấy hiện tượng
thụ phấn không đều
- Dùng tấm xốp kê lót quả cho đẹp, chống thối.
- Thường xuyên giữ ẩm nhưng phải thoát nước ngay sau khi mưa to.
4. Thu hoạch:
- Nếu hướng sử dụng làm rau thì nên thu hoạch khi quả còn non, khi cây
đạu quả được 6-8 ngày
- Nếu hướng sử dụng, hàng sấy khô xuất khẩu thì thu hoạch sau thụ phấn
30 – 35 ngày.

3.4.3. Xử lý số liệu
Xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel.

20


PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Vị trí địa lí.
Mai Sơn nằm trong toạ độ, từ 20o 52'30 đến 21o 20'50 vĩ độ bắc; từ
103o41'30 đến 104o16' kinh độ đông.
Phía Bắc giáp Thuận Châu, thị xã Sơn La và Mường La. Phía Đông giáp Bắc
Yên, Yên Châu. Phía Tây giáp huyện Sông Mã. Phía Nam giáp tỉnh Hủa Phăn
của Lào với đường biên giới dài 8 Mai Sơn rộng 1410,3 km² và có 112,8 nghìn
nhân khẩu (dân số khu vực thành thị chiếm 8,4%). Có nhiều dân tộc cộng cư
sinh sống ( trong đó 6 dân tộc chủ yếu là người Thái (Việt Nam) chiếm 55,62%,
người Kinh 30,53%, người Mông 7,42%, người Xinh Mun 3,23%, người Khơ
Mú 2,49%; người Mường 0,65%)km.
4.2. Tình hình kinh tế - xã hội.
4.2.1. Tình hình đất đai
Đất đai của xã hình thành do quá trình phong hoá đá mẹ Granit cùng lẫn
với khu vực đồi đất đỏ Bazan tạo nên, mặt khác với quá trình biến đổi địa chất
tại nên các khe suối nhỏ và thung lũng nhỏ hẹp tạo nên sự đa dạng của thành
phần đất đai địa phương. Tuy nhiên, thành phần đất nông nghiệp chủ yếu là đất
thịt bùn và đất thịt nặng với những ruộng lúa nước do quá trình khai hoang, cải
tạo của con người.
Bảng 1: Tình hình biến động đất đai của xã Chiềng Mung
2007
Năm
TT
Loại đất

2.935,00 100

2.935,0 100

Tăng
(+)

Tỷ lệ

Giảm

(%)

(-)
00

100

2.590,2 88,2

655,2

133,8

3

3

6



0
784,94

86,0

năm

35,1

-4,57

99,50

74,2

-

86,02

3

109,6

2
675,26

0

8

1
1.1. Đất trồng cỏ chăn
2

nuôi

1.1. Đất trồng cây hàng
3

718,33

91,5

năm khác

0

83,73

6
1.2

Đất trồng cây lâu năm 129,24

14,1

234,35

0
2


1

3

51,6

1.658,2 64,0

658,7

165,9

0

4

5

1

100

1.658,2 100

658,7

165,9

4


sản
II

Đất phi nông nghiệp

2
1

Đất ở

21,43

23,1

24,06

0
2

Đất chuyên dùng

30,10

32,4

25,0

2,63


105,0


công trình sự nghiệp
2.2

Đất sản xuất kinh

0
1,62

0,52

0,00

0,00

-1,62

00

Đất có mục đích công 28,28

93,9

30,53

99,2

2,25


Đất chưa sử dụng

2
18,00

31,0

00

100

00

100

-

27,44

4
23,25

6
906,17

18,7

5


4

304,7

41,89

9
2

Núi đá không có cây

381,66

42,1

rừng

2

29,00

11,6

-

6

352,6

7,59

lâu năm có năng suất cao.
4.2.2. Tình hình dân số, lao động
Chiềng Mung là một xã còn nghèo, dân cư thưa thớt với 15 bản và 4 dân
tộc anh em cùng sinh sống và lao động là dân tộc Thái, Kinh, Mương và Khơ
Mú. Trong đó người Thái chiếm tỷ lệ cao nhất với khoảng 80% dân số, tiếp sau
đó là người Kinh với khoảng 18% dân số, còn lại là người Mường và người Khơ
Mú. Các dân tộc cùng sinh sống với những bản sắc riêng tạo ra sự đa dạng và
phong phú về phong tục, tập quán, lối sống.
Tình hình dân số và lao động được thể hiện qua Bảng 2:

24


Bảng 2: Nhân khẩu và lao động xã Chiềng Mung.
2007
Chỉ tiêu

ĐVT

Số
lƣợng

2011


cấu

3.289

100


III. Tổng số hộ

hộ

1. Hộ nông nghiệp
2. Hộ phi nông nghiệp

nghiệp

g
3.56

người



lƣợn cấu

(%)

I. Tổng nhân khẩu

2. Lao động phi nông

Số

3

(%)

198

5,56 64

147,76

100

359

121,42

325

120,30

2.03
5
1.92

94,6

6

4

4,47

109


4,63

48

6,25 17

154,84

4,91

-

4,64

-

-0,27

94,50

2,50

-

2,65

-

0,15


Nguồn: UBND xã Chiềng Mung

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status