SKKN Một số kinh nghiệm dạy học nhằm giúp HS học tốt môn toán lớp 3 ở trường TH Nguyễn Viết Xuân - Pdf 42

Đề tài: Một số kinh nghiệm dạy học nhằm giúp HS học tốt môn toán lớp 3 ở trường TH Nguyễn Viết Xuân

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục nói chung, người làm nghề dạy học nói riêng luôn luôn phải tự vận
động thay đổi phương pháp quản lý, giáo dục sao cho phù hợp với đối tượng quản lý
và sự phát triển vượt bậc của xã hội. Muốn làm được việc đó phải dày công nghiên
cứu, tìm tòi, sáng tạo. Mà trước hết là người giáo viên trực tiếp giảng dạy phải tự
đổi mới. Thấm nhuần tinh thần đó, thời gian qua bản thân tôi đã không ngừng tìm
tòi, nghiên cứu, sáng tạo trong giảng dạy nhằm đem lại hiệu quả giáo dục tốt nhất.
Bên cạnh đó môn Toán là một môn có vị trí và nhiệm vụ hết sức quan trọng.
Bởi lẽ Toán học không những cung cấp cho học sinh những kiến thức kỹ năng cần
thiết để học lên các lớp trên hay áp dụng vào cuộc sống, mà toán học còn góp phần
quan trọng trong việc hình thành nhân cách ở học sinh, và hỗ trợ đắc lực cho mục
tiêu giáo dục toàn diện cho các em.
Vì vậy, để giúp học sinh nắm vững kiến thức kĩ năng làm nền tảng cho việc học
tốt môn Toán là một vấn đề hết sức quan trọng đòi hỏi người làm công tác giáo dục
phải nghiên cứu, tìm những biện pháp giảng dạy hay, giúp học sinh dễ hiểu, phù hợp
để hình thành kiến thức, kĩ năng nhằm giúp học sinh học tốt môn toán. Thực tế cho
thấy các em lớp 3 rất hiếu động nhớ nhanh nhưng cũng nhanh quên; đặc biệt trong
chương trình toán 3 quan trọng nhất là bảng cửu chương. Nếu các em không ghi nhớ
được bảng cửu chương thì không thể nào các em có thể học được môn toán nói
chung và các môn học khác nói riêng. Đã nhiều năm tôi làm công tác chủ nhiệm lớp
3 nên tôi rất trăn trở để tìm ra biện pháp mới nhằm cải thiện tình trạng học sinh nhớ
trước quên sau. Qua tìm hiểu các phương pháp toán học và trao đổi với bạn bè, đồng
nghiệp, qua tìm hiểu tâm lý lứa tuổi học sinh lớp 3,.. Tôi đã tìm ra một số biện pháp
và áp dụng vào thực tế học sinh của mình thấy có hiệu quả, nay xin được chia sẻ
cùng mọi người đề tài: “Một số kinh nghiệm dạy học nhằm giúp học sinh học tốt
môn toán lớp 3 ở trường tiểu học Nguyễn Viết Xuân”.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Giúp học sinh học tốt môn Toán, nắm được các dạng toán, có kỹ năng làm

nhiệm quyết định chất lượng dạy - học của học sinh. Làm tốt công tác chủ nhiệm tức
là người giáo viên đã hoàn thành tốt việc giảng dạy các bộ môn và tổ chức giáo dục,
rèn luyện đạo đức cho học sinh; vai trò của người giáo viên chủ nhiệm hết sức quan
trọng, giáo viên chủ nhiệm dạy rất nhiều các môn học và là người chịu trách nhiệm
chính trong việc nhận xét đánh giá học sinh hoàn thành chương trình lớp học. Đối
với môn toán ở tiểu học nói chung tuy không phải là khó nhưng học tốt môn toán
Giáo viên: Nguyễn Trí Nghĩa –TrườngTH Nguyễn Viết Xuân
2


Đề tài: Một số kinh nghiệm dạy học nhằm giúp HS học tốt môn toán lớp 3 ở trường TH Nguyễn Viết Xuân

bậc tiểu học đó chính là nền tảng để các em phát huy học tốt các môn học khác và
các em phát triển môn toán lên các bậc học cao hơn.
Môn toán có hệ thống kiến thức cơ bản cung cấp những kiến thức cần thiết,
ứng dụng vào đời sống sinh hoạt và lao động. Những kiến thức kĩ năng toán học là
công cụ cần thiết để học các môn học khác và ứng dụng trong thực tế đời sống.
Toán học có khả năng to lớn trong giáo dục học sinh nhiều mặt như: Phát triển tư
duy lôgic, bồi dưỡng những năng lực trí tuệ (Trừu tượng hoá, khái quát hoá, phân
tích, tổng hợp, chứng minh, so sánh,… ) Nó giúp học sinh giải quyết mọi vấn đề
trong cuộc sống bằng tư duy logic. Thông qua môn toán trang bị cho học sinh một
hệ thống kiến thức và kĩ năng cơ bản, cần thiết cho việc học tập tiếp hoặc đi vào
cuộc sống. Giúp học sinh biết vận dụng kiến thức vào hoạt động thiết thực trong đời
sống, từng bước hình thành, rèn luyện thói quen phương pháp và tác phong làm việc
khoa học, phát triển hợp lí phù hợp với tâm lí của từng lứa tuổi. Tạo tiền đề cho học
sinh học tốt các môn học khác.
2. Thực trạng của vấn đề.
Năm học 2015- 2016 tôi được giao nhiệm vụ làm công tác chủ nhiệm lớp 3A;
tổng số học sinh 22 em. Trong đó có tới 5 em tiếp thu môn toán chậm so với các bạn
khác. Qua tìm hiểu từ giáo viên chủ nhiệm năm học trước được biết; có 5 em thuộc

văn. Học sinh yêu thích môn toán và tích cực tham gia vào các tiết học một cách chủ
động.
b. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp
Qua hai tháng đầu giảng dạy tôi cố gắng tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến
các em học yếu toán. Từ đó tôi suy nghĩ tìm hiểu, lựa chọn các phương pháp, biện
pháp mới, để giúp học sinh có kiến thức tiếp cận với môn học này một cách chủ
động, khoa học đảm bảo tính logic để học sinh có kĩ năng tính toán cũng như giải
các bài toán đơn, toán phức một cách nhanh, chính xác. Qua phân tích thực trạng ở
trên tôi sẽ áp dụng các biện pháp cho từng nhóm học sinh, cụ thể như sau:
Nội dung 1: Luyện cho học sinh cách thuộc bảng nhân, chia
Trong toán học nói chung bảng cửu chương chính là gốc rễ của một cây để các
em có thể theo học lên các lớp trên. Chính vì vậy cần phải giúp học sinh ghi nhớ
bảng cửu chương nhân, chia. Nếu không nhớ bảng cửu chương thì không thể nào
các em vận dụng vào giải các bài tập có liên quan đến các phép toán nhân chia. Đặc
biệt là các phép chia có số bị chia 3, 4 chữ số cho một số và giải toán hợp.
Để luyện cho học sinh ghi nhớ sâu các bảng nhân, chia tôi đã làm như sau:
Giáo viên hướng dẫn học sinh tự lập bảng nhân/ chia theo hướng dẫn của
thầy; cuối cùng thầy yêu cầu học sinh đọc lại ngay tại lớp.
Giáo viên: Nguyễn Trí Nghĩa –TrườngTH Nguyễn Viết Xuân
4


Đề tài: Một số kinh nghiệm dạy học nhằm giúp HS học tốt môn toán lớp 3 ở trường TH Nguyễn Viết Xuân

Ví dụ dạy Bảng nhân
- Các thừa số thứ nhất trong bảng nhân đều bằng nhau.
- Các thừa số thứ hai trong bảng nhân đều khác nhau theo thứ tự là 1, 2, 3, 4, 5,
6, 7, 8, 9, 10. Mỗi thừa số này liền nhau hơn kém nhau 1 đơn vị. ( trong bảng nhân
các thừa số thứ hai nhỏ nhất là 1, lớn nhất là 10 không có thừa số 0).
- Các tích cũng khác nhau và mỗi tích liền nhau hơn kém nhau bằng thừa số thứ

Nội dung 2: Hướng dẫn đọc, viết, so sánh các số tự nhiên
Học sinh biết đọc, viết, so sánh các số tự nhiên là chuỗi kiến thức rất quan
trọng trong chương trình toán 3. Chuỗi kiến thức này nhằm giúp học sinh nắm được
cách đọc, viết và so sánh các số tự nhiên vận dụng vào cộng, trừ, nhân, chia số thứ
tự và giải bài toán hợp. Dạy chuỗi kiến thức này theo tôi người giáo viên cần hình
thành cho học sinh những kiến thức cơ bản sau:
* Giúp học sinh hiểu các số tự nhiên.
- Các số 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, . . . là các số tự nhiên.
- Số 0 là số tự nhiên bé nhất, không có số tự nhiên lớn nhất.
- Hai số tự nhiên liên tiếp hơn kém nhau 1 đơn vị.
- Số 0, 2, 4, 6 . . . là các số tự nhiên chẵn, số 1, 3, 5,7, 9, 11, . . . là các số tự
nhiên lẻ. Hai số chẵn ( hoặc lẻ) liên tiếp hơn kém nhau 2 đơn vị.
- Nắm được tên và vị trí của các hàng (hàng đơn vị, hàng chục, hàng trăm,
hàng nghìn).
- Biết giá trị các số theo vị trí của các chữ số trong số có nhiều chữ số.
VD: Dạy cho học sinh:
- Các số có bốn chữ số gồm hàng nghìn, hàng trăm, hàng chục, hàng đơn vị.
Tôi giải thích cho học sinh là: hàng nghìn các chữ số lớn hơn 0.
VD: 1234; 2574; 4351; . . . . hàng nghìn là: 1, 2, 4 nghìn. Không thể có hàng
nghìn là 0 như: 0234, 0574, 0351, . . . . Vậy số có bốn chữ số có hàng nghìn nhỏ
nhất là 1, lớn nhất là 9.
* Hướng dẫn đọc, viết.
- Hướng dẫn phân hàng: VD số: 5921.
+ Hàng nghìn, hàng trăm, hàng chục, hàng đơn vị.
Số 5921: Có 5 nghìn, 9 trăm, 2 chục, 1 đơn vị.
Đọc số 5921: Năm nghìn, chín trăm hai mươi mốt.

Giáo viên: Nguyễn Trí Nghĩa –TrườngTH Nguyễn Viết Xuân
6


đơn vị của hai số là khác nhau chỗ mốt và một. Nghĩa là số 5921, hàng đơn vị đọc là
mốt, còn số 5911 hàng đơn vị đọc là một. Tuy cùng hàng và đều là số “1” nhưng
tên gọi lại khác nhau. Tôi còn phát hiện và giúp học sinh đọc và nhận ra cách đọc
của một vài số lại có cách đọc tương tự trên:
VD: Số 2305 và 2325 cùng hàng đơn vị là số “5” nhưng lại đọc là “năm” và
“lăm”.
VD: Số 2010: Học sinh nhiều em đọc là “Hai nghìn không trăm linh mười”.
Tôi hướng dẫn các em. Trong số tự nhiên chỉ được đọc “linh một, linh hai, . . . .linh
chín, không có đọc là linh mười” vậy số 2010 đọc là: Hai nghìn không trăm mười.
* Hướng dẫn so sánh.
Trong qui tắc là: Khi ta so sánh trong hai số thì: Số nào có ít chữ số hơn thì số
đó bé hơn và ngược lại. VD: 9999 < 10 000 ;
1000 > 999.
+ Còn các số có cùng chữ số thì sao? Ngoài việc làm theo qui tắc thì tôi còn làm
như sau:

Giáo viên: Nguyễn Trí Nghĩa –TrườngTH Nguyễn Viết Xuân
7


Đề tài: Một số kinh nghiệm dạy học nhằm giúp HS học tốt môn toán lớp 3 ở trường TH Nguyễn Viết Xuân

VD: Bài tập 3a trang 100:
Để tìm số lớn nhất trong các số: 4375 ; 4735 ; 4537 ; 4753. Tôi hướng dẫn học
sinh như sau:
Xếp theo cột dọc, sao cho thẳng hàng nghìn, trăm, chục, đơn vị với nhau. Cụ thể
trên bảng phần được xoá là:
437 5
473 5


số hạng

Tổng

+ Nếu ta thay đổi chỗ các số hạng của tổng thì tổng không thay đổi.
2473 + 3422 = 3422 + 2473= 5895

Giáo viên: Nguyễn Trí Nghĩa –TrườngTH Nguyễn Viết Xuân
8


Đề tài: Một số kinh nghiệm dạy học nhằm giúp HS học tốt môn toán lớp 3 ở trường TH Nguyễn Viết Xuân

+ Muốn tìm tổng ta lấy số hạng thứ nhất cộng với số hạng thứ hai.
2473 + 3422 = 5895
+ Muốn tìm số hạng chưa biết, ta lấy tổng trừ đi số hạng đã biết.
2473 - x = 5895
x = 5895- 2473
+ Bất kì số nào cộng với 0 cũng bằng chính số đó.
2+0=2
- Phép trừ:
VD:

8265 - 5152 = 3113

Số bị trừ

số trừ

hiệu

nghìn). Hướng dẫn học sinh bắt đầu cộng từ hàng đơn vị (hoặc từ phải sang trái).
Nên lưu ý học sinh đối với phép trừ có nhớ, cần bớt ra khi trừ hàng kế tiếp.

+

435

VD: Phép cộng có nhớ một lần.

127

• 5 cộng 7 bằng 12, viết 2 nhớ 1.

562

• 3 cộng 2 bằng 5, thêm 1 bằng 6, viết 6.
• 4 cộng 1 bằng 5, viết 5.

* GV nói: Khi kẻ lần vạch ngang, tất cả các em đều dùng bằng thước.
* Nhắc học sinh chú ý: Trong phép cộng, trừ chỉ nhớ số 1, không nhớ 2, 3, 4, 5,
6, 7, 8, 9.(trừ khi có nhiều số hạng cộng với nhau như bài tập 1b trang 156).
* Đối với phép nhân, chia: (giúp học sinh nhớ và áp dụng).
- Phép nhân:
VD: 1427

Thừ số

x

3

với số có 1 chữ số). Viết dấu nhân ở giữa hai dòng thừa số thứ nhất và thừa số thứ
hai và lùi ra khoảng 1, 2 mm, rồi kẻ vạch ngang bằng thước kẻ.
Khi thực hiện phép nhân này, ta phải thực hiện tính bắt đầu từ hàng đơn vị, sau
đó đến hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn (hoặc tính từ phải sang trái). Các chữ số ở
tích nên viết sao cho thẳng cột với theo từng hàng, bắt đầu từ hàng đơn vị, chục,
trăm, nghìn của thừa số thứ nhất.
Đối với cách viết từng chữ số của tích có nhớ, ta nên viết số đơn vị, nhớ số
chục. (hoặc nhắc học sinh viết số bên tay phải nhớ số bên tay trái).
VD: 4834
x
*

• 3 nhân 4 bằng 12, viết 2 nhớ 1.

3
14502

• Không viết 1 nhớ 2.
Nhắc thêm cho
sinh:3 . . . .
• học
3 nhân

Nếu trường hợp như: 3 nhân 8 bằng 24, thì viết 4 nhớ 2, . . . ( đối với phép
nhân thì chỉ có nhớ 1, 2, . . . 8, không có nhớ 9)
- Phép chia:
VD:

6369 : 3 = 2123


vị. ( trong chương trình toán 3 số dư trong phép chia nhỏ nhất là 1, lớn nhất là 8).
VD: Số chia là 9, thì số dư là 1, 2, 3, 4, . . . . 8. (số dư phải nhỏ hơn số chia)
- Đặt tính và tính:
Tôi nghĩ thực hiện đặt tính và tính cộng, trừ, nhân, chia theo cột dọc, thì phép
chia là khó nhất vì:

Giáo viên: Nguyễn Trí Nghĩa –TrườngTH Nguyễn Viết Xuân
12


Đề tài: Một số kinh nghiệm dạy học nhằm giúp HS học tốt môn toán lớp 3 ở trường TH Nguyễn Viết Xuân

Học sinh hay quên, thực hiện chưa đầy đủ các hàng cao đến hàng thấp (có em
chỉ mới thực hiện đến hàng trăm, chục mà không thực hiện hết). Cần hướng dẫn kĩ
cho học sinh cách nhân ngược lên và trừ lại, . . . Đặc biệt đối với học sinh yếu toán,
tôi hướng dẫn kĩ cách đặt tính, nhằm giúp các em thấy được hàng nào thực hiện rồi,
hàng nào chưa thực hiện. Thực hiện như sau:
VD: Chia số có 4 chữ số cho số có 1 chữ số:

1276 : 3 = ?

- Trước tiên giúp học sinh biết ghi theo cột dọc và hiểu tên gọi các thành phần
trong cột dọc của phép chia. (sử dụng phần bảng được xoá)

Số dư lần chia1

Số bị chia

dấu chia


* Nhắc học sinh:
Tôi nói trong các phép tính cộng, trừ, nhân, chia theo cột dọc thì các phép cộng,
trừ, nhân ta thực hiện tính theo thứ tự từ phải sang trái, hoặc từ hàng đơn vị, hàng
chục, . . . Còn riêng phép chia ta tính theo thứ tự từ trái sang phải, hoặc từ hàng cao
nhất đến hàng thấp nhất ( hàng nghìn, trăm, chục, đơn vị).
Nhìn chung, các em có tiến bộ rõ rệt. Các em không còn đặt tính sai, cộng, trừ,
nhân, chia không viết lộn kết quả và quên số nhớ nữa.

Giáo viên: Nguyễn Trí Nghĩa –TrườngTH Nguyễn Viết Xuân
13


Đề tài: Một số kinh nghiệm dạy học nhằm giúp HS học tốt môn toán lớp 3 ở trường TH Nguyễn Viết Xuân

Đối với các em này, hàng ngày mỗi tiết học toán tôi gọi lên bảng thực hiện phép
tính. Tôi cũng thường xuyên đến các em yếu toán, việc làm theo yêu cầu cần đạt của
chuẩn, kiến thức, kĩ năng. Có khi tôi yêu cầu những em này chỉ làm một phần trong
mỗi bài tập và hướng dẫn rất kĩ khi làm bài vào vở. Cách trình bày từng con số, cách
sửa sai để từng trang vở được sạch đẹp.
Qua một thời gian các em có tiến bộ rõ rệt. Mỗi lần thực hiện các em viết rất rõ
ràng và tính chính xác.
Nội dung 4: Hướng dẫn giải toán có lời văn
Các bài toán giải là chuỗi kiến thức đã học được tổng hợp trong bài toán. Các
em thường chưa biết phân tích đề toán, chưa biết suy luận, tổng hợp, so sánh tìm
cách giải hợp lí cho từng bài. Vì vậy, trong mỗi tiết học gặp những bài toán giải có
lời văn tôi yêu cầu học sinh như sau:
+ Đọc kĩ đề toán, gạch chân từ, số quan trọng trong bài. (GV theo dõi cả lớp
đọc thầm và thực hiện theo yêu cầu, có đọc mới hiểu và làm bài được).
+ Khi đọc cần hiểu bài toán cho ta biết điều gi? Bài toán hỏi gi?
+ Hướng dẫn tóm tắt đề toán bằng hình vẽ, lời câu văn, . . .

can như thế?
- Gợi mở để cho học sinh chọn lời giải và phép tính.
Số can đựng 10 lít mật ong là:
10 : 5 = 2 (can)
Đáp số: 2 can.
- Song song với qui trình hướng dẫn giải, tôi luôn lưu ý học sinh cách trình bày
bài giải sao cho phù hợp với trình tự yêu cầu của đề, cụ thể như bài toán vừa hướng
dẫn trên, tôi hướng dẫn các em trình bày như sau:
Bài giải
Số lít mật ong đựng trong mỗi can là:
35 : 7 = 5 (l)
Số can đựng 10 lít mật ong là:
10 : 5 = 2 (can)
Giáo viên: Nguyễn Trí Nghĩa –TrườngTH Nguyễn Viết Xuân
15


Đề tài: Một số kinh nghiệm dạy học nhằm giúp HS học tốt môn toán lớp 3 ở trường TH Nguyễn Viết Xuân

Đáp số: 2 can.
Ngoài ra tôi khuyến khích các em tìm thêm các lời giải khác phù hợp (Số lít mật
ong đựng trong mỗi can là: hoặc Mỗi can đựng số lít mật ong là; Số can đựng 10 lít
mật ong là: hoặc 10 lít mật ong đựng trong số can là:). Nhằm phát huy tính tích cực
của học sinh.
Những biện pháp trên được áp dụng ở lớp tôi về giải bài toán có liên quan đến
rút về đơn vị và mang lại kết quả tương đối cao, đén cuối năm học 100%học sinh đã
giải toán thành thạo.
Nội dung 5: Giúp học sinh hiểu và ghi nhớ các qui tắc đã học
Thực tế có một số học sinh biết cộng, trừ, nhân, chia,…nhưng chưa chắc đã
giải hết được các bài toán trong chương trình sách giáo khoa toán lớp 3. Vì thế tôi

4 = 16

_ Để đạt được kết quả trên thì đòi hỏi:
* Giáo viên phải nhiệt tình tất cả vì học sinh thân yêu. Để học sinh chiếm lĩnh
và khắc sâu kiến thức, vận dụng được chính xác, linh hoạt kiến thức đó trong luyện
tập, thực hành thì đòi hỏi người giáo viên phải chuẩn bị kĩ nội dung bài dạy trước
khi lên lớp.
* Những việc làm để chuẩn bị bài dạy.
Nghiên cứu nắm vững chương trình, hệ thống kiến thức, mức độ yêu cầu kiến
thức, kĩ năng của học sinh, nghiên cứu nắm vững sự thể hiện cụ thể của chương
trình, sách giáo khoa, sách bài tập, sách hướng dẫn (sách giáo viên). Sưu tầm nghiên
cứu các kinh nghiệm dạy học trên các tạp chí, tài liệu bồi dưỡng giáo viên về kiến
thức, nghiệp vụ, nắm tình hình điều kiện địa phương, trường lớp và hoàn cảnh của
học sinh.
* Nghiên cứu tài liệu và xác định nội dung bài dạy học.
Nghiên cứu mục đích yêu cầu bài học cả về 3 mặt (kiến thức, kĩ năng tư duy và
giáo dục). Xác định kiến thức trọng tâm căn cứ trên mục đích yêu cầu. Lựa chọn
phương pháp cụ thể và phương tiện dạy học, các biện pháp sẽ thực hiện từng khâu
từng đối tượng học sinh.
* Soát lại việc chuẩn bị của học sinh về bài học.
Tình hình nắm kiến thức đã học có liên quan, tình hình sách giáo khoa và đồ
dùng học tập của học sinh.
Điều kiện tiến hành một tiết dạy đạt hiệu quả.
Luôn tạo bầu không khí thoải mái, giờ học nhẹ nhàng. Tập thể học sinh tự giác,
tôn trọng nội quy, nề nếp và làm việc tích cực, có đủ đâò dùng phục vụ dạy- học.

Giáo viên: Nguyễn Trí Nghĩa –TrườngTH Nguyễn Viết Xuân
17



22

Điểm 5- 6

Điểm 7- 8

Điểm 9- 10

SL

%

SL

%

36,3

4

18,2

SL

%

SL

%


thức tổ chức dạy-học phù hợp với đối tượng học sinh: Tổ chức phụ đạo, nhắc lại
kiến thức cơ bản, chú trọng thực hành giải bài tập, yêu cầu vừa sức.
Giáo viên tham khảo kĩ nội dung bài, xác định yêu cầu trọng tâm bài dạy (soạn
giáo án). Lựa chọn phối hợp tốt, hợp lí các phương pháp và phương tiện dạy học,
các biện pháp thực hiện trong từng khâu, từng đối tượng học sinh. Từ đó, giáo viên
truyền thụ đúng, chính xác nội dung bài, khắc sâu kiến thức. Học sinh nắm vững nội
dung bài, vận dụng luyện tập, thực hành đạt kết quả cao. Qua quá trình tìm hiểu,
nghiên cứu áp dụng những kinh nghiệm và bồi dưỡng học sinh học tốt môn toán.
Thực tiển cho thấy kết quả học toán của học sinh có chuyển biến rõ rệt. Bước đầu đã
cải thiện được phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, chất lượng toán được
nâng cao. Đồng thời đã hình thành khắc sâu cho những kĩ năng, chăm chỉ học toán.
Thật đáng mừng, vì sau mấy tháng áp dụng biện pháp nghiên cứu trên mà chất
lượng môn toán của lớp tôi được nâng lên rõ rệt. Học sinh có kĩ năng căn bản trong
quá trình học toán, góp phần nâng cao chất lượng môn toán của lớp, của trường
ngày một tốt hơn.
2. Kiến nghị: Không có
Eana,ngày 26 tháng 12 năm 2016
Người viết

Nguyễn Trí Nghĩa
Giáo viên: Nguyễn Trí Nghĩa –TrườngTH Nguyễn Viết Xuân
19


Đề tài: Một số kinh nghiệm dạy học nhằm giúp HS học tốt môn toán lớp 3 ở trường TH Nguyễn Viết Xuân

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

……………………………………………………………
……………………………………………………………


(Tài liệu dịch của Robert Fisher .Tai liệu dịch của dự án Việt Bỉ).
5. Phạm Văn Hoàn – Trần Thúc Trình – Nguyễn Gia Cốc, Giáo dục
học
môn toán, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1981.
6. Nguyễn Bá Kim, Phương pháp giảng dạy toán học, NXB ĐHSP,

Nội, 2003.
7. Phương pháp dạy học toán cấp 1. Trung tâm nghiên cứu đào tạo
bồi
dưỡng giáo viên, Hà Nội, 1990.
8. Đỗ Trung Hiệu và nhiều tác giả, Phương pháp dạy học môn toán

tiểu học, NXB Đại học sư phạm Hà Nội, Hà Nội, 1995.
9.Phương pháp dạy hoc toán ở tiểu học- Tập 2. Phần thực hành giải
toán, Đỗ Trung Hiệu,Nguyễn Hùng Quang, Kiều Đức Thành, NXB
giáo dục 2000.
10.Thực hành giải toán tiểu học .T ập 1 + 2.Trần Diên Hiển. NXB
Đại
học sư phạm 2004.
11. Chương trình tiểu học – Bộ giáo dục đào tạo .NXB giáo dục
2002.

Mục lục
I. PHẦN MỞ ĐẦU

1

1. Lý do chọn đề tài . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ……….. 1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status