MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY HỌC NHẰM GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT MÔN TOÁN LỚP 3 - Pdf 34

1

MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY HỌC NHẰM GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT MÔN TOÁN LỚP
3
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Chương trình sách giáo khoa mới qui định dạy đủ 6 môn trong đó mỗi môn điều có tầm quan
trọng riêng của nó. Thông qua quá trình dạy học các phân môn để hình thành cơ sở ban đầu về
phát triển con người toàn diện cho học sinh. Cùng với môn Tiếng Việt, Đạo đức, Tự Nhiên Xã
Hội, Nghệ thuật, môn Toán có vị trí quan trong vì:
– Việc thay sách Toán Tiểu học là một yêu cầu khách quan thì việc đổi mới phương pháp
giảng dạy là điều không thể chậm trễ. Song việc đổi mới như thế nào, bắt đầu từ đâu, người
thực hiện ra sao thì quả là không dễ dàng chút nào. Muốn làm được việc đó phải dày công
nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo. Mà trước hết là người giáo viên giảng dạy. Thấm nhuần tinh thần
đó, thời gian qua bản thân tôi đã không ngừng nghiên cứu, tìm tòi, chủ động nắm bắt để giảng
dạy kết quả. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là thành công bước đầu.
– Chuẩn kiến thức, kĩ năng là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu mà tất cả học sinh cần phải đạt
được sau từng giai đoạn học tập. Chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Toán đối với từng lớp ở tiểu
học đã được quy định tại Chương trình sách giáo dục phổ thông cấp Tiểu học ( ban hành kèm
theo Quyết định số 16/ 2006 QĐ-BGDDT ngày 05 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo).
– Bên cạnh đó Toán là một môn có vị trí và nhiệm vụ hết sức quan trọng. Bởi lẽ Toán học
không những cung cấp cho học sinh những kiến thức kỹ năng cần thiết để học lên các lớp trên
hay áp dụng vào cuộc sống, mà toán học còn góp phần quan trọng trong việc hình thành nhân
cách ở học sinh, và hỗ trợ đắc lực cho mục tiêu giáo dục toàn diện cho các em.
– Mặt khác, trong trường tiểu học hịên nay, cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán là môn có
thời lượng giảng dạy cao hơn hẳn các môn học khác. Điều đó cho thấy môn Toán hết sức quan
trọng trong việc dạy học.
– Đặc biệt đối với lớp 3 năm nay là năm thứ sáu thực nghiệm dạy theo chương trình sách giáo
khoa mới.
– Vì vậy, để giúp học sinh nắm vững kiến thức kĩ năng làm nền tảng cho việc học tốt môn

– Phương pháp tổng kết.
II. PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lý luận.
Dạy Toán học là dạy cho học sinh sáng tạo, là rèn luyện các kỹ năng, trau dồi phẩm chất đạo
đức, tính siêng năng, cần cù, chịu khó. Đó là phẩm chất vốn có của con người. Thông qua học
Toán để đức tính đó được thường xuyên phát huy và ngày càng hoàn thiện. Chương trình Toán
Tiểu học là một công trình khoa học mang tính truyền thống và hiện đại. Việc dạy Toán Tiểu
học phải được đổi mới một cách mạnh mẽ về phương pháp, về cung cách lên lớp, về chấm
chữa và đánh giá học sinh. Nghiên cứu chương trình Toán lớp 3 chúng ta thấy rằng đó là một
nội dung hoàn chỉnh sắp xếp từ dễ đến khó, từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp phù hợp
với đặc điểm tâm sinh lý và đặc điểm nhận thức của trẻ từ 6 tuổi trở lên. Nghiên cứu để thấy rõ
nội hàm của nó, bản chất của nó mới có phương pháp giảng dạy sát đúng. Sáng kiến kinh
nghiệm là một tập hợp về nhận thức, cách nhận định, đánh giá, phân tích tình hình để tìm ra
con đường đi mang lại kết quả theo mong muốn. Nếu chỉ dựa vào các văn bản của trên, dựa
vào thiết kế bài dạy và sách giáo khoa để giảng dạy theo lối áp đặt thì quả là phản khoa học,
không mang tính sư phạm tí nào. Như vậy dễ cho người dạy song khó cho người học. Và như
vậy thì vai trò của người thầy sẽ không rõ. Qua đó tính sáng tạo cũng không có. Dạy toán là
dạy sáng tạo là dạy cách suy luận lôgíc thì phải mở rộng ngoài sách giáo viên, sách giáo khoa,
sách thiết kế của Bộ. Dạy toán là dạy cách làm việc sáng tạo, cách suy luận, cách sống nhân
văn thời hiện đại. Thế nên, người giáo viên phải có tầm nhìn. Tầm nhìn đó vừa xa vừa thực tế,
phải nắm được lý thuyết song phải có kỹ năng khái quát vừa hết sức cụ thể. Như vậy phải đọc
nhiều, tích luỹ nhiều, và phải rút ra được những điều cần thiết để tận dụng.
Trong quá trình dạy học toán ở phổ thông nói chung, ở tiểu học nói riêng, môn toán là một
trong những môn học quan trọng nhất trong chương trình học ở tiểu học.
Môn toán có hệ thống kiến thức cơ bản cung cấp những kiến thức cần thiết, ứng dụng vào đời
sống sinh hoạt và lao động. Những kiến thức kĩ năng toán học là công cụ cần thiết để học các
môn học khác và ứng dụng trong thực tế đời sống. Toán học có khả năng to lớn trong giáo dục
học sinh nhiều mặt như: Phát triển tư duy lôgic, bồi dưỡng những năng lực trí tuệ (Trừu tượng
hoá, khái quát hoá, phân tích, tổng hợp, chứng minh, so sánh, . . . ) Nó giúp học sinh biết tư
duy suy nghĩ, làm việc góp phần giáo dục những phẩm chất, đạo đức tốt đẹp của người lao

chuyên môn trong việc tiếp cận với phương pháp giảng dạy toán 3 mới. Tôi nhận thấy đối
tượng học sinh không đồng đều một số học sinh trung bình, yếu, . . . Phần nhiều học sinh chưa
nắm vững chắc những kiến thức cơ bản về toán như:
+ Chưa thuộc bảng nhân, chia.
+ Chưa nắm vững cách đọc, viết và so sánh số tự nhiên (đến hàng nghìn, chục).
+ Chưa biết đặt tính, thực hiện phép tính ( cộng, trừ, nhân, chia cột dọc).
+ Đặc biệt các em còn rất yếu trong việc giải toán có lời văn.
+ Chưa thuộc các quy tắc đã học trong giải toán.
Đứng trước thực trạng trên, là giáo viên chủ nhiệm lớp 31 tôi thật sự băn khoăn và đặt ra
nhiệm vụ là làm thế nào để bồi dưỡng, hình thành cho học sinh những kiến thức cơ bản giúp
học sinh học tốt môn toán. Chính vì thế nên tôi chọn đề tài: Một số kinh nghiệm dạy học nhằm
giúp học sinh học tốt môn toán lớp 3 ở bậc tiểu học.
Chương 3: Giải pháp đề ra.
Để rèn luyện và bồi dưỡng học sinh học tốt môn toán, ngay từ đầu năm tôi được phân công
giảng lớp 31. Sau khi khảo sát chất lượng đầu năm và qua các tiết ôn tập toán đầu năm, tôi đã
phân loại học sinh cụ thể vào sổ tay như sau:
+ Chưa thuộc bảng nhân, chia ở lớp 2 đã học: 16/20 học sinh.
+ Chưa nắm vững cách đọc, viết và so sánh số tự nhiên: 14/20 học sinh.


4

+ Chưa biết đặt tính, thực hiện phép tính: 17/20 học sinh.
+ Giải toán có lời văn chưa được: 18/20 học sinh.
+ Chưa thuộc các quy tắc đã học trong giải toán: 20/ 20 học sinh.
– Để tìm hiểu về gia đình, điều kiện sống, sự chăm lo của phụ huynh đối với con em. Ngay từ
đầu năm tôi đề nghị Ban Giám Hiệu cho họp phụ huynh học sinh. Thông qua cuộc họp tôi báo
cáo lại tình hình học tập của từng học sinh đặc biệt là học sinh yếu môn Toán.
– Trong cuộc họp tôi động viên phụ huynh mua đầy đủ dụng cụ học tập cho học sinh.
– Cần tạo điều kiện cho con em có góc học tập ở nhà, Đặc biệt là phụ huynh nhắc nhở việc học

+ Hàng ngày, đầu giờ học môn toán, thay vì cho học sinh vui, để khởi động, tôi thay vào cả
lớp cùng đọc một bảng nhân hoặc chia và cứ thế lần lượt từ bảng nhân 2, bảng chia 2 đến bảng
nhân, chia hiện học.
+ Sau mỗi giờ học toán tôi thường kiểm tra những học sinh chưa thuộc bảng nhân, chia từ 2
đến 4 em.


5

+ Tôi thường xuyên kiểm tra học sinh bảng nhân, chia bằng cách in bảng nhân, chia trên giấy
A4, nhưng không in kết quả và bỏ trống một số thành phần của phép nhân, chia trong bảng.
Vào cuối tuần dành thời gian khoảng 10 phút cho các em ghi đầy đủ và hoàn chỉnh bảng nhân,
chia như yêu cầu. Tôi và học sinh cùng nhau nhận xét, khen ngợi học sinh làm bài tốt, nhắc
nhở các em làm bài chưa tốt.
+ Tôi cũng thường xuyên cho học sinh chép bảng nhân nào mà các em chưa thuộc vào tập
riêng. Ngày sau trình bày và đọc cho tổ trưởng nghe vào đầu giờ, sau đó tổ trưởng báo cáo cho
giáo viên.
* Thỉnh thoảng để khắc sâu kiến thức, tôi còn cho học sinh chơi trò chơi.
VD: Trò chơi ôn lại bảng nhân ( trò chơi lô tô)
– Tôi chuẩn bị nhiều bảng theo thứ tự đảo ngược như sau:
8 20 16
32 12 24
40 28 36
Cách chơi:
Phát cho mỗi em một bảng. Giáo viên hoặc lớp trưởng lần lượt đọc mỗi lần 1 phép tính trong
bảng nhân 4 nhưng không nêu kết quả. Học sinh nghe và tự tìm kết quả đánh dấu vào ô có kết
quả đúng. Nếu học sinh nào đánh đúng, đủ 3 ô hàng ngang hoặc hàng dọc thì em đó thắng.
Giáo viên quan sát lại khen thưởng học sinh thắng cuộc, khuyến khích học sinh làm chưa tốt.
Tiếp tục như những cách làm trên cho đến khi cả lớp đều thuộc từ bảng nhân, chia 2 đến 9.
Qua thời gian không lâu lớp tôi có 20/ 20 học sinh thuộc tất cả bảng nhân chia từ 2 đến 9.

Phân tích: 5 9 2 1
5nghìn 9trăm 2chục 1đơn vị.
Hoặc: lớp nghìn lớp đơn vị.
. Khi viết, ta viết từ hàng cao đến hàng thấp (viết từ trái sang phải).
. Khi đọc lớp nào ta kèm theo đơn vị lớp đó.
. Học sinh đọc: Năm nghìn, chín trăm hai mươi mốt.
– Hơn thế nữa, tôi còn hướng dẫn thêm cho học sinh cách đọc như sau:
VD: Số 5921 và 5911.
. Số 5921 đọc là: Năm nghìn, chín trăm hai mươi mốt.
. Số 5911 đọc là: Năm nghìn, chín trăm mười một.
– Nói cụ thể hơn, từ hai số trên cho học sinh nhận ra được cách đọc ở cùng hàng đơn vị của
hai số là khác nhau chỗ mốt và một. Nghĩa là số 5921, hàng đơn vị đọc là mốt, còn số 5911
hàng đơn vị đọc là một. Tuy cùng hàng và đều là số “1” nhưng tên gọi lại khác nhau. Tôi còn
phát hiện và giúp học sinh đọc và nhận ra cách đọc của một vài số lại có cách đọc tương tự
trên:
VD: Số 2305 và 2325 cùng hàng đơn vị là số “5” nhưng lại đọc là “năm” và “lăm”.
VD: Số 2010: Học sinh nhiều em đọc là “Hai nghìn không trăm linh mười”. Tôi hướng dẫn
các em. Trong số tự nhiên chỉ được đọc “linh một, linh hai, . . . .linh chín, không có đọc là linh
mười” vậy số 2010 đọc là: Hai nghìn không trăm mười.
* Hướng dẫn so sánh.
Trong qui tắc là: Khi ta so sánh trong hai số thì: Số nào có ít chữ số hơn thì số đó bé hơn và
ngược lại. VD: 9999 < 10 000 ; 1000 > 999.
+ Còn các số có cùng chữ số thì sao? Ngoài việc làm theo qui tắc thì tôi còn làm như sau:
VD: Bài tập 3a trang 100:
Để tìm số lớn nhất trong các số: 4375 ; 4735 ; 4537 ; 4753. Tôi hướng dẫn họ sinh như sau:
– Xếp theo cột dọc, sao cho thẳng hàng nghìn, trăm, chục, đơn vị với nhau. Cụ thể trên bảng
phần được xoá là:
4375
47354735
4537

Số bị trừ số trừ hiệu
+ Muốn tìm hiệu ta lấy số bị trừ, trừ đi số trừ.
8265 – 5152 = 3113
+ Muốn tìm số bị trừ chưa biết, ta lấy hiệu cộng với số trừ.
x – 5152 = 3113
x = 3113 + 5152
x = 8265
+ Muốn tìm số trừ chưa biết, ta lấy số bị trừ trừ đi hiệu.
8265 – x = 3113
x = 8265 – 3113
x = 5152
+ Bất kì số nào trừ 0 cũng bằng chính số đó.
4–0=4
– Đặt tính và tính:
Cần hướng dẫn học sinh kĩ là phải đặt tính thẳng hàng (hàng đơn vị theo hàng đơn vị, hàng
chục theo hàng chục, hàng trăm theo hàng trăm, hàng nghìn theo hàng nghìn). Hướng dẫn học
sinh bắt đầu cộng từ hàng đơn vị (hoặc từ phải sang trái). Nên lưu ý học sinh đối với phép trừ
có nhớ, cần bớt ra khi trừ hàng kế tiếp.
* GV nói: Khi kẻ lần vạch ngang, tất cả các em đều dùng bằng thước.
* Nhắc học sinh chú ý: Trong phép cộng, trừ chỉ nhớ số 1, không nhớ 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9.(trừ
khi có nhiều số hạng cộng với nhau như bài tập 1b trang 156).
* Đối với phép nhân, chia: (giúp học sinh nhớ và áp dụng).
– Phép nhân:
VD: 1427 x 3 = 4281
Thừ số Thừa số Tích
+ Muốn tìm tích, ta lấy thừa số thứ nhất nhân với thừa số thứ hai.


8


32 : x = 8
x = 32 : 8
+ Số nào chia cho 1 cũng bằng chính số đó.
4 : 1 = 4; . . . . . 9 : 1 = 9
+ 0 chia cho bất kỳ số nào cũng bằng 0.
0:3=0
* Nhắc thêm cho học sinh: không thể chia cho 0.
3:0
+ Muốn tìm số chia trong phép chia có dư, ta lấy số bị chia trừ đi số dư rồi chia cho thương.
7 : 3 = 2(dư 1) Vậy: (7 – 1) : 2
+ Muốn tìm số bị chia trong phép chia có dư, ta lấy thương nhân với số chia rồi cộng với số
dư.
7 : 3 = 2 (dư 1) Vậy: 2 x 3 + 1


9

+ Trong phép chia có dư, số dư nhỏ nhất là 1, số dư lớn nhất kém số chia 1 đơn vị. ( trong
chương trình toán 3 số dư trong phép chia nhỏ nhất là 1, lớn nhất là 8).
VD: Số chia là 9, thì số dư là 1, 2, 3, 4, . . . . 8. (số dư phải nhỏ hơn số chia)
– Đặt tính và tính:
Tôi nghĩ thực hiện đặt tính và tính cộng, trừ, nhân, chia theo cột dọc, thì phép chia là khó nhất
vì:
– Học sinh hay quên, thực hiện chưa đầy đủ các hàng cao đến hàng thấp (có em chỉ mới thực
hiện đến hàng trăm, chục mà không thực hiện hết). Cần hướng dẫn kĩ cho học sinh cách nhân
ngược lên và trừ lại, . . . Đặc biệt đối với học sinh yếu toán, tôi hướng dẫn kĩ cách đặt tính,
nhằm giúp các em thấy được hàng nào thực hiện rồi, hàng nào chưa thực hiện. Thực hiện như
sau:
VD: Chia số có 4 chữ số cho số có 1 chữ số: 1276 : 3 = ?
– Trước tiên giúp học sinh biết ghi theo cột dọc và hiểu tên gọi các thành phần trong cột dọc



10

+ Khi đọc cần hiểu bài toán cho ta biết điều gi? Bài toán hỏi gi?
– Phần hướng dẫn giải.
+ Hướng dẫn tóm tắt đề toán bằng hình vẽ, lời câu văn, . . .
+ Tìm hướng giải: Phân tích hoặc tổng hợp.
+ Gợi mở khâu đặt lời giải rõ ràng, gọn, đúng yêu cầu bài toán.
VD: Bài toán liên quan đến rút về đơn vị.
Có 35l mật ong đựng đều vào 7 can. Nếu có 10l mật ong thì đựng đều vào mấy can như thế?
Bước 1: Gọi học sinh đọc kĩ đề: 2 em đọc to, cả lớp đọc thầm. (chú ý nội dung)
Bước 2: Hướng dẫn phân tích để xác định cái đã cho và cái cần tìm, sau đó giáo viên gạch
chân.
+ Hỏi: Cái đã cho: 35l mật ong, 7 can
+ Cái cần tìm: Có 10l mật ong đựng trong bao nhiêu can.
* Giáo viên hướng dẫn tóm tắt bài toán.
35 lít mật ong: 7 can
10 lít mật ong: . . . can?
Bước 3: Tìm hướng giải:
+ Bài toán hỏi gì? (có 10l mật ong thì đựng trong bao nhiêu can?)
+ Muốn biết 10l mật ong đựng đều mấy can, ta phải làm gì? (tìm xem 1 can đựng được bao
nhiêu lít mật ong).
+ Muốn tìm được 1 can đựng bao nhiêu lít mật ong ta làm sao?
– Gợi mở cho học sinh đặt lời giải và chọn phép tính giải.
Số lít mật ong đựng trong 1 can là:
35 : 7 = 5 ( l )
+ Hỏi tiếp:
Biết được mỗi can 5l mật ong. Vậy nếu có 10l mật ong thì đựng đều mấy can như thế?
– Gợi mở để cho học sinh chọn lời giải và phép tính.

hỏi trùng câu hỏi). VD: Muốn tính chu vi hình chữ nhật ta làm thế nào? Hoặc: Muốn tìm thừa
số chưa biết, . . . Cứ làm như vậy, khoảng 15 phút chốt lại nhóm đặt và trả lời đúng nhiều thì
nhóm đó thắng cuộc. (hàng tuần tổ chức cho học sinh 2 lần, và áp dụng đến việc trực nhựt
lớp).
– Qua khoảng thời gian không lâu lớp tôi có rất nhiều học sinh học thuộc và biết áp dụng rất
tốt về qui tắc đã học.
– Đặc biệt, theo tôi để có những kinh nghiệm và bồi dưỡng cho học sinh học tốt môn toán,
Ngoài việc hưóng dẫn kĩ cho học sinh những kiến thức cơ bản và kèm học sinh yếu toán, tôi
còn chú ý bồi dưỡng cho học sinh giỏi như sau:
– Tôi tìm tồi, tham khảo sách báo, vở bài tập, chọn những bài toán lạ có những nội dung phù
hợp và hay, để các em làm thêm những phút rảnh, hoặc làm thêm ở nhà nhằm giúp các em làm
toán ngày càng giỏi hơn.
VD1: Giáo viên hỏi cho học sinh giỏi giơ tay nhanh và trả lời nhanh đúng bài toán: 72 x 2 + =
150
+ 72 nhân 2 cộng mấy bằng 150?
+ HS giơ tay nhanh và trả lời: 72 nhân 2 cộng 6 bằng 150.
VD2: Hãy tìm số chẵn thích hợp điền vào ô vuông .
_ Để đạt được kết quả trên thì đòi hỏi:
* Giáo viên.
– Có tinh thần công tác giảng dạy phải có nhiệt tình tất cả vì học sinh thân yêu, vượt nhiều khó
khăn để dồn về công sức vào nhiệm vụ giảng dạy.
– Để học sinh chiếm lĩnh và khắc sâu kiến thức, vận dụng được chính xác, linh hoạt kiến thức
đó trong luyện tập, thực hành thì đòi hỏi người giáo viên phải chuẩn bị kĩ nội dung bài dạy
trước khi lên lớp.
– Để chuẩn bị tốt cho nội dung bài dạy, theo tôi người giáo viên phải chuẩn bị những yêu cầu
sau:
a/ Chuẩn bị thiết kế bài dạy.
* Những việc làm để chuẩn bị bài dạy.
Nghiên cứu nắm vững chương trình, hệ thống kiến thức, mức độ yêu cầu kiến thức, kĩ năng
của học sinh, nghiên cứu nắm vững sự thể hiện cụ thể của chương trình, sách giáo khoa, sách

– Giáo viên thực hiện tiết học theo trình tự bài soạn, có điều chỉnh thời gian các phần nhưng
đảm bảo nội dung trọng tâm của bài.
– Cần quan tâm đến hoạt động của học sinh, sao cho học trực tiếp giải quyết vấn đề qua các
bước suy luận, thảo luận thực hành phát biểu, báo cáo kết quả. . . .
– Cần quan tâm đối tượng khác nhau về trình độ để giao việc, đặt câu hỏi thích hợp. Có động
viên khuyến khích, biểu dương kịp thời các tiến bộ, cố gắng của học sinh. Nhưng phải nghiêm
khắc đối với học sinh lười biếng, vô trách nhiệm. Giáo viên phải linh động, khéo léo xử lí tình
huống diễn ra sao cho đạt mục đích yêu cầu của tiết dạy.
* Kết quả.
Từ việc áp dụng những biện pháp trên đến nay đã hơn nửa học kì II năm học 2009 – 2010.
Trong quá trình thực hiện cho thấy nhiều học sinh trong lớp
có tiến bộ rõ rệt so với đầu năm. Học sinh nắm được một số kiến thức căn bản về toán lớp 3.
Qua thời gian đứng lớp giảng dạy theo cách làm trên đã đưa chất lượng lớp tôi có kết quả rất
khả quan.
Kết quả kiểm tra giữa học kì II như sau:
Giỏi: 7 học sinh. Khá: 9 học sinh. Trung bình: 4 học sinh.
Yếu: 0 học sinh.
III. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT.
1. Bài học kinh nghiệm:
Sau khi nắm thực trạng học sinh về môn toán. Tôi đã kịp thời áp dụng một số biện pháp nêu
trên mang lại kết quả khả quan. Qua đó tôi rút ra được một số kinh nghiệm như:


13

+ Cần khảo sát nắm chắc từng đối tượng và năng lực học của học sinh, có biện pháp thiết thực,
nâng chất lượng phù hợp đối với từng học sinh.
+ Kêu gọi lực lượng Phụ huynh học sinh kết hợp hỗ trợ giúp các em về điều kiện học toán
cũng như học lý thuyết và thực hành giải các bài tập ở nhà để kết quả dạy, học toán càng khả
quan hơn.

Để việc dạy và học đạt kết quả cao, tôi có một số ý đề xuất sau:
+ Nhà trường thông báo cho học sinh đến lớp và tổ chức cuộc họp Phụ huynh học sinh sớm
hơn, để phụ huynh có thời gian chuẩn bị và chăm sóc học sinh kịp lúc.
+ Phòng giáo dục và nhà trường hỗ trợ đồ dùng học tập kịp thời cho học sinh (sách giáo khoa,
vở bài tập, bảng con, tập viết, . . .). Nhất là học sinh nghèo.
+ Để tiếp cận những phương pháp mới, hay, có sáng tạo và phù hợp với từng địa phương.
Phòng Giáo Dục tổ chức chuyên đề để giáo viên có điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn.


14

(nhất là phương pháp giải toán có lời văn).
+ Phòng Giáo Dục tổ chức báo cáo kinh nghiệm hay cho giáo viên học hỏi, . .




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status