phát triển tương tác xã hội cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ lứa tuổi mầm non - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

TRẦN THỊ THU THỦY

PHÁT TRIỂN TƯƠNG TÁC XÃ HỘI
CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỈ LỨA
TUỔI MẦM NON
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

HÀ NỘI - 2014


LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa
cùng toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa Giáo dục Tiểu học, trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình
học tập và nghiên cứu.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Th.S Lê Thị Nguyên - Giảng viên khoa
Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã hướng dẫn, động
viên, tạo mọi điều kiện tốt nhất để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ban giám hiệu, các
thầy cô giáo cùng các cháu nhỏ tại trường mầm non Phúc Thắng đã tạo điều
kiện cho tác giả điều tra, khảo sát thực trạng và thực nghiệm khoa học.
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên

Trần Thị Thu Thủy




TTK

: Trẻ tự kỉ

KNTT

: Kĩ năng tương tác

TTXH

: Tương tác xã hội


MỤC LỤC


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thuật ngữ “trẻ tự kỉ” hiện nay không còn xa lạ trong cộng đồng xã hội
bởi tỉ lệ trẻ em mắc hội chứng này ngày càng gia tăng ở nhiều quốc gia đặc
biệt ở các thành phố, đô thị lớn. TTK là một đối tượng đang cần được chăm
sóc, giáo dục theo phương thức đặc biệt phù hợp với hội chứng RLPTK mà
trẻ đang mắc, giúp TTK hòa nhập được với cuộc sống bình thường một cách
nhanh chóng.
Tất cả TTK đều có một điểm chung giống nhau là khó khăn về giao tiếp
và tương tác xã hội. Điều này thể hiện ở việc TTK ít hoặc gần như không có
nhu cầu giao tiếp với người khác, thiếu kĩ năng tập trung chú ý, bắt chước,
luân phiên, bắt đầu, duy trì, mở rộng hội thoại, hiểu và sử dụng công cụ giao
tiếp, tương tác có hiệu quả hơn…điều này không những là khó khăn của riêng

2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp tác động nhằm phát triển kĩ năng tương tác xã hội
cho trẻ mắc hội chứng RLPTK ở Mầm non.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài phải giải quyết những nhiệm vụ
sau:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển TTXH chotrẻ
RLPTK lứa tuổi Mầm non.
- Đề xuất một số biện phát phát triển TTXH cho trẻ RLPTK lứa tuổi
mầm non.
- Minh họa một số biện pháp đã đề xuất và thử nghiệm để đánh giá hiệu
quả.

4. Đối tượng nghiên cứu & khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: đặc điểm TTXH của trẻ RLPTK lứa tuổi mầm
non và các yếu tố ảnh hưởng đến TTXH của trẻ trong môi trường GDHN ở
mầm non.
7


- Khách thể nghiên cứu: Các hoạt động giao tiếp và tương tác của trẻ
RLPTK trong môi trường học hòa nhập mầm non.
5. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thực tế khả năng tương tác của trẻ bị RLTK ở lứa tuổi mầm
non và phát triển TTXH cho trẻ RLPTK ở lứa tuổi
Địa bàn khảo sát: Trường mầm non Phúc Thắng
Nghiên cứu phát triển TTXH cho trẻ RLTK lứa tuổi 3- 6tuổi (lứa tuổi biểu
hiện hội chứng rõ hơn hẳn) trong môi trường mầm non hòa nhập.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Năm 1943,bác sĩ tâm thần người Mĩ Leo Kanner đã nhận dạng rối loạn
tự kỉ, ông mô tả những điểm đặc biệt của một số trẻ 11 tuổi như: khó phát
triển quan hệ xã hội với mọi người xung quanh, chậm phát triển ngôn ngữ,
giao tiếp và không có khả năng sử dụng ngôn ngữ khi đã nói được, có hành vi
trùng lặp và rập khuôn, thiếu trí tưởng tượng, giỏi học vẹt, bị ám ảnh đối với
sự trùng lặp mặc dù diện mạo bên ngoài vẫn bình thường.
Năm 1944, một bác sĩ nhi khoa người Áo là Han Asperger (1906-1980)
cũng có mô tả những triệu chứng tương tự mà về sau người ta gọi là hội
chứng Asperger. Hội chứng này miêu tả như sau: thiếu hụt khả năng ngôn ngữ
như cách phát âm nhiều cung điệu không thích hợp với hoàn cảnh, có những
rối loạn trong cách sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất với ngôi thứ hai và
ba. Trẻ vẫn có những tiếp xúc về mặt xã hội nhưng có xu hướng thích cô đơn,
đơn độc.
Cũng từ đó có nhiều nhóm bác sĩ nghiên cứu để tìm nguyên nhân cũng
như phương pháp điều trị, có rất nhiều giả thuyết giải thích về căn nguyên của
tự kỉ, hành vi thực sự của những trẻ bị tình trạng này dần dần được quan sát
9


và mô tả chi tiết hơn và những nhiều phương pháp trị liệu, giáo dục đã ra đời
góp phần giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của trẻ tự kỉ.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “tự kỉ” không còn mới mẻ tuy nhiên ít người
hiểu đúng được thế nào là tự kỉ, trẻ tự kỉ là trẻ như thế nào? Vấn đề nghiên
cứu TTK hầu như chỉ mới bắt đầu vào khoảng thập kỉ 80 của thế kỉ XX. Việc
can thiệp điều trị tiến hành cho trẻ ở một số bệnh viện, trường học, trung tâm
giáo dục… nhìn chung hiệu quả chưa cao do những nghiên cứu về TTK, phát
triển các kĩ năng, năng lực cho trẻ RLPTK vẫn còn rất ít ỏi, đặc biệt phát triển
TTXH cho TTK chưa được chú trọng đúng mức so với tầm quan trọng của kĩ
năng này. Hiện nay, nước ta đang áp dụng thành quả nghiên cứu trong nước
và quốc tế vào việc chuẩn đoán, trị liệu, phương pháp dạy TTK ở các trung

Communication handicapped Children) vào quá trình can thiệp sớm cho trẻ
Mầm non. Tác giả này còn có một số công trình như : Một số vấn đề cơ bản
trong chuẩn đoán rối loạn phổ tự kỉ (2012) ; Đánh giá mức độ hòa nhập sẵn
sàng của trẻ tự kỉ (2013), Tổng quan các nghiên cứu về sử dụng phương
pháp ABA trong can thiệp cho trẻ tự kỉ và hướng vận dụng vào Việt Nam, Kỷ
yếu hội thảo khoa học “Giáo dục đặc biệt ở Việt Nam – kinh nghiệm và triển
vọng”, NXB Đại học sư phạm Hà Nội
Năm 2008, tác giả Đào Thu Thủy với đề tài “Xây dựng bài tập phát
triển giao tiếp tổng thể cho trẻ tự kỉ tuổi mầm non”. Đề tài đã thiết kế 20 bài
tập phát triển giao tiếp cho trẻ Tự kỉ 24 - 36 tháng dành cho phụ huynh.
Các công trình nghiên cứu trên đã nêu lên phương hướng giáo dục trẻ
RLPTK thông qua trị liệu về ngôn ngữ như học nói và phát triển các kĩ năng
giao tiếp nghe – hiểu, phi ngôn ngữ trong giao tiếp, hình hành vi văn hóa, kĩ
năng tự phục vụ, kích thích trẻ thể hiện suy nghĩ của mình ra bên ngoài bằng
hành động/ biểu cảm…và cách cách chăm sóc - giáo dục, can thiệp cho TTK
trong các hoạt động ở trường mầm non.
Các công trình trên đã ít nhiều thể hiện cách thức tương tác với trẻ TTK
qua cách trao đổi, trò chuyện, giúp trẻ tự hoàn thiện về hành vi, giao tiếp, vân
động, tự tin thiết lập tương tác xã hội hòa nhập với môi trường sống.

11


Tương tác được hiểu là sự tác động qua lại lẫn nhau của hai hay nhiều
chủ thể, hoạt động tương tác đa dạng với các đối tượng tương tác phong phú
trong cuộc sống, sinh hoạt mà họ tham gia .Ở trẻ em là hoạt động tương tác
diễn ra với người thân trong gia đình, tương tác với bạn bè, cô giáo,tương tác
với đồ dùng, đồ chơi, trò chơi…như vậy, tương tác xã hội là nhu cầu hình
thành từ rất sớm giữa trẻ và môi trường xung quanh và những người xung
quanh với trẻ. Vì vậy, phát triển tương tác xã hội sẽ tạo ra môi trường trị liệu

Rối loạn phổ tự kỉ
Theo Leo Kanner, nhà tâm thần học thuộc trường Đại Học John
Hopkins ở Baltimore (Mỹ), lần đầu tiên đã nhận dạng rối loạn tự kỉ vào năm
1943. Ông đã mô tả những đặc điểm của một số trẻ 11 tuổi như: khó phát triển
quan hệ xã hội với mọi người xung quanh, chậm phát triển ngôn ngữ giao tiếp
và không có khả năng sử dụng ngôn ngữ khi đã nói được, có hành vi trùng lặp
và dập khuôn, thiếu trí tưởng tượng, giỏi học vẹt, bị ám ảnh đối với sự trùng
lặp mặc dù diện mạo bên ngoài vẫn bình thường. Ngoài ra, trẻ này còn bị ảnh
hưởng bởi sự trì hoãn phát triển (như chậm hình thành kĩ năng và nhận thức
hơn so với trẻ bình thường), gặp nhiều khó khăn trong tương tác và thích ứng
với những thay đổi vì môi trường. Thậm chí có những trẻ đã hình thành những
kĩ năng nhận thức, thích ứng xã hội, vận động nhưng sau đó các kĩ năng này
lại biến mất. Rối loạn tự kỉ đôi khi được gọi là tự kỉ thời ấu nhi, tự kỉ thời trẻ
thơ hoặc tự kỉ Kanner.
Cùng với quá trình nghiên cứu về tự kỉ các nhà khoa học nhận thấy có
sự phát triển khá đa dạng các biểu hiện tự kỉ và điều đó hướng họ đến một
thuật ngữ có phạm vi mô tả lớn hơn, có thể bao gồm nhiều dạng tự kỉ. Thuật
ngữ “rối loạn phổ tự kỉ” (Autistic Spectrum Disorders - ASDs) ra đời từ cuối
những năm 70 của thế kỉ XX đã mô tả đầy đủ hơn về hội chứng này (Lorna
Wing, 1979).
RLPTK bao gồm:
- Rối loạn tự kỉ (Autism Disorder - AD);
- Rối loạn Asperger (Asperger Disorder/syndrome);
- Rối loạn Rett (Rett Disorder/syndrome);
- Rối loạn bất hoà nhập tuổi ấu thơ (Chilhood Disintegrative Disorder);

13


- Rối loạn phát triển diện rộng không xác định (Pervasive Developmental

14


Trẻ RLPTK là trẻ có các đặc điểm riêng về khả năng tương tác xã hội,
ngôn ngữ và hành vi, cảm giác và giao tiếp, ở mỗi cá thể trẻ lại khác nhau về
mức độ và biểu hiện của hội chứng. Chính vì vậy, người nghiên cứu phải nắm
được các đặc trưng của trẻ để có biện pháp tác động hợp lí, khoa học phù hợp
với trẻ, hạn chế rối loạn gây bất hòa nhập ở trẻ RLPTK.
1.2.2 Chuẩn đoán RLPTK ở tre em
Chuẩn đoán là khâu quan trọng trong việc xác định hội chứng RLPTK ở
trẻ em, đưa ra các triệu chứng đặc trưng của trẻ, là cơ sở để đưa ra quyết định
về hình thức can thiệp, chính sách bảo trợ xã hội cho trẻ tự kỉ và gia đình các
em.
Dưới đây là một số công cụ chuẩn đoán tự kỉ được sử dụng phổ biến trên
thế giới hiện nay:
CHAT: Bảng kiểm sàng lọc tự kỉ ở trẻ nhỏ (Baron Cohen và cộng sự –
1992), sàng lọc trẻ tự kỉ từ 18 tháng tuổi. Sử dụng CHAT chỉ mất 5 – 10 phút
để thực hiện và cho điểm. CHAT gồm 9 câu hỏi dưới dạng “có/không” được
trả lời bởi cha mẹ trẻ và 5 câu hỏi do người người quan sát sàng lọc.
M – CHAT: Bảng kiểm sàng lọc tự kỉ ở trẻ nhỏ có sửa đổi, bổ sung
(2001) bộ câu hỏi CHAT. Tác giả Robin, Fein, Baron & Green (Mỹ) đã bổ
sung thêm 14 câu hỏi thuộc các lĩnh vực rối loạn vận động, quan hệ xã hội,
bắt chước và định hướng. Bộ câu hỏi này dùng để sàng lọc trẻ tự kỉ trong độ
tuổi 18 – 30 tháng. M – CHAT có độ nhạy cao hơn CHAT, với thiết kế 23 câu
hỏi dùng để phỏng vấn cha mẹ từ 5 – 10 phút, đây là công cụ có độ tin cậy
cao và được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới. CARS: Thang chuẩn đoán tự
kỉ tuổi ấu thơ, công cụ này được thiết kế dưới dạng bảng hỏi và quan sát, được
dùng để chuẩn đoán tự kỉ từ 24 tháng tuổi. CARS kiểm tra 15 lĩnh vực khác
nhau nhằm đưa ra các mức độ tự kỉ. CARS có thể sử dụng đánh giá trẻ tự kỉ
với nhiều mục đích khác nhau như: để xây dựng chương trình can thiệp sớm,

vị tâm lí tại các bệnh viện Nhi, dựa trên các thông tin bệnh sử, tiền căn đặc
trưng cho tự kỉ kết hợp với các biểu hiện lâm sàng để đưa ra kết luận.
Trong GDHN nói chung và GDHN ở mầm non nói riêng, việc sử dụng
các thang công cụ đánh giá nêu trên còn chưa được phổ biến do hạn chế về
nhân lực chuẩn đoán, kĩ năng đánh giá, do đó cần thiết phải có thang công cụ
đánh giá ban đầu đơn giản, để tiến hành cho giáo viên dạy các lớp hòa nhập.
Vì vậy, người nghiên cứu giới thiệu các tiêu chí chuẩn đoán theo DSM. Ưu
16


điểm của công cụ này đó là mọi giáo viên đề có thể sử dụng được hơn nữa
cũng có thể đưa ra những định hướng ban đầu thông qua các biểu hiện đầu
tiên mà trẻ mắc phải để sàng lọc kịp thời các trẻ có triệu chứng RLPTK ở mức
độ khác nhau.
DSM-V chính thức phát hành 5/2013 với một số thay đổi trong quan
điểm về TTK nhằm đáp ứng nhu cầu nghiên cứu và thực tiễn về RLPTK ở
trẻ em. Theo DSM-V, một trẻ được chuẩn đoán RLPTK khi đủ các tiêu chí:
A, B, C, D.
A. Khiếm khuyết trầm trọng về giao tiếp xã hội và tương tác xã hội trong
nhiều hoàn cảnh, không được giải thích bởi sự trì hoãn phát triển thong
thường, và biểu hiện ở cả ba dấu hiệu sau: 1. khiếm khuyết về sự trao đổi cảm
xúc-xã hội, ranh giới từ cách tiếp cận xã hội không bình thường và thiếu khả
năng thực hiện hội thoại thong thường do giảm sự chia sẻ, quan tâm , cảm xúc
và phản ứng tới sự thiếu hụt hoàn toàn về khả năng bắt chước tương tác xã
hội. 2. khiếm khuyết về hành vi giao tiếp không lời được sử dụng trong tương
tác xã hội, ranh giới sự tự hạn chế về khả năng phối hợp giao tiếp có lời và
không lời do sự khác thường trong tương tác mắt và ngôn ngữ cơ thể, hoặc
thiếu hụt trong việc hiểu và sử dụng giao tiếp không lời, tới thiếu hụt hẫng
hoàn toàn về thể hiện nét mặt và cử chỉ.3. Khiếm khuyết về khả năng phát
triển và duy trì quan hệ phù hợp với mức dộ phát triển ngoại trừ ngườ chăm

nguyên nhân cơ bản dẫn đến hội chứng này ở trẻ. Một trong những minh
chứng là cơ sở cho các nhà khoa học thiên nhiều về nguyên nhân này là kết
quả được thể hiện trên các cặp song sinh cùng trứng. Kết quả đã chỉ ra rằng có
đến 90 – 95 % trường hợp những trẻ ó những gen giống nhau (trẻ sinh đôi) sẽ
cùng mắc TK. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên những trẻ sinh đôi nhưng khác
trứng thì tỉ lệ chỉ là 5 - 10 %.
Theo cuốn “Cẩm nang dành cho cha mẹ trẻ có rối loạn tự kỉ” (Keys to
parenting the child with autism) thì có tới 33% số trẻ có rối loạn tự kỉ bị rối
loạn hệ thần kinh trung ương. Cũng theo cuốn sách này, một cuộc điều tra cho
thấy tiểu não của trẻ nhỏ một cách bất thường. Tuy nhiên nguyên nhân này

18


còn gây nhiều tranh cãi, thực tế cho thấy nhiều trẻ tự kỉ bộc lộ khả năng trí tuệ
hơn mức bình thường: tính toán, âm nhạc, hội họa…
- Nguyên nhân do yếu tố môi trường .
Môi trường trước khi sinh: Sự căng thẳng trước khi sinh bao gồm tác
nhân từ sự kiện sống gây đau buồn của bà mẹ là một giả thuyết cho nguyên
nhân hội chứng tự kỷ, có thể là một phần của sự ảnh hưởng qua lại giữa gen –
môi trường. Các nghiên cứu cho thấy sự căng thẳng của người mẹ trước sinh
có thể làm rối loạn sự phát trển của não gây ra tự kỷ.
Sự nhiễm trùng virus trước khi sinh là một nguyên nhân gây tự kỷ
không xuất phát từ gen. Tác hại của bệnh sởi Đức và vi rút kích hoạt sự
phản ứng của người mẹ và tăng rủi ro cho tự kỷ, bà mẹ mang thai khi độ tuổi
trên 35 tuổi luôn được cảnh báo về nguy cơ sinh ra các trẻ có rối loạn về thần
kinh, trong đó không loại trừ tự kỉ.
Do môi trường sống của tre: những nhà nghiên cứu theo nhóm nguyên
nhân này giải thích việc trẻ mắc TK có liên quan tới môi trường sống ở gia
đình. Môi trường gia đình lãnh đạm, thiếu thân thiện, có ít kích thích lên sự

cơ thể. Tuỳ theo mức độ chất độc trong máu mà các bé bị tổn hại ở nhiều mức
độ khác nhau
Ngoài ra, các nguyên nhân khác như mất cân bằng sinh hóa trong cơ thể,
thiếu các vitamin…làm ảnh hưởng xấu tới sự phát triển của não bộ. Do ô
nhiễm môi trường (không khí, hóa chất, nguồn nước, thực phẩm không an
toàn), bà mẹ mang thai trên 35 tuổi, nhiễm vi- rut… Tuy nhiên các nguyên
nhân này vẫn chưa được các nhà khoa học công nhận rộng rãi và cần nhiều
thời gian để kiểm chứng.
1.2.4 Can thiệp và trị liệu RLPTK
Hiện nay, việc chữa trị cho trẻ RLPTK đã trở nên rất phổ biến như trị
liệu hành vi, trị liệu ngôn ngữ và trị liệu cảm giác là những phương pháp được
quan tâm hơn cả. Các phương pháp dưới đây đều có tác dụng với một số mặt
về hành vi, giao tiếp, tương tác xã hội ở các hình thức khác nhau.

20


- Trị liệu hành vi: Hành vi của trẻ RLPTK có sự cứng nhắc, rập khuôn,
định hình (không thay đổi), chúng rất dễ nổi cơn giận dữ khó dập tắt nếu như
người lớn can thiệp hoặc thay đổi các thói quen của chúng. Phụ huynh, giáo
viên, nhà trị liệu sẽ sử dụng các kĩ thuật quản lí hành vi, tăng dần các hành vi
mong muốn và giảm dần các hành vi không mong muốn ở trẻ. Điển hình như
phương pháp ABA (phương pháp phân tích hành vi ứng dụng) thông qua
luyện tập, sử dụng phần thưởng để khích lệ hành vi tốt, hạn chế hành vi có
vấn đề.
- Trị liệu ngôn ngữ: Có các phương pháp như TEACCH, nhằm giúp trẻ
hiểu được những gì trẻ đang làm và tăng động lực cho trẻ. Ngoài ra, sử dụng
hệ thống giao tiếp bằng tranh ảnh hay biểu tượng (PECS), phương pháp
những câu chuyện xã hội (CCXH), phương pháp RDI (can thiệp phát triển
quan hệ xã hội)…đã kích thích trẻ tương tác lại bằng lời nói, hành vi với

điểm hội chứng RLPTK của trẻ thông qua kế hoạch giáo dục chuyên biệt, các
giáo viên dạy trẻ khuyết tật có chuyên môn sâu, cơ sở vật chất đảm bảo các
phương tiện đồ dùng phù hợp với trẻ. Tuy nhiên, mô hình này hạn chế tương
tác của trẻ với các trẻ bình thường khác, điều này tạo ra sự cô lập giữa thế giới
của những TTK và trẻ bình thường, trẻ không được hòa nhập một cách tích
cựu nhất
Mô hình giáo dục hội nhập
Giáo dục hội nhập trẻ RLPTK là phương thức giáo dục trẻ RLPTK trong
lớp chuyên biệt được đặt trong các trường phổ thông bình thường. Trong quá
trình giáo dục, trẻ RLPTK nào có đủ điều kiện sẽ được học chung một số môn
hoặc tham gia một số hoạt động cùng trẻ bình thường.
Ưu điểm của mô hình giáo dục hội nhập là trẻ RLPTK tham gia vào mô
hình giáo dục hội nhập với các trẻ bình thường khác vừa được hỗ trợ cá nhân
một cách thường xuyên, TTK được tham gia một cách tích cực và bình đẳng
vào các hoạt động giáo dục chung của trẻ MN. Hạn chế của mô hình giáo dục
hội nhập là trẻ RLPTK chưa thực sự hoà nhập với trẻ khác trong mọi hoạt
động, việc học tập của trẻ RLPTK trong các lớp chuyên biệt theo một chương
trình riêng không giống với chương trình chung nên các em cũng gặp nhiều
22


khó khăn trong quá trình “hoà nhập” và có nhiều khoảng cách giữa các trẻ với
nhau.
Mô hình giáo dục hòa nhập
Là phương thức giáo dục mọi trẻ trong đó trẻ RLPTK được học cùng trẻ
bình thường khác trong trường. Đây là môi trường học tập và sinh hoạt lí
tưởng giúp trẻ tự kỉ hòa nhập cùng với cộng đồng nhanh hơn thông qua tương
tác với các bạn bình thường khác, TTK được coi như những đứa trẻ khác với
tphương pháp dạy học tác động riêng và chung theo nội dung giáo dục mầm
non và giáo dục hòa nhập.

+ Hoạt động chung cùng nhau
+ Hoạt động tiếp nối cùng nhau
+ Hoạt động tương hỗ cùng nhau
- Tương tác gián tiếp (qua các phương tiện thông tin đại chúng, internet, kí
hiệu…)
Đối với trẻ RKPTK, tương tác xã hội diễn ra chủ yếu giữa trẻ – người
thân trong gia đình, trẻ với cô giáo, trẻ với các bạn, trẻ với đồ dùng, đồ chơi.
Giao tiếp xã hội
Giao tiếp xã hội là một mặt của tương tác xã hội. Giao tiếp xã hội gồm
các biểu hiện rất đa dạng và phong phú, có thể thực hiện thông qua ngôn ngữ
nói và viết, qua nét mặt, cử chỉ, tư thế, giọng nói, trang phục, cách sử dụng
không gian giao tiếp. Đó là một hệ thống toàn vẹn, không có sự tách rời giữa
biểu hiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong giao tiếp. Như vậy, giao tiếp là một
mặt quan trọng của TTXH, quá trình phát triển tương tác xã hội cũng đồng
thời song song với phát triển và củng cố giao tiếp xã hội của trẻ.
Chức năng của tương tác xã hội:
- TTXH là nhu cầu đặc trưng của con người, là điều kiện đảm bảo cuộc
sống tâm lý bình thường của mỗi người. TTXH giúp con người phát triển
quan hệ với người khác, tạo thuận lợi trong cuộc sống, phát triển nhân cách, là
điều kiện để con người hội nhập với thời đại.

24


- TTXH giúp con người định hướng bản thân, đánh giá và điều chỉnh
hành vi của mình sao cho phù hợp với hoàn cảnh. Giúp con người nhận thức
được mọi thứ trong xã hội, tạo ra sự liên kết giữa mọi người, duy trì và phát
triển các mối quan hệ, đồng thời nâng cao tính xúc cảm, cảm xúc, tính thầm
mỹ trong mỗi chúng ta.
- TTXH là kĩ năng quan trọng trong cuộc sống tuy nhiên lại hạn chế rất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status