nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý sinh dục và thể lực của trẻ vị thành niên ở huyện sóc sơn hà nội tóm tăt luận văn - Pdf 34

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ở nước ta hiện nay, nền kinh tế, văn hoá, chính trị, khoa học, kỹ thuật đã và
đang phát triển nhằm tiến tới công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Vì vậy, việc
nâng cao thể chất cho mỗi người dân Việt Nam là vấn đề cực kỳ cấp thiết và là sự
nghiệp của toàn Đảng, toàn dân. Theo kết quả điều tra của các cơ quan chức năng,
mặc dù thể lực và tầm vóc người Việt Nam đã có được bước phát triển khá trong
những năm gần đây, nhưng so với các tiêu chuẩn chung của quốc tế thì vẫn còn
khiêm tốn, thua kém nhiều nước ngay trong khu vực như Thái Lan, Singapore, Hàn
Quốc, Nhật Bản Trung Quốc... So với chuẩn quốc tế, nam thanh niên Việt Nam
kém 13,1cm (163,7cm so với 176,8cm), nữ thanh niên kém 10,7cm (153cm so với
chuẩn quốc tế là 163,7cm). Tố chất thể lực của thanh niên Việt Nam cũng bị xếp
vào loại kém (thậm chí rất kém nếu so với chuẩn quốc tế hay Nhật Bản)...
Cùng với đà phát triển của nền công nghiệp hiện đại, kinh tế ngày càng phát
triển, tuổi dậy thì của thanh thiếu niên nước ta dường như cũng đến sớm hơn so với
trước rất nhiều. Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về
sinh lý sinh dục, về hình thái - thể lực của trẻ em Việt Nam ở các địa bàn khác
nhau nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về sinh lý sinh dục và thể lực của
trẻ vị thành niên ở huyện Sóc Sơn thuộc thủ đô Hà Nội. Sóc Sơn là một huyện
ngoại thành, nằm ở phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, có sân bay quốc tế Nội Bài, có
nhiều khu du lịch đã và đang trên đà đô thị hóa rất mạnh cho nên trong những năm
gần đây, tình hình kinh tế - xã hội của huyện Sóc Sơn cũng có nhiều biến đổi, ảnh
hưởng đến sự phát triển của trẻ em ở địa bàn, đặc biệt là ở lứa tuổi vị thành niên.
Nhằm cung cấp thêm một số thông tin về tuổi dậy thì và vấn đề thể lực của trẻ vị
thành niên của huyện, với mong muốn hướng tới chương trình giáo dục chăm sóc
sức khỏe sinh sản, phát triển thể lực, giáo dục giới tính trong nhà trường kịp thời,
phù hợp với lứa tuổi, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý
sinh dục và thể lực của trẻ vị thành niên ở huyện Sóc Sơn, Hà Nội”.
2. Mục đích nghiên cứu

1.1. Nghiên cứu các đặc điểm sinh lý sinh dục của trẻ vị thành niên
Mốc quan trọng đánh dấu sự trưởng thành của cơ thể trong giai đoạn trẻ vị
thành niên là tuổi dậy thì. Nghiên cứu các đặc điểm sinh lý sinh dục của trẻ vị
thành niên, các tác giả (Đinh Kỷ, Lương Bích Hồng, Cao Quốc Việt, Nguyễn Thị
Nga, Nguyễn Thu Nhạn năm 1978 đến 1980; Nguyễn Phú Đạt, 2002; Cao Quốc
Việt và cs, 1991 - 1996; Phan Thị Sang, 1997; Cao Quốc Việt và cs, 1997; Tạ
Thúy Lan, Trần Thị Loan và cs, 2010;…) nhận thấy tuổi dậy thì của trẻ em nam
chậm hơn của trẻ em nữ, của trẻ em ở thành phố sớm hơn ở nông thôn và của trẻ
em nước ta chậm hơn các nước công nghiệp phát triển.
1.2. Nghiên cứu các đặc điểm về thể lực của trẻ vị thành niên
1.2.1. Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của trẻ vị thành niên
Các công trình nghiên cứu về sự tăng trưởng về chiều cao và cân nặng của
trẻ em ở các lứa tuổi khác nhau, các tác giả (Huard và Bogot, 1938; Đỗ Xuân Hợp,
1943; Mondiere,1875; Thẩm Thị Hoàng Điệp và các tác giả khác, 1989; Đào Huy
Khuê, 1991; Đoàn Yên và cs, 1993; Trần Đình Long và cs, 1990 - 1996; Phan Thị
Sang, 1996; Trần Thị Loan, 2002; Đỗ Hồng Cường, 2009; Nguyễn Thị Bích Ngọc,
2013;…) nhận thấy các chỉ số hình thái của học sinh tăng theo tuổi, thời điểm tăng
nhanh cân nặng và vòng ngực của học sinh diễn ra chậm hơn so với thời điểm tăng
chiều cao.
1.2.2. Nghiên cứu một số đặc điểm về thể lực và thể trạng của trẻ vị thành niên
Nghiên cứu một số đặc điểm về thể lực và thể trạng của trẻ vị thành niên,
các tác giả (Tanner, 1979; Trần Đình Long và cs, 1995; Nguyễn Văn Mùi, 1998;
Tạ Thúy Lan và Đàm Phượng Sào, 1998; Trần Thị Loan, 2002; Trần Thị Loan và
Lê Thị Tám, 2012; Trần Thị Loan và Nguyễn Bá Hùng, 2012; Nguyễn Thị Bích
Ngọc, 2013;…) nhận thấy thấy chỉ số pignet của học sinh tăng dần trong giai đoạn
đầu và giảm dần ở giai đoạn sau còn chỉ số BMI ở học sinh cả nam và nữ đều tăng
dần theo tuổi, chứng tỏ thể trạng của các em tốt dần lên trong quá trình phát triển
cá thể. Điều này chứng tỏ khi tuổi tăng cơ thể trẻ vị thành niên dần cân đối hơn
được nhiều lên.
1.3. Đặc điểm sinh lý của hệ hô hấp và tuần hoàn của trẻ em

được đo bằng ống nghe tim phổi, huyết áp được xác định theo phương pháp
Korotkov.
Số liệu được xử lý trên máy vi tính. Các dữ liệu được xử lý theo phương
pháp thống kê dùng trong y – sinh học. Kết quả nghiên cứu được so sánh với số
liệu trong quyển HSSH và những công trình nghiên cứu gần đây của các tác giả
khác.


5

Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1. Đặc điểm sinh lý sinh dục của trẻ vị thành niên
3.1.1. Tuổi dậy thì của trẻ vị thành niên
Số liệu trong bảng 3.1 cho thấy ở độ tuổi 11 đã có 18,33% trẻ nam đã dậy
thì. Tỉ lệ trẻ nam đã dậy thì tăng dần theo tuổi, đến 12 tuổi có 83,33%, đến 14 và
15 tuổi có 98,33% và đến 16 tuổi thì tất cả trẻ nam đều đã dậy thì. Như vậy, phần
lớn trẻ nam dậy thì ở độ tuổi 12. Tuổi dậy thì trung bình của trẻ vị thành niên nam
là 12 năm 9 tháng ± 10 tháng.
3.1.1.1. Tuổi dậy thì của trẻ vị thành niên nữ
Bảng 3.1. Tuổi dậy thì (xuất tinh) của nam
Tuổi
11
12
13
14
15
16
17
TS

100,00
85,00

Tuổi dậy thì (năm, tháng)
12 năm ± 0 tháng
12 năm 6 tháng ± 6 tháng
12 năm 9 tháng ± 11 tháng
12 năm 5 tháng ± 10 tháng
13 năm 5 tháng ± 1 năm 3 tháng
13 năm ± 11 tháng
13 năm 4 tháng ± 1 năm 1 tháng
12 năm 9 tháng ± 10 tháng

Số liệu trong bảng 3.2 cho thấy ở độ tuổi 11 đã có 60,00% trẻ nữ đã dậy thì.
Tỉ lệ trẻ nữ đã dậy thì tăng dần theo tuổi, đến 14 tuổi thì tất cả trẻ nữ đều đã dậy
thì. Như vậy, phần lớn trẻ nữ dậy thì ở độ tuổi 11 - 12. Tuổi dậy thì trung bình của
trẻ vị thành niên nữ ở huyện Sóc Sơn là 12 năm 5 tháng ± 1 năm. Nam dậy thì
muộn hơn so với nữ khoảng 1 năm.
Qua phân tích ở trên cho thấy tuổi dậy thì của trẻ vị thành niên ở huyện Sóc
Sơn đến sớm hơn so với trẻ vị thành niên trong các nghiên cứu của các tác giả
nghiên cứu trước như của HSSH, Tạ Thúy Lan, Trần Thị Loan và cs, Đỗ Hồng
Cường, Nguyễn Thị Bích Ngọc…ở cả nam và nữ. Điều này theo chúng tôi ngoài
các yếu tố về di truyền, giới tính còn do điều kiện sinh hoạt, chất lượng cuộc sống
ngày càng tốt hơn, chế độ dinh dưỡng được đảm bảo hơn, bên cạnh đó việc tiếp
cận các phương tiện thông tin đại chúng như sách báo, ti vi, internet, sinh hoạt
cộng đồng,…cũng phần nào tác động đến việc dậy thì sớm của các em.


6


63,33
54
90,00
60
100,00
60
100,00
60
100,00
60
100,00
368
87,62

Tuổi dậy thì (năm, tháng)
11 năm 5 tháng ± 8 tháng
11 năm 11 tháng ± 11 tháng
12 năm 6 tháng ± 1 năm
12 năm 3 tháng ± 11 tháng
13 năm ± 1 năm 1 tháng
13 năm ± 1 năm 1 tháng
13 năm ± 1 năm 2 tháng
12 năm 5 tháng ± 1 năm

3.1.1.2. Thời gian chu kì kinh nguyệt của trẻ vị thành niên
Bảng 3.3. Thời gian chu kì kinh nguyệt của trẻ vị thành niên

Tuổi

n

32,26 ± 6,11
27,59 ± 4,48
30,36 ± 4,65
28,08 ± 4,15
31,82 ± 4,90
28,82 ± 3,01
32,55 ± 4,47
28,10 ± 3,53
31,66 ± 5,32

X 1-X

2

3,16
3,74
3,72
4,02
2,77
3,74
3,73
3,55

Số liệu trong bảng 3.3 cho thấy, thời gian chu kì kinh nguyệt của các em dao
động từ 28,10 ngày đến 31,66 ngày, chênh lệch trung bình 3,55 ngày. Mức chênh
lệch chu kì kinh nguyệt ngắn nhất và dài nhất của các em nữ giảm dần theo tuổi
tuổi. Ở độ tuổi 11 chu kỳ kinh nguyệt ngắn nhất là 27,81 ngày và dài nhất là 30,97
ngày, chênh lệch 3,16 ngày. Đến 17 tuổi, mức chênh lệch giữa chu kỳ kinh ngắn
nhất và dài nhất là 3,73 ngày.
3.1.2. Số ngày hành kinh, mức độ tuần hoàn của chu kỳ kinh ở trẻ vị thành niên

4,90 ± 1,26
4,82 ± 1,24
4,98 ± 1,37

Dài nhất
6,19 ± 1,62
6,66 ± 1,85
5,96 ± 1,55
6,14 ± 1,75
5,36 ± 1,73
5,42 ± 1,74
5,22 ± 1,40
5,85 ± 1,66

1,33
1,37
1,09
0,81
0,55
0,52
0,40
0,87

Số liệu trong bảng 3.4 cho thấy, số ngày hành kinh của các em dao động từ
4,98 đến 5,85 ngày, chênh lệch trung bình giữa số ngày hành kinh ngắn nhất và dài
nhất là 0,87 ngày. Mức chênh lệch về số ngày hành kinh nhiều nhất ở lứa tuổi 11,
sau đó giảm dần sau mỗi lứa tuổi và đến 17 tuổi. Ở giai đoạn từ 11 - 13 tuổi, mức
chênh lệch về số ngày hành kinh khá cao chứng tỏ ở giai đoạn này, kinh nguyệt
của các em chưa ổn định. Từ 15 tuổi trở đi, do các chức năng sinh lý sinh dục của
các em đã tương đối ổn định nên số ngày hành kinh cũng được ổn định hơn. Điều

X ± SD
11 60 147,33 ± 7,20
12 60 151,46 ± 7,13
13 60 160,02 ± 7,64
14 60 165,80 ± 5,31
15 60 165,92 ± 4,87
16 60 166,68 ± 4,97
17 60 167,98 ± 4,91
Tăng trung bình /năm

Tuổi

Tăng
4,11
8,56
5,78
0,12
0,76
1,30
3,44

Nữ (2)
X ± SD
147,16 ± 7,90
151,47 ± 6,78
154,64 ± 5,96
155,57 ± 4,59
156,30 ± 4,44
156,47 ± 5,16
156,73 ± 4,69

>0,05

>0,05
>0,05
>0,05

11

24

144,08 ± 8,05

-

36

149,22 ± 7,17

-

-5,14

>0,05

12
13
Chung

22
6
52


ra mạnh nhất làm chiều dài xương tăng nhanh, đặc biệt là sự dài ra của các xương


9

ống. Tuy nhiên, tốc độ tăng chiều cao của các em diễn ra không đồng đều theo độ
tuổi là do đặc điểm giới tính của các em.
3.2.2. Khối lượng cơ thể của trẻ vị thành niên
3.2.2.1. Khối lượng cơ thể của trẻ vị thành niên theo tuổi và giới tính
Bảng 3.7. Khối lượng cơ thể của trẻ vị thành niên theo tuổi và giới tính
Khối lượng cơ thể của trẻ vị thành niên (kg)
Nam (1)
Nữ (2)
X 1-X 2
Tuổi
n
Tăng n
Tăng
X ± SD
X ± SD
11 60 41,61 ± 8,53
- 60 38,88 ± 6,88
3,12
12 60 42,08 ± 7,66 0,08 60 42,22 ± 7,05 3,07
0,13
13 60 46,70 ± 7,10 4,62 60 44,63 ± 6,48 1,83
2,92
14 60 52,98 ± 7,41 6,28 60 44,67 ± 4,87 0,79
8,41
15 60 53,48 ± 7,71 0,50 60 44,87 ± 4,48 0,30

Trần Thị Loan và Lê Thị Tám và của Nguyễn Thị Bích Ngọc.
Điều đó chứng tỏ khối lượng cơ thể của người Việt Nam có gia tăng theo
thời gian với tốc độ rất thấp, khoảng 0,5 - 1 kg/năm. Điều này cũng được giải thích
bằng sự cải thiện điều kiện kinh tế - xã hội ở nước ta trong thời gian gần đây. Do
điều kiện sống, đặc biệt là chế độ dinh dưỡng tốt hơn đã ảnh hưởng tới sự phát
triển của trẻ em.
3.2.2.2. Khối lượng cơ thể của trẻ vị thành niên đã và chưa dậy thì
Bảng 3.8. Khối lượng cơ thể của trẻ vị thành niên 11 - 13 tuổi đã và chưa dậy thì


10

Khối lượng cơ thể của trẻ vị thành niên (kg)
Tuổi
Chưa dậy thì
Đã dậy thì
n
Tăng
n
Tăng
X ± SD
X ± SD
11 49 41,50 ± 7,75
11 42,10 ± 8,76
12 10 41,70 ± 7,04
0,2
50 42,16 ± 9,50 0,06
13
2 38,00 ± 2,83
-3,7


-0,60
-0,46
-9,00

>0,05
>0,05

14 60
77,08 ± 5,36
3,32 60 71,78 ± 4,91 0,71
15 60
78,28 ± 4,98
1,20 60 72,83 ± 3,87 1,05
16 60
79,59 ± 5,08
1,31 60 73,67 ± 5,16 0,84
17 60
79,78 ± 6,01
0,19 60 74,62 ± 5,48 0,95
Tăng trung bình/năm
1,63
1,24

X 1- X

p
(1-2)

2

2,74
2,70
2,69
5,30
5,45
5,92
5,15

36 68,17 ± 4,17
12 22 65,25 ± 3,13 0,52 38 70,45 ± 7,12 2,28
Nữ
13
6 68,08 ± 6,08 2,83 54 71,40 ± 5,25 0,95
Chung 52
1,16 128
1,62
Giới
tính

X 1- X

2

p
(1-2)

-0,67
-3,23
-4,82

>0,05
>0,05
>0,05

-2,40
-5,20
-3,32


- 60 64,17 ± 6,86
12 60 66,73 ± 8,59 0,37 60 65,19 ± 7,50
13 60 68,25 ± 6,83 1,52 60 66,70 ± 5,40
14 60 72,05 ± 6,55 3,80 60 66,80 ± 5,53
15 60 72,35 ± 7,37 0,30 60 66,87 ± 4,35
16 60 72,42 ± 5,38 0,07 60 67,92 ± 5,52
17 60 73,03 ± 8,00 0,61 60 67,97 ± 4,69
Tăng trung bình/năm
1,26

X 1- X

Tăng
1,02
1,51
0,10
0,07
1,05
0,05
0,63

1,28
1,54
1,55
5,25
5,48
4,50
5,06

2


n
11 49
12 10
13
2
Nam
Chung 61

Vòng bụng của trẻ vị thành niên (cm)
Chưa dậy thì
Đã dậy thì
Tăng n
X ± SD
X ± SD
65,20 ± 4,49
11
66,59 ± 5,99
65,90 ± 6,94
0,7 50
66,90 ± 4,93
66,50 ± 2,12
0,6 58
68,31 ± 4,93
0,65 119

X 1-X

Tăng
0,31

64,29 ± 5,42
65,76 ± 3,02

36
0,58 38
1,47 54
1,03 128

64,47 ± 6,16
65,71 ± 4,03
66,80 ± 5,69

1,24
1,09
1,17

-0,76
-1,42
-1,04

>0,05
>0,05
>0,05

3.2.5. Vòng mông của trẻ vị thành niên
3.2.5.1. Vòng mông của trẻ vị thành niên theo tuổi và giới tính
Bảng 3.13. Vòng mông của trẻ vị thành niên theo tuổi và giới tính
Vòng mông của trẻ vị thành niên (cm)
Nam (1)
Nữ (2)


Tăng
1,46
3,00
0,84
0,27
0,90
0,77
1,21

2

0,34
0,58
0,13
1,04
1,55
1,14
1,42

p
(1-2)
>0,05
>0,05
>0,05
>0,05
>0,05
>0,05
>0,05


tính

n
11
49
12
10
Nam
13
2
Chung 61
11
24
12
22
Nữ
13
6
Chung 52

Chưa dậy thì
Đã dậy thì
Tăng n
X ± SD
X ± SD
79,59 ± 6,93
11 81,80 ± 6,51
79,60 ± 7,57 0,01 50 81,88 ± 7,18
80,00 ± 2,83
0,4 58 84,19 ± 6,92

>0,05

3.2.6. Vòng cánh tay của trẻ vị thành niên
3.2.6.1. Vòng cánh tay của trẻ vị thành niên theo tuổi và giới tính
Bảng 3.15. Vòng cánh tay của trẻ vị thành niên theo tuổi và giới tính
Vòng cánh tay của trẻ vị thành niên (cm)
Nam (1)
Nữ (2)
Tuổi
n
Tăng n
X ± SD
X ± SD
11
60 23,48 ± 3,00
- 60 22,42 ± 2,34
12
60 23,87 ± 3,74
0,39 60 23,01 ± 2,95
13
60 24,30 ± 3,32
0,43 60 23,99 ± 2,74
14
60 25,30 ± 2,41
1,00 60 24,05 ± 3,01
15
60 26,98 ± 3,90
1,68 60 24,07 ± 2,94
16
60 27,10 ± 4,36

0,05
>0,05


23,39 ± 3,01
23,64 ± 3,29

Tăng n
11
0,25 50

23,99 ± 2,12

0,35 58

61
24
22
6
52

X ± SD

23,90 ± 3,03
23,92 ± 3,88

Tăng
0,02

-0,51
-0,28

>0,05

23,65 ± 2,79
24,11 ± 2,59

0,43
0,46
0,45

Số liệu ở bảng 3.16 cho thấy, từ 11 đến 13 tuổi, vòng cánh tay của trẻ nam
chưa dậy thì tăng trung bình 0,60 cm/năm và đã dậy thì tăng 0,21 cm/năm; của trẻ
nữ chưa dậy thì tăng trung bình 0,87 cm/năm và đã dậy thì tăng trung bình 0,45
cm/năm. Như vậy là dù đã dậy thì hay chưa dậy thì, vòng cánh tay của nữ cũng đều
tăng nhanh và tăng nhiều hơn của nam. Trong cùng một độ tuổi, cùng một giới
tính, vòng cánh tay của trẻ đã dậy thì đều lớn hơn so với của trẻ chưa dậy thì, ở nữ
có mức chênh lệch đủ lớn (p0,05).
3.3. Đặc điểm thể lực và thể trạng của trẻ vị thành niên
3.3.1. Chỉ số pignet của trẻ vị thành niên
Số liệu ở bảng 3.17 cho thấy, chỉ số pignet của các em tăng trong giai đoạn
đầu và giảm trong giai đoạn sau. Ranh giới giữa hai giai đoạn này là 13 tuổi. Chỉ
số pignet ở trẻ vị thành niên nam và nữ tăng lên đến lúc 13 tuổi, sau đó giảm dần.
Trong cùng một độ tuổi, chỉ số pignet của nam đều nhỏ hơn của nữ nhưng mức
chênh lệch chỉ có ý nghĩa ở giai đoạn 14 - 17 tuổi.
Chỉ số pignet của trẻ vị thành niên (bảng 3.9) biến đổi theo tuổi. Ở giai đoạn
đầu, mức tăng chiều cao nhanh hơn mức tăng cân nặng và vòng ngực nên chỉ số
pignet tăng dần. Còn ở giai đoạn sau, mức tăng chiều cao chậm hơn mức tăng vòng
ngực và cân nặng, nên chỉ số pignet của các em giảm dần. Chỉ số pignet của trẻ vị
thành niên trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với số liệu của HSSH, Trần
Thị Loan, Lê Ngọc Trọng và cs, Đỗ Hồng Cường ở các lứa tuổi. Điều này có thể
giải thích do những thế hệ càng về sau khi điều kiện sống, chế độ dinh dưỡng,



X 1-X

Tăng
1,70
0,93
-1,49
-0,62
-1,75
-0,27
-0,21

-2,60
-1,40
-1,87
-3,48
-4,45
-2,18
-2,65

2

p
(1-2)
>0,05
>0,05
>0,05


Tỉ lệ trẻ vị thành niên theo loại thể lực (%)
Cường
Trung
Rất khỏe Khỏe
Yếu Rất yếu Kém
tráng
bình
8,33
9,17
18,33
37,5
15,83
6,67
4,17
10,00
7,50
11,67
44,17
15,83
5,83
5,00
5,83
8,33
26,67
38,33
14,17
5,00
1,67
8,33

840

8,21

10,95
38,68

19,52

41,79
41,79

11,91

5,48
19,53

2,14

3.3.2.2. Thể lực của trẻ vị thành niên theo giới tính
Số liệu ở bảng 3.19 cho thấy, ở cả nam và nữ, đa số trẻ em có thể lực trung
bình trở lên nhưng vẫn còn nhiều trẻ em có thể lực dưới trung bình. Có sự khác
biệt khá rõ giữa nam và nữ về tỉ lệ trẻ em theo các mức thể lực khác nhau. Trong
đó, số trẻ em có thể lực thuộc mức trên trung bình của nam chiếm (42,37%) cao
hơn của nữ (36,43%), còn số trẻ em nam có thể lực trung bình trở xuống chiếm
(18,34%) lại thấp hơn so với nữ (19,29%). Điều đó chứng tỏ, nhìn chung, thể lực
của các em nam tốt hơn của các em nữ.
Bảng 3.19. Phân loại thể lực của trẻ vị thành niên theo tuổi và giới tính
Tỉ lệ trẻ vị thành niên theo loại thể lực (%)
Cường Rất

Số liệu trên bảng 3.20 cho thấy chỉ số BMI của cả nam và nữ đều tăng dần
theo tuổi chứng tỏ thể trạng của các em tốt dần lên. Chỉ số BMI của nam tăng trung
bình 0,23 kg/m2/năm, của nữ 0,15 kg/m2/năm. Như vậy, ở giai đoạn 11 - 17 tuổi,
chỉ số BMI của nam tăng nhiều và nhanh hơn của nữ. Chỉ số BMI của các em nam
và nữ tăng dần là do quá trình phát triển cá thể của giai đoạn này, mức tăng chiều
cao của các em thấp hơn so với mức tăng cân nặng.
Chỉ số BMI ở trẻ vị thành niên chúng tôi nghiên cứu cao hơn so với số liệu
trong nghiên cứu của “HSSH”,Trần Thị Loan, Lê Ngọc Trọng, Đỗ Hồng Cường…
Bảng 3.20. Chỉ số BMI của trẻ vị thành niên theo tuổi và giới tính
Tuổi
11

n
60

Chỉ số BMI của trẻ vị thành niên (kg/m2)
Nam (1)
Nữ (2)
Tăng n
X ± SD
X ± SD
18,01 ± 2,96
60 17,85 ± 2,23

X 1-X

Tăng
-

0,16

60
60

18,18 ± 2,60
18,28 ± 2,21
18,36 ± 1,96
18,42 ± 1,62
18,74 ± 1,86
18,78 ± 1,56

0,33
0,10
0,08
0,06
0,32
0,04
0,15

0,10
0,13
0,78
0,83
0,58
0,63

>0,05
>0,05

số trẻ trong nhóm nghiên cứu có thể trạng bình thường (86,67%), trẻ thuộc loại suy
dinh dưỡng còn chiếm một tỉ lệ khá cao (9,05%), số trẻ thừa cân chiếm tỉ lệ khá
thấp (3,45%) và rất ít trẻ bị béo phì (0,83%). So với tỉ lệ học sinh THPT bị suy
dinh dưỡng tính chung cho cả nước (10,70%) thì số trẻ vị thành niên trong nhóm
nghiên cứu bị suy dinh dưỡng có tỉ lệ thấp hơn. Điều này chứng tỏ, mức dinh
dưỡng của trẻ vị thành niên ở huyện Sóc Sơn đã được cải thiện.
3.3.3.3. So sánh thể trạng của trẻ vị thành niên đã và chưa dậy thì


19

Bảng 3.22. Tỉ lệ trẻ vị thành niên 11 - 13 tuổi đã và chưa dậy thì theo thể trạng
Tỉ lệ trẻ vị thành niên theo thể trạng (%)
Tình
Nam
Nữ
Suy
Suy
trạng Tuổi
Bình Thừa Béo
Bình
n
dinh
n
dinh
thường cân
phì
thường
dưỡng
dưỡng

(với tỉ lệ tương ứng là 4,20% bị suy dinh dưỡng, 9,25% bị thừa cân và 0,84% bị
béo phì). Đối với nữ cũng có tình trạng tương tự như vậy, trong số nữ chưa dậy thì,
số trẻ bị suy dinh dưỡng (25,00%), bị thừa cân (5,77%) và bị béo phì (3,85%) đều
nhiều hơn so với nữ đã dậy thì (với tỉ lệ tương ứng là 1,56% bị suy dinh dưỡng,
1,56% bị thừa cân và 0,78% bị béo phì).
3.4. Đặc điểm sinh lý của hệ hô hấp và tuần hoàn của trẻ vị thành niên
3.4.1. Tần số thở của trẻ vị thành niên
Bảng 3.23. Tần số thở của trẻ vị thành niên theo tuổi và giới
Tuổi
11
12
13
14
15
16
17

n
60
60
60
60
60
60
60

Tần số thở của trẻ vị thành niên (lần/phút)
Nam (1)
Nữ (2)
Giảm n


p
(1-2)
>0,05
>0,05
>0,05
>0,05
>0,05
>0,05
>0,05


20

Giảm trung bình/năm

-0,83

0,73

Số liệu trên bảng 3.23 cho thấy, tần số thở của trẻ giảm dần theo tuổi. Tần số
thở của trẻ nam trung bình mỗi năm giảm 0,83 lần/phút còn ở nữ giảm 0,73
lần/phút. Trong cùng một độ tuổi, tần số thở của trẻ nam thấp hơn của trẻ nữ với
mức chênh lệch khá lớn (p<0,05), trừ ở độ tuổi 11 và 13 (p>0,05) Kết quả này phù
hợp với nhận xét của Trần Thị Loan, Nguyễn Thị Bích Ngọc.
3.4.2. So sánh tần số thở của trẻ vị thành niên đã và chưa dậy thì
Bảng 3.24. Tần số thở của trẻ vị thành niên 11 - 13 tuổi đã và chưa dậy thì
Tình
Tuổi
trạng

11 21,80 ± 1,88
22,10 ± 1,41
22,00 ± 1,83
24,38 ± 1,65
23,59 ± 1,89
23,00 ± 1,34

1,41 50
0,10 58
0,76 119
36
0,79 38
0,59 54
0,69 128

20,90 ± 1,45
20,57 ± 1,54
22,03 ± 1,30
21,55 ± 1,69
20,17 ± 1,74

0,90
0,33
0,62
0,48
1,38
0,93

X 1-X


3.4.2. Tần số tim của trẻ vị thành niên
3.4.2.1. Tần số tim của trẻ vị thành niên
Kết quả nghiên cứu tần số tim của trẻ vị thành niên ở bảng 3.25 cho thấy, tần
số tim của trẻ vị thành niên giảm dần theo tuổi. Tần số tim giảm trung bình/năm
đối với nam là 1,40 nhịp còn với nữ là 1,30 nhịp.
Bảng 3.25. Tần số tim của trẻ vị thành niên theo tuổi và giới tính
Tần số tim của trẻ vị thành niên (lần/phút)

X 1-X

2

p


21

Nam (1)
n
X ± SD
11 60 82,80 ± 3,34
12 60 81,10 ± 2,13
13 60 77,90 ± 2,89
14 60 76,83 ± 3,33
15 60 76,53 ± 3,38
16 60 75,18 ± 4,91
17 60 74,43 ± 3,94
Giảm trung bình/năm

Tuổi

-2,46
-1,86
-0,52
-1,36
-0,79
-0,81
-1,30

(1-2)
-0,67
0,09
-1,25
-1,80
-0,74
-1,30
-1,24

>0,05
>0,05
>0,05
>0,05
>0,05
>0,05
>0,05

Tần số tim của nam giảm nhanh nhất lúc 12 - 14 tuổi và của nữ lúc 11 - 13
tuổi. Sau thời điểm này, tốc độ giảm tần số tim của các em không nhiều. Thời điểm
giảm nhanh tần số tim của nam xuất hiện muộn hơn so với nữ khoảng 1 - 2 năm
vào thời điểm dậy thì. Tần số tim của trẻ vị thành niên giảm dần khi tuổi càng tăng
là do trong quá trình phát triển cá thể của các em, tim phát triển cả cấu trúc lẫn

11 81,80 ± 3,16
-

X 1- X

1,22

2

p
(1-2)
>0,05


22

12
13
Chung
11
12
Nữ
13
Chung

10
2
61
24
22

0,92
3,12
2,02
3,24
0,46
1,85

1,32
4,24

>0,05

p
(1-2)
>0,05
>0,05
>0,05
>0,05
>0,05
>0,05
>0,05

3.4.3.2. Huyết áp tối thiểu của trẻ vị thành niên
Các số liệu trong bảng 3.28 cho thấy huyết áp tối thiểu của trẻ vị thành niên
đều tăng dần từ 11 - 17 tuổi. Mức tăng trung bình/năm là 2,12 mmHg đối với nam
và 1,96 mmHg đối với nữ. Thời điểm tăng nhanh huyết áp tối thiểu của nữ (lúc 12
- 13 tuổi) sớm hơn so với nam (lúc 13 - 14 tuổi) khoảng 1 năm. Trong cùng một độ
tuổi huyết áp tối thiểu của nữ luôn cao hơn của nam. Kết quả này phù hợp với nhận
xét của các tác giả Đoàn Yên, Trần Thị Loan, Nguyễn Văn Mùi.
Bảng 3.28. Huyết áp tối thiểu của trẻ vị thành niên theo tuổi và giới tính


23

Huyết áp tối thiểu của trẻ vị thành niên (mmHg)
Tuổi
Nam (1)
Nữ (2)
n
Tăng n
Tăng
X ± SD

1,96

X 1- X

-2,43
-1,13
-2,70
-1,45
-0,45
-1,02
-1,43

2

p
(1-2)
0,05
0,05
>0,05

3.4.3.3. So sánh huyết áp của trẻ vị thành niên đã và chưa dậy thì
So sánh huyết áp tối đa trên bảng 3.29 cho thấy, mức tăng trung bình hàng
năm huyết áp tối đa của nam chưa dậy thì là 1,12 mmHg và đã dậy thì là 0,99
mmHg, của nữ chưa dậy thì là 1,75 mmHg và đã dậy thì là 2,14 mmHg.
So sánh huyết áp tối thiểu ở bảng 3.30 cho thấy, mức tăng trung bình hàng
năm huyết áp tối thiểu của nam chưa dậy thì là 1,63 mmHg và đã dậy thì là 1,83

Huyết áp tối đa của trẻ vị thành niên (mmHg)
Chưa dậy thì
Đã dậy thì
X 1- X 2
Tăng n
Tăng
X ± SD
X ± SD
96,27 ± 5,89
11 100,04 ± 6,06
-3,77
97,40 ± 6,95 1,13 50 101,22 ± 5,05 1,18 -3,83
98,50 ± 5,61 1,10 58 102,01 ± 5,56 0,79 -3,51
1,12 119
0,99
98,00 ± 4,45
36 101,47 ± 5,38
-3,74
99,86 ± 5,05 0,86 38 102,24 ± 5,26 0,77 -2,38

p
(1-2)
>0,05
>0,05
>0,05
0,05


24

12
10
13
2
Chung 61
11
24
12
22
13
6
Chung 52

Huyết áp tối thiểu của trẻ vị thành niên (mmHg)
Chưa dậy thì
Đã dậy thì
Tăng n
Tăng
X ± SD
X ± SD
57,70 ± 6,36
11
61,10 ± 7,74
59,41 ± 7,94 1,71 50
62,66 ± 6,52 1,56
60,96 ± 7,07 1,55 58
64,76 ± 5,52 2,10
1,63 119
1,83
58,22 ± 8,32

>0,05

Tóm lại, qua nghiên cứu một số chỉ số chức năng tuần hoàn của trẻ vị
thành niên từ 11 đến 17 tuổi chúng tôi nhận thấy tần số tim của các em giảm dần
theo tuổi còn huyết áp động mạch tăng dần theo tuổi. Theo chúng tôi, tần số tim
giảm dần theo tuổi và huyết áp động mạch tăng dần là do sự biến đổi về cấu trúc
và chức năng của hệ tim mạch trong quá trình phát triển cá thể của trẻ vị thành
niên từ 11 đến 17 tuổi. Các chỉ số này của nữ có trị số cao hơn so với của nam ở
hầu hết các lứa tuổi nghiên cứu.


25

KẾT LUẬN
Qua kết quả nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý sinh dục và thể lực của trẻ
vị thành niên từ 11 - 17 tuổi ở huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, chúng tôi rút ra
một số kết luận sau:
1. Tuổi dậy thì trung bình của nam là 12 năm 9 tháng ± 10 tháng và của nữ
là 12 năm 5 tháng ± 1 năm; Thời gian của chu kỳ kinh nguyệt ở nữ trung bình là từ
27 ngày đến 30 ngày và số ngày hành kinh trung bình từ 5 đến 6 ngày.
2. Các chỉ số hình thái của các em tăng dần theo tuổi, nhưng tốc độ tăng
các chỉ số này không đều giữa các độ tuổi và giữa nam và nữ. Đối với trẻ nam,
trung bình mỗi năm chiều cao tăng 3,44 cm, cân nặng tăng 2,11 kg, vòng ngực
tăng 1,40 cm, vòng bụng tăng 1,26 cm, vòng mông tăng 1,39 cm, vòng cánh tay
tăng 0,62 cm. Đối với trẻ nữ trung bình mỗi năm chiều cao tăng 1,60 cm, cân
nặng tăng 1,02 kg, vòng ngực tăng 1,24 cm, vòng bụng tăng 0,63 cm, vòng mông
tăng 1,21 cm và vòng cánh tay tăng 0,40 cm, Ở cùng một độ tuổi, số đo chiều
cao, cân nặng và các vòng của trẻ nam đều cao hơn của trẻ nữ và của trẻ đã dậy
thì đều cao hơn của trẻ chưa dậy thì. Điều đó chứng tỏ sự phát triển của trẻ vị
thành niên đã dậy thì tốt hơn so với của trẻ chưa dậy thì.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status