LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận
văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành gửi lời cám ơn đến cô Trương Tuyết Nhung - người
đã cho em nghị lực để vươn lên trong cuộc sống.
Em xin chân thành gửi lời cám ơn đến thầy Trần Đăng Tuấn - người
đã dạy em cách đối diện với hiện thực.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã tiếp sức cho em trong
những năm tháng học tập chương trình cao học tại Học viện Báo chí và
Tuyên truyền.
1
M U
1.Tớnh cp thit ca ti
Không gây "sốc", không tạo sự ngỡ ngàng trớc công chúng nh lần đầu
tiên bộ môn nghệ thuật thứ bảy đợc trình chiếu tại một quán cà phê trên đất
Pháp mà Truyền hình ra đời nh một sự phát triển tất yếu của xã hội
Ra đời sau Điện ảnh gần nửa thế kỉ, nhng nhìn vào "bề nổi", truyền hình
sớm vợt trội và chiếm u thế nhờ các thành tựu kỹ thuật phát sóng và thu sóng
hình. Hơn nữa, Truyền hình đã thừa hởng tinh hoa ngôn ngữ nghệ thuật, hình
ảnh động của Điện ảnhNói cách khác, Truyền hình tiếp nhận gần nh trọn
3
Tuy nhiên, đầu tư cơ chế và tài chính, đầu tư chất xám để nuôi dưỡng
mạch nguồn tư duy cho dòng phim chính luận đang còn nhiều hạn chế. Đã có
không ít nhà báo - đạo diễn dấn thân vào mảng đề tài chính luận nhưng rồi lại
e ngại và âm thầm lặng lẽ rút lui. Biết là dòng phim chính luận đang rất cần
và rất thiếu, nhưng hầu hết, các nhà báo và đạo diễn đều cho rằng, cày xới
lĩnh vực này là một sự dấn thân. Chính vì xuất phát từ nhu cầu bức thiết của
cuộc sống nói chung cũng như đời sống văn hóa, báo chí nói riêng, đang đòi
hỏi có nhiều hơn nữa các tác phẩm truyền hình mang tính chính luận, nên học
viên muốn bày tỏ những quan điểm, những tìm tòi, tổng hợp của mình về
dòng phim truyện truyền hình Việt Nam - phim chính luận. Để hy vọng có thể
góp tiếng nói nhỏ bé của mình, một lần nữa khẳng định vị trí của dòng phim
truyện truyền hình mang tính chính luận, đồng thời góp phần nâng cao chất
lượng phim trong đời sống văn hóa nghệ thuật Việt Nam.
Phim truyện truyền hình là một thể loại nghệ thuật nhưng lại được
chuyển tài qua một kênh thông tin – đó là báo hình. Phim truyện truyền hình
phản ánh đầy đủ đời sống thực tiễn đã và đang diễn ra. Trong phim truyện
truyền hình, công chúng tìm thấy thông tin của đời sống, tìm thấy những giá
trị mang tính định hướng mà tác giả, đạo diễn muốn truyền tải. Ở đó, ý nghĩa
giáo dục mang tính nhân văn luôn chìm phía sau, phía dưới của tầng lớp ngữ
nghĩa, lời thoại, khuôn hình, ánh sáng và âm nhạc...Hầu hết các phim truyền
hình đều phải đảm bảo tính giải trí, đưa đến cho công chúng những cảm giác
hấp dẫn, thoả mãn sự tò mò, hiếu kỳ về đường dây của một vấn đề, của một
sự kiện, của một tuyến nhân vật hay một nhân vật cụ thể mang tính đặc trưng,
cá biệt mà ta bắt gặp đâu đó trong cuộc sống thường nhật.
Phim truyện truyền hình là sự kết hợp của nhiều loại hình nghệ thuật,
đặc biệt là điện ảnh. Sau khoảng 15 năm xuất hiện tại Việt Nam, cho tới thời
điểm này vẫn chưa có định nghĩa chính xác về thể loại phim truyện truyền
hình. Dù thể loại này xuất hiện trong danh mục dự giải thưởng hàng năm của
Chính vì lý do đó nên luận văn muốn đề cập đến: “DÒNG CHÍNH
LUẬN TRONG PHIM TRUYỆN TRUYỀN HÌNH”
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
5
Các công trình lý luận liên quan đến báo chí và phim truyền hình của
chúng ta hiện nay đã có những thành công đáng kể. Sự khoa học, mạch lạc và
tương đối nhất quán trong các công trình nghiên cứu đã khẳng định hệ thống
lý luận báo chí truyền thông của chúng ta xét ở góc độ chuyên nghiệp đã có
những bước tiến nhất định. Tuy nhiên, vấn đề tính chính luận trong phim
truyện truyền hình vẫn chưa được nhìn nhận như một luận điểm mang tính
nghề nghiệp, dù rằng trong thực tế, đặc điểm này đã và đang tham gia và có
chỗ đứng nhất định trong đời sống văn hóa tinh thần của công chúng.
Sự chia sẻ mối quan tâm, chia sẻ đề tài hay đan cài các luận điểm, các
chi tiết của báo chí vào phim truyện truyền hình hay của phim truyện truyền
hình vào báo chí mới chỉ dừng ở mức độ một vài bài báo, một vài tham luận
nhỏ, ít được quan tâm với đúng những giá trị thực tế mà nó đang phát huy.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Nghiên cứu tính CHÍNH LUẬN trong phim truyện truyền hình Việt
Nam là người viết muốn đề cập tới nét đặc trưng rất lớn của phim truyện
truyền hình so với các thể loại điện ảnh nghệ thuật khác.
Nghiên cứu tính CHÍNH LUẬN trong phim truyện truyền hình là
chúng ta đang tìm kiếm một khuynh hướng văn hóa truyền thông khác biệt so
với các loại hình văn nghệ thông thường, qua lăng kính của người nghệ sỹ
cũng đồng thời là nhà báo.
Nghiên cứu tính CHÍNH LUẬN trong phim truyện truyền hình là chúng
ta đang báo chí hóa một thể loại của nghệ thuật thứ bảy – đó là điện ảnh.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Xét dưới góc độ lý luận, học viên muốn thông qua luận văn để 1 lần
nữa khẳng định dòng phim truyên truyền hình đã đóng góp vào hệ thống lý
luận báo chí trong việc chứng minh những giá trị căn bản của triết học Mác Lênin về các phương pháp tư duy nhận thức, lập luận để đấu tranh giữa các
mặt đối lập, giải quyết các mối quan hệ nguyên nhân và kết quả cũng như các
nguyên tắc về sự vận động và phát triển được nảy sinh, hình thành trong
chuỗi các sự vận động khách quan và chủ quan.
7
Thực tiễn đã chứng minh, từ khi ra đời đến nay, dòng phim truyện
truyền hình Việt Nam mang tính chính luận đã đóng góp tích cực trong quá
trình đấu tranh, xây dựng và đổi mới của đất nước. Đề tài sẽ góp phần làm
sáng rõ hơn mối quan hệ giữa báo chí chính luận với phim truyện truyền hình
mang tính chính luận để qua đó thấy được sự nhất quán trong tư duy của nền
báo chí cách mạng Việt Nam cũng như sự lãnh đạo thống nhất của Đảng
Cộng sản Việt Nam về báo chí.
6. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của triết học Mác –
Lênin, luận văn đặc biệt coi trọng việc sử dụng những phương pháp kỹ năng
cụ thể như khảo sát, so s¸nh, ®èi chiÕu, ph©n tÝch, hÖ thèng, t×m hiÓu trùc tiÕp
(pháng vÊn kh¸n gi¶)...lấy ý kiến của các nhà báo lão thành, các nhà quản lý,
công chúng, đạo diễn, BTV để giải quyết những vấn đề mà luận văn đặt ra.
7. Đóng góp mới về khoa học của đề tài
Chính thức “lên sóng" chưa đầy 20 năm nhưng phim truyện truyền
truyền hình Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định.
Trong lĩnh vực lý luận Điện ảnh, truyền hình nói chung đã có nhiều bài
viết, công trình nghiên cứu đề cập đến phim truyện truyền hình Việt Nam.
Nhưng đến nay vẫn chưa có những công trình nghiên cứu, lý luận chuyên sâu
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:
Chính luận là một thể loại văn học đồng thời là một thể tài báo chí, có
nội dung phản ánh các vấn đề có tính thời sự về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội, văn học, tư tưởng v.v.
Các tác phẩm chính luận hướng tới mục đích tác động đến dư luận xã
hội đương thời, đến lối sống, các quyền lợi chính trị hiện hành; đề xuất việc
củng cố hoặc thay đổi chúng cho phù hợp với quyền lợi giai cấp hoặc với lý
tưởng xã hội, đạo đức.
Đối tượng phản ánh của chính luận là toàn bộ cuộc sống quá khứ và
hiện tại, cuộc sống cá nhân cũng như đời sống xã hội, đời sống thực và đời
sống được phản ánh trong báo chí, nghệ thuật.
Những bức tranh về thực tại, tính cách và số phận con người biểu hiện
trong tác phẩm chính luận như những chứng cứ lấy từ chính đời sống, như
một hệ thống những luận cứ, như đối tượng của sự phân tích hoặc được dùng
làm cơ sở cho xúc cảm, làm tác nhân kích thích, làm nguyên cớ để lên án, tố
cáo, hoặc chất vấn các giới hữu quan để khẳng định lý tưởng.
Chính luận luôn là hành vi tranh đấu (ngấm ngầm hoặc công nhiên) về
chính trị,tôn giáo, xã hội, triết học, tư tưởng; nó luôn mang tính định hướng
phe nhóm, đảng phái và ý thức hệ.
10
Phong cách chính luận nổi bật tính khuynh hướng, tính luận chiến, tính
cảm xúc, rất gần gũi với giọng điệu, kết cấu và chức năng của lời diễn thuyết
hay hùng biện.
Chính luận có vai trò đặc biệt trong lịch sử văn hóa, trong các phong
trào xã hội và là một trong những phong cách sáng tác tiêu biểu nhất thể hiện
được giọng điệu, phong cách và ý thức hệ của người cầm bút.
Giáo sư Txvic V.L (Khoa báo chí-Đại học tổng hợp Lomonoxop – Liên
chính là hướng tới các nội dung cấp bách của cuộc sống xã hội.
- Điểm thống nhất thứ hai (dù cách diễn đạt khác nhau) là tính tích cực,
tính chiến đấu trong nhìn nhận, phân tích, đánh giá của tác giả trong tác phẩm
chính luận. Không có tác phẩm chính luận nếu không có cái tôi tích cực, lập
trường rõ ràng của tác giả.
- Điểm khác nhau là: Có người cho rằng chính luận là tác phẩm báo chí
(từ các thể loại thông tin phản ánh đến các thể loại nghệ thuật báo chí). Có
người cho rằng chính luận là một phần của báo chí (như từ điển bách khoa
Việt Nam). Có người lại cho rằng chính luận là thể loại văn học hoặc báo chí.
Như vậy, có sự thống nhất trong khi xác định các dấu hiệu bản chất của
chính luận, nhưng có những khác nhau rất lớn khi khoanh vùng địa hạt hoạt
động của chính luận, tức là trong quan niệm về hình thức thể hiện của chính
luận.
Chúng tôi cho rằng việc đánh đồng chính luận và báo chí là không thỏa
đáng. Toàn bộ hoạt động báo chí mang tính chính luận – đó là điều không cần
bàn cãi. Nhưng điều đó không có nghĩa mọi thể loại báo chí đều là tác phẩm
chính luận. Một tin ngắn ghi nhận sự việc có thể chưa bao hàm các yếu tố
hình thành tác phẩm chính luận. Tính phân tích, luận giải, đánh giá là các đặc
điểm mà thiếu chúng chưa thể có tác phẩm chính luận.
Mặt khác, tác phẩm chính luận có thể được thực hiện bởi các phong
cách và phương tiện thể hiện khác nhau. Có phong cách nghiêng về phân tích,
lập luận logic. Có phong cách nghiêng về hình ảnh, ẩn dụ, tác động vào tình
cảm của con người. Thường xuyên hơn chúng ta thấy sự hòa trộn của cả hai
phương thức trên. Vì vậy chính luận là một loại hình tác phẩm liên thông giữa
hai địa hạt báo chí và văn học nghệ thuật.
Như vậy, tác phẩm chính luận là tác phẩm báo chí - văn nghệ phản ánh
và đánh giá các vấn đề thời sự, cấp thiết trong đời sống xã hội thông qua quan
điểm, lập luận, phân tích, lý giải của tác giả, được thể hiện bằng các phong
cách khác nhau: từ phân tích logic đến hình ảnh, hình tượng khái quát..
1.1.1.2.Tính chính luận trong báo chí và nghệ thuật
quan của nhà báo, mà nó còn hình thành từ nhu cầu khách quan của số đông
độc giả - những tiếng nói có thể đồng điệu, có thể không nhưng có chung một
điểm nhìn.
13
Nhưng nếu căn cứ vào các dấu hiệu kể trên, thì ngay một tin ngắn báo
chí cũng đã mang rất nhiều trong số các dấu hiệu đó. Một tin ngắn hoàn toàn
có thể được chọn lọc kỹ càng, có chủ đích, để nêu lên một hiện tượng, một
vấn đề cần quan tâm, và qua cách đưa tin đó có thể trheer hiện lập trường
của người đưa tin. Ở một cực khác, một tác phẩm văn học hoàn toàn mang
tính hư cấu, không hướng đến những sự việc cụ thể, vấn đề cụ thể có thật
trong cuộc sống nhưng vẫn có thể chuyển tải một thông điệp, một khuynh
hướng tư tưởng, cổ vũ cho các hành vi vì một tư tưởng, một tập hợp các lợi
ích xã hội. Như vậy ít nhiều có sự hiện diện các dấu hiệu của sự chồng lấn
với chính luận.
Vì vậy, nếu chỉ căn cứ vào các dấu hiệu, thì khó xác định thật rõ ràng đâu
là tác phẩm chính luận, đâu không phải. Cần căn cứ vào mức độ thể hiện của các
dấu hiệu. Ở đây chúng tôi xin đưa ra khái niệm Tính trực tiếp và Độ mờ.
Tính trực tiếp: Ta đã nói ở trên rằng tác phẩm chính luận có thể được
nhận biết qua hai yếu tố lớn nhất là hướng đến các vấn đề, hiện tượng cấp
thiết, thời sự của cuộc sống xã hội và thể hiện lăng kính quan điểm, đánh giá,
phân tích của tác giả. Ta có thể nói rằng tác phẩm chính luận khác tác phẩm
không chính luận không phải ở chỗ hai yếu tố trên CÓ và KHÔNG CÓ ở tác
phẩm này hay tác phẩm kia. Sự phân biệt ở chỗ hai yếu tố đó có mặt ở mức độ
trực tiếp nào Một tiểu thuyết hay một phim truyện có thể đề cập đến các vấn
đề và hiện tượng cấp bách của cuộc sống xã hội và bộc lộ lập trường tác giả.
Tuy nhiên điều dễ thấy là không thể nói nó trực tiếp nói về các vấn đề, hiện
tượng xã hội cụ thể, có thực, và cũng không phải lập trường, lập luận, lý giải
truyền hình là “tờ báo hình” dễ giới hạn cách hiểu về truyền hình của công
chúng và dẫn đến những lẫn lộn không đáng có khi phân tích các sản phẩm
truyền hình).
Truyền hình, theo một cách hiểu đơn giản, bao gồm: Báo chí truyền
hình; Văn nghệ, giải trí; Khoa học, giáo dục; Các dịch vụ thông tin. Rõ ràng
có rất nhiều loại chương trình truyền hình. Chúng ta hiện chỉ xem xét từ góc
độ: Nếu lấy báo chí truyền hình làm trung tâm, cụ thể hơn là nếu lấy chính
luận truyền hình làm trung tâm, thì các thể loại, các chương trình truyền hình
khác có chịu ảnh hưởng qua lại nào với chính luận truyền hình.
15
Ta có thể nêu ra hai hiện tượng:
Các chương trình về tư vấn sức khỏe, tư vấn y tế trên sóng truyền hình
dĩ nhiên không thể nào coi là chính luận được. Đó là các chương trình phổ
biến kiến thức khoa học. Nhưng có gì khác giữa một quyển sách,mộtcuốn
phim hướng dẫn các vấn đề bảo vệ sức khỏe với chương trình truyền hình sức
khỏe phát hàng tuần? Điểm khác lớn nhất là chương trình truyền hình định kỳ
đó sẽ bám sát các vấn đề nảy sinh trong lĩnh vực y tế. Một người làm truyền
hình chuyên nghiệp sẽ không phát chương trình giải đáp về bệnh tim mạch
chẳng hạn, nếu như đang diễn ra dịch sốt xuất huyết. Chương trình giải đáp
cách phòng và chống dịch sẽ được ưu tiên hơn trong thời điểm đó.nói một
cách khác, nếu nằm trong một tổng thể các nội dung phát sóng, thì nhiều
chương trình (dĩ nhiên, không phải là tất cả) vốn chẳng có liên quan nhiều đến
chương trình truyền hình chính luận, vẫn sẽ chịu ảnh hưởng nào đó của tính
cấp thiết, cập nhật, tính thời sự của nội dung.
Điều thứ hai: Truyền hình nói riêng, báo chí nói chung, hoạt động liên
tục, hàng ngày, và các sản phẩm của nó hầu hết được cung cấp định kỳ.Tính
định kỳ trong việc công bố, truyền tải sản phẩm khiến bản thân sản phẩm sẽ
vn đợc thởng thức cái đẹp của nghệ thuật Điện ảnh, cái hay của câu chuyện
phim và còn nhận thức đợc cái tốt, cái xấu trong cuộc sống.
Tuy nhiờn lm c phim truyn truyn hỡnh hay, nhiu ngi xem
vn cũn l cụng vic khú khn khụng kộm so vi in nh.
Hin nay, Vit Nam, hng nm mi ch sn xut khong hn tỏm chớn
trm u phim truyn truyn hỡnh, mi m bo khong vi chc phn trm
thi lng phỏt súng phim truyn cho c nc. S phim truyn truyn hỡnh
cũn li c chiu thng l ca Trung Quc, Hn Quc....
Tt nhiờn, trong c cu cỏc th loi bỏo chớ v chớnh lun truyn hỡnh
thỡ phim truyn truyn hỡnh khụng th cú mt, do õy l th loi sn phm
ngh thut h cu. Nhng do phim truyn truyn hỡnh c phỏt nh k, v
v nguyờn tc l phim nhiu tp, do vy cú kh nng rt ln trong vic phn
ỏnh cỏc vn , ti thi s nht. Nhiu phim hon ton cú th da trờn cỏc
s vic cú tht trong cuc sng xó hi. V do vy, khụng phi tt c, nhng
nhiu phim s mang tớnh chớnh lun cao. Vic hỡnh thnh dũng phim truyn
truyn hỡnh mang tớnh chớnh lun m nột l mt thc t.
17
NSND Nguyn Khi Hng ó tng vớ von: Nu coi bỏo chớ l cha thỡ
in nh l m, cuc hụn phi ny, ó sn sinh ra phim truyn truyn hỡnh.
Chớnh vỡ l ú, cht chớnh lun trong bỏo chớ cng l mt trong nhng c
im ca phim truyn truyn hỡnh. Cú chng, ngi xem ớt nhn nh v cht
chớnh lun trong phim truyn truyn hỡnh vỡ thng t duy nú di gúc
ngh thut th by.
Từ khi hình thành và phát triển đến nay, phim truyền hình luôn là món
ăn tinh thần bổ ích của nhân dân. Qua phơng thức giải trí, phim truyền hình
núi chung v phim truyn hỡnh Vit Nam núi riờng ó gúp phn khi sõu trớ
tu, tip thờm ý chớ, ngh lc cho con ngi trong cuc sng. Nhiều phim
trong mỗi con ngời.
Phim truyn truyền hình bao giờ cũng nhằm khơi dậy cuộc đấu tranh,
sự vật lộn bên trong ấy. Bộ phim với câu chuyện chân chính là tấm gơng để
con ngời tự soi mình, tự đối chiếu và tự phán xét về ngời khác cũng nh về
chính bản thân mình. Nh vậy xem phim cũng là việc c giỏo dc trc tip
v tự giáo dục mình. Tuy nhiờn, tớnh giỏo dc cũn tựy vo quá trình nhận thức
và khả năng tự đấu tranh ở mỗi khỏn gi. Phim góp phần biến cải đợc con ngời
là vì phim là nghệ thuật tổng hợp của bao chi, tiểu thuyết, sân khấu, nhạc,
họarất vui tơi và hấp dẫn. Vn trong phim c gii quyt cú tỡnh cú lý,
ụi khi li rt bt ng, thỳ v nờn ngm vo ngi xem khỏ sõu sc v t
nguyn. Trong phim thỡ giải trí, vui chơi, nh hng và giáo dục là một.
Thậm trí những pha hài hớc thiếu nghiêm chỉnh lại đặt ra vấn đề giáo dục
đạo đức một cách rt nghiêm tỳc.
Xem phim truyền hình, cảm thụ đặc sắc của phim tùy thuộc đối tợng
khán giả. Ngời trí thức không có chung cảm nghĩ nh nhà doanh nghiệp. Bộ
phim tác động vào tng lp nông dân khác vi công nhânNh ng có cái
chung là sự nắm bắt cuộc sống xã hội, đời sống tình cảm của các nhân vật.
Khán giả sẽ thâm nhập vào thế gii bên trong, vào quá trình suy nghĩ và diễn
biến tâm lý của nhân vật. Con ngời vn luôn luôn là một vũ trụ bí ẩn. Phim
truyện truyền hình là sự giải phẫu tâm hồn nhân vật. Thế giới nội tâm nhân vật
vốn là một cái gì vô hình đã đợc vật chất hóa bằng âm thanh, màu sắc, hình
ảnh và trở nên cụ thể trong nghệ thuật Điện ảnh. Hỡnh tng phim ụi khi tr
thnh hỡnh mu, thnh tm gng c tt ln xu cho ngi ta nhỡn vo m
chiờm nghim.
19
Phim truyền hình đến với khán giả bằng hình ảnh cho nên cuộc sống và
con ngời trên màn hình cứ nh thật ở ngoài đời. Vỡ vy, khụng ớt ngi cú
những hạn chế. Phần lớn các nhà làm phim của chúng ta đợc đào tạo ở trờng
Đại học sân khấu Điện ảnh Hà Nội, trờng Cao đẳng Sân khấu Điện ảnh
Thành phố Hồ Chí minh chỉ mới học làm phim điện ảnh nên rất khó khăn khi
xây dựng một bộ phim truyện truyn hỡnh nhiều tập. o din - NST Trng
Trinh đã ví việc làm phim với việc xây nhà. Họ cho rằng các nhà làm phim n-
21
ớc ta mới học Xây bit th một tầng (phim điện ảnh), bây gi Xây nhà
nhiều tầng (phim truyện truyn hỡnh) thì gặp phải khó khăn chồng chất.
Kinh nghiệm làm phim của các nhà làm phim đi trớc là phải tự học. Họ
đã tự học và đã làm phim thành công. Về điều này, NSND - đạo din kiêm
biên kịch Đặng Nhật Minh đã nói: ở Việt Nam có câu tục ngữ Không thầy
đố mày làm nên. Thầy của tôi là tác giả những phim mà tôi yêu thích là tác
giả những cuốn sách mà tôi say mê. Do vậy, tôi có rất nhiều thầy! Và ông
khuyên các bạn trẻ biên kịch cần phải học nhiều, nhng Đừng bắt chớc những
ngời đi trớc, dù bắt chớc cái hay của họ.
Trớc nhu cầu của khán giả truyền hình, các nhà làm phim không thể
chờ để đợc đào tạo chính quy rồi mới bắt tay vào biên kịch, làm phim. Họ đã
rút ra những bài học của ngời đi trớc vừa học vừa làm. Ban đầu, làm phim
nhiều tập rất khó đợc nh mong muốn. Nhà biên kịch on Lờ dự kiến Ngời
đàn bà bị săn đuổi là 8 tập, nhng cố gắng lắm cũng chỉ làm đợc 4 tập mà
thôi. Khán giả xem Ngời đàn bà bị săn đuổi nhận ra bộ phim này cũng là
hình bóng của phim điện ảnh (nhựa). Sau Ngời đàn bà bị săn đuổi, hng
lot biờn kch cng bt tay vo vit kch bn phim truyn hỡnh di tp nh
12A 4H, Hoàng Lê nhất thống chí, Mẹ chồng tôi
Các phim này còn bộc lộ những điểm yếu nh cấu trúc của toàn bộ câu
truyện trong phim, nhân vật còn mờ nhạtTác phẩm Hoàng Lê nhất thống
chí, đợc chuyển từ tiểu thuyết chơng hồi của nhóm tác giả Ngô Gia Văn Phái
Với thời lợng phát sóng phim Việt Nam nh hiện nay, yêu cầu sản xuất
phim rất lớn, nhng mỗi năm Trung tâm Sản xuất Phim truyền hình chỉ thực
hiện đợc khoảng 150 200 tập phim. Thông thờng các biên tập của VFC chỉ
viết đợc 1 2 bộ kịch bản trong một năm. Số còn lại, phần lớn trông cậy vào
đội ngũ cộng tác viên là các nhà văn, nh bao chuyển tay ngang sang viết kịch
bản phim. Khoảng 70% kịch bản đợc đa vào sản xuất ở VFC là do tổ chức, đặt
hàng ở ngoài. Các nhà văn Trung Trung Đỉnh, Đặng Minh Châu, nh bao
Nguyễn Nh Phong, Nguyễn Thành Phong, Nguyễn Thanh Hoàng, Khuất
Quang Thụyđ ợc coi nh ngời ở VFC, lúc nào cũng có đơn đặt hàng gửi tới.
Chớnh vi lý do ú m mt ln na, nhng yu t, nhng s kin, nhng hi
th hay cỏch hnh vn ca bỏo chớ li cng cú c hi c c th húa mt
cỏch sng ng trong phim truyn hỡnh, cht liu bỏo chớ, kt cu bỏo chớ hin
din khỏ rừ nột trong cỏc phim truyn mang tớnh chớnh lun, gõy hiu ng tc
thi khụng khỏc gỡ mt tỏc phm bỏo chớ.
Những năm 2000, phim truyện truyền hình cả nớc đều có những gặt hái
thành công, to c thng hiu. V bắt đầu thoát khỏi cái bóng của phim
Điện ảnh ngày trớc.