ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------------------
NGUYỄN THỊ NGỌC HUÊ
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
CANH TÁC CÂY DONG RIỀNG ĐỎ
TẠI THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
THÁI NGUYÊN - NĂM 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------------------
NGUYỄN THỊ NGỌC HUÊ
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT
CANH TÁC CÂY DONG RIỀNG ĐỎ
TẠI THÁI NGUYÊN
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60 62 01 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐÀO THANH VÂN
THÁI NGUYÊN - NĂM 2015
tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn:
1. Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
2. PGS.TS. Đào Thanh Vân - Giảng viên khoa Nông học.
3. Phòng Đào tạo, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
4. Bạn bè, đồng nghiệp và gia đình.
Do còn hạn chế về trình độ lý luận và kinh nghiệm thực tế nên không tránh
khỏi thiếu sót, tôi rất mong được sự giúp đỡ, góp ý kiến bổ sung của các thầy cô
giáo và các bạn đồng nghiệp để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Ngọc Huê
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .......................................................................................................3
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ ii
MỤC LỤC ................................................................................................................. iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU ...................................................................................... vi
DANH MỤC HÌNH VẼ ........................................................................................... vii
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ......................................................................... 2
2.1. Mục tiêu tổng quát ........................................................................................ 2
2.2. Mục tiêu cụ thể ............................................................................................. 2
3. Ý nghĩa của đề tài ............................................................................................ 3
3.1. Kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trong nhân giống cây dong riềng
đỏ tại Thái Nguyên ............................................................................................ 28
3.1.1. Ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian xử lý hạt trong nhân giống dong riềng
đỏ bằng hạt ................................................................................................................28
3.1.2. Ảnh hưởng của hóa chất và thời gian xử lý hạt trong nhân giống cây dong
riềng đỏ bằng hạt .......................................................................................................29
3.1.3. Ảnh hưởng của kích thước thân ngầm và xử lý thuốc bảo vệ thực vật trong
nhân giống cây dong riềng đỏ bằng thân ngầm ........................................................30
3.2. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây
dong riềng đỏ để làm dược liệu tại Thái Nguyên ................................................. 31
3.2.1. Ảnh hưởng của mật độ trồng cây dong riềng đỏ bằng hạt đến thời gian sinh
trưởng và năng suất dong riềng .................................................................................31
3.2.2. Ảnh hưởng của mật độ trồng cây dong riềng đỏ bằng chồi (mầm) đến thời
gian sinh trưởng và năng suất dong riềng .................................................................39
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .....................................................................................46
1. Kết luận......................................................................................................... 46
2. Đề nghị ......................................................................................................... 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................48
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CT
: Công thức
KLTB
: Khối lượng trung bình
của dong riềng trồng bằng chồi (mầm)................................................................ 40
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của mật độ đến số lá/cây, chiều dài, chiều rộng lá của dong
riềng trồng bằng chồi (mầm) .............................................................................. 42
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của mật độ đến năng suất thân lá và các yếu tố cấu thành
năng suất thân lá dong riềng đỏ .......................................................................... 44
Bảng 3.13. Ảnh hưởng của mật độ trồng bằng chồi đến khả năng chống đổ và sâu
bệnh của cây dong riềng đỏ ................................................................................ 43
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu của riêng tôi. Những số liệu trình bày
trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Các thông tin, tài liệu trích dẫn trình bày trong luận văn này đều được ghi rõ
nguồn gốc.
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Ngọc Huê
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo WHO, bệnh tim mạch đang là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở người
trên toàn thế giới và chiếm nhiều nhất ở các nước đang phát triển. Mỗi năm, người
chết do bệnh tim và đột quỵ nhiều hơn cả ung thư, lao, sốt rét và HIV cộng lại. Tại
phôi và Bộ môn dược lý của Đại học Y Hà nội [14].
Kết quả cho thấy các tiêu chí được khảo sát hoàn toàn phù hợp với nhận định
và kỳ vọng ban đầu: Đây là cây thuốc chữa bệnh mạch vành hiệu quả cao, an toàn
tuyệt đối. Qua sử dụng điều trị trên hàng nghìn người bệnh mạch vành chưa đặt
stent và đã đặt stent nhận thấy đây là cây thuốc mới chưa có trong dược điển nhưng
hiệu quả điều trị rất cao. Các nghiên cứu này đã được cấp quyền tác giả số
3764/2009/QTG và 948/2015/QTG.
Từ những thông tin trên cho thấy việc nghiên cứu xác định và phát triển
giống Dong riềng đỏ để làm thuốc chữa bệnh tim là một yêu cầu cấp bách hiện nay
và việc triển khai nghiên cứu cũng như các kết quả nghiên cứu thành mô hình nhân
rộng ở địa bàn các tỉnh miền núi là phù hợp không chỉ về mặt cơ sở khoa học mà
còn là định hướng phát triển của các địa phương trong chương trình xoá đói giảm
nghèo. Theo đó nhu cầu sử dụng nguyên liệu Dong riềng đỏ phục vụ cho sản xuất
thuốc và thực phẩm chức năng cho cả nước lên tới hàng trăm tấn/năm.
Trong chiến lược phát triển nông thôn miền núi, nhất là khu vực miền núi
phía Bắc, việc khai thác nguồn gen bản địa quý hiếm là một định hướng quan trọng
mà lâu nay chúng ta đã không chú ý đến. Vì vậy việc tìm tòi, chọn lọc, bồi dục các
giống dong riềng đỏ làm dược liệu cũng như khai thác sử dụng nó trong y học là
việc làm có ý nghĩa không chỉ đối với ngành y mà còn góp phần xoá đói giảm
nghèo và phát triển nông thôn miền núi. Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến
hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật canh tác cây Dong
riềng đỏ tại tỉnh Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu tổng quát
Xây dựng được một số biện pháp nhân giống và kỹ thuật canh tác thích hợp
để nâng cao năng suất cây Dong riềng đỏ.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Xác định được một số biện pháp kỹ thuật trong nhân giống cây dong riềng
đỏ tại Thái Nguyên.
- C. flaccida ở Nam Mỹ,
- C. edulis ở châu Mỹ nhiệt đới,
- C. Indica ở châu Mỹ nhiệt đới,
- C.libata ở Braxin,
- C.humilis ở Trung Quốc.
Ngày nay dong riềng được trồng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới có khí
hậu nhiệt đới và á nhiệt đới. Trong đó Nam Mỹ là trung tâm đa dạng di truyền
nguồn gen dong riềng, ngoài ra dong riềng được trồng nhiều ở các nước châu Á,
châu Phi, Châu Úc.
1.1.2. Phân loại
- Tên khoa học: Canna Edulis Ker
- Dong riềng thuộc họ chuối hoa Cannacea
- Bộ: Scitaminales
Số lượng nhiễm sắc thể là 9, có 2 dạng nhị bội 2n = 2X = 18 và tam bội 2n =
2X = 27.
1.1.3. Phân bố và các giống dong riềng
Trên thế giới dong riềng được trồng ở quy mô thương mại tại các nước vùng
nam Mỹ, châu Phi, và một số nước nam Thái Bình Dương. Tại châu Á, dong riềng
được trồng tại Thái Lan, Indonesia, Nam Trung Quốc, Úc và Đài Loan (Hermann,
M. et al. 2007) [24].
5
1.1.4. Đặc điểm thực vật học cây dong riềng
Thân: Thân của cây dong riềng gồm 2 loại là thân khí sinh và thân củ. Thân
khí sinh trung bình cao từ 1,2m đến 1,5m có những giống có thể cao trên 2,5m.
Thân cây màu đỏ. Thân gồm những lóng kéo dài, giữa các lóng là các đốt; Thân khí
sinh được tính từ đốt tiếp phần củ. Giải phẫu thân khí sinh cho thấy bên ngoài thân
được cấu tạo bởi lớp biểu bì gồm những tế bào dẹt, dưới biểu bì có những bó cương
triển theo chiều ngang nên rễ chỉ ăn sâu vào đất khoảng 20 - 30cm.
Hoa: Hoa dong riềng xếp thành cụm, cụm hoa dạng chùm, Hoa mọc ở ngọn
cây. Cây thường mang ít hoa lưỡng tính, không đều. Cụm hoa được bao bởi một mo
chung như hoa chuối. Chùm hoa thiết diện hình tam giác, có từ 6 – 8 đốt, mỗi đốt
có 2 hoa, đốt dưới cùng và trên cùng có 1 hoa.
Cấu tạo hoa gồm có 3 lá đài hình cánh rời nhau, 3 cánh hoa dài thon cuộn
theo chiều dài. Hoa có 5 nhị đực, ngoài có 3 nhị thì 2 nhị biến thành bản hình cánh
hoa, 1 nhị biến thành cánh môi cuộn lại phía trước. Vòng trong có 2 nhị, trong đó 1
nhị thì chỉ còn vết, nhị kia thì một nửa cánh mang 1 bao phấn, nửa còn lại cũng biến
thành hình cánh. Tất cả các nhị đều có màu sắc sặc sỡ, màu cánh biến động từ màu
đỏ tươi đến màu vàng điểm đỏ. Bầu hoa có 3 ô, mỗi ô có từ 6 – 8 noãn, phía trên
bầu có tuyến tiết mùi. Thời gian từ nụ đến nở hoa từ 3 – 5 ngày, hoa nở theo thứ tự
từ thấp đến cao, từ trong ra ngoài; Hoa nở vào buổi sáng, mỗi hoa nở từ 1 - 2 ngày.
Quả: Quả của cây dong riềng thuộc dạng qủa nang, hình trứng ngược, kích
thước khoảng 3cm, trên quả nang có nhiều gai mềm.
Hạt: Hạt của cây dong riềng có màu đen, hình tròn đường kính 3,5 - 5 mm.
Khối lượng 1000 hạt khoảng 12 - 13g.
1.1.5. Yêu cầu sinh thái của cây dong riềng
Yêu cầu về nhiệt độ: Cây dong riềng thích hợp từ 25 - 30oC, điều kiện ấm áp
dong riềng sinh trưởng phát triển khỏe hơn, tốc độ đồng hóa cao và đẩy nhanh quá
trình hình thành thân củ, thời tiết hanh và hơi lạnh đẩy nhanh quá trình vận chuyển
tinh bột từ thân lá xuống củ và dong riềng chịu lạnh khá nên có khả năng trồng ở độ
cao trên 2.500m so với mặt nước biển.
Yêu cầu ánh sáng: Dong riềng không cần nhiều ánh sáng, nên có thể trồng dưới
tán cây ăn quả, cây sinh trưởng bình thường nơi cớm nắng. Ngày dài có ảnh hưởng lớn
đến việc hình thành củ. Điều kiện ngày ngắn, cường độ ánh sáng mạnh thúc đẩy sự
hình thành phát triển củ, trong khi ngày dài lại thúc đẩy sự phát triển thân lá.
7
8
vì nó có những đặc điểm quí như chịu bóng râm, trồng được những nơi khó khăn
như thiếu nước, thời tiết lạnh. Củ dong riềng có nhiều công dụng: Luộc để ăn, làm
bột, nấu rượu. Bột dong riềng dễ tiêu hoá nên có thể làm nguồn thức ăn rất tốt cho
trẻ nhỏ và người ốm. Bột dong riềng có thể dùng làm hạt trân châu, miến, bánh đa,
bánh mì, bánh bao, mì sợi, kẹo và thức ăn chăn nuôi. Đối với miền núi, những nơi
kinh tế còn khó khăn, dong riềng cũng là cây có thể đảm bảo an ninh lương thực.
Trong thân cây dong riềng có sợi màu trắng, có thể được sử dụng để chế biến thành
sợi dệt thành các loại bao bì nhỏ. Củ dong riềng có thể dùng làm thức ăn chăn nuôi,
tuy nhiên cả củ, thân, lá đều dùng được vào mục đích này.
Những vùng có truyền thống trồng dong riềng chế biến thành bột thì bã có
thể dùng để nấu rượu, nấu rượu xong có thể dùng bã rượu (hèm) phục vụ chăn nuôi.
Bã thải của chế biến tinh bột cũng có thể ủ làm phân bón cho cây trồng và làm giá
thể trồng nấm ăn. Ngoài ra, hoa dong riềng có màu sắc sặc sỡ , bộ lá đẹp nên cũng
có thể sử dụng dong riềng làm cây cảnh trong vườn nhà.
Ở Ecuador, dong riềng được trồng trên đất cát pha, ở độ cao 2.340m trên mực
nước biển, trong điều kiện nhiệt độ bình quân 15-170 C. Trong 6 tháng đầu người ta
trồng xen với khoai tây, sau 12 tháng thu hoạch cho năng suất củ trung bình 56
tấn/ha, chỉ số thu hoạch 56+8%.
Nghiên cứu đánh giá 26 mẫu giống dong riềng từ ngân hàng gen dong riềng
quốc tế của CIP tại Ecuador, trong nhà lưới ở độ cao 2400m, biên độ 12-27oC với
mật độ 2cây/m2, trên nền đất cát pha, không bón phân, Hermann và CS đã thu được
kết quả rất thú vị. Năng suất củ tươi đạt từ 17-96 tấn/ha, hàm lượng tinh bột trong củ
tươi đạt 4-22% và đạt 12-31% qui về chất khô, hàm lượng đường hòa tan trong củ
tươi là 5-11 độ Brix [24].
Nghiên cứu hệ số tương quan giữa các chỉ tiêu kinh tế cho thấy có sự tương
quan thuận cao giữa hàm lượng chất khô của củ với hàm lượng đường hòa tan và
10
chiếm 86%) do đó dong riềng chịu hạn tốt hơn lúa, khoai lang và sắn. Dong riềng
có sức sống rất mạnh, có khả năng thích nghi cao với điều kiện ngoại cảnh, có sức
chống đỡ tốt với sâu bệnh. Cây không có nhu cầu nhiều về ánh sáng nên có thể sinh
trưởng bình thường nơi cớm nắng. Cây dong riềng có khả năng chống chịu tốt nhiệt
độ thấp, có thể trồng ở những nơi mà khoai lang, sắn không trồng được. Hơn nữa,
dong riềng còn là cây trồng dễ tính, yêu cầu đất không nghiêm khắc nên có thể
trồng trên nhiều loại đất khác nhau như: đồi, sườn núi dốc trên 150, vườn nhà và bãi
cao ven sông vẫn cho năng suất củ cao. Nếu trồng ở nơi đất tốt, một khóm có thể
thu được 15 - 20kg. Trồng trên diện tích lớn dong riềng có thể cho năng suất đạt tới
45 - 60tấn củ/ha nếu thâm canh. Với những đặc điểm này, dong riềng đã trở thành
một loại mặt hàng có nhiều triển vọng phát triển ở vùng miền núi nước ta, có thể
phát triển cây dong riềng trên một phạm vi rộng lớn ở nhiều vùng để tăng nguồn vật
liệu cho sản xuất ngành hàng miến, tinh bột và các sản phẩm khác (Nguyễn Ngọc
Huệ, Đinh Thế Lộc, 2005) [7].
Dong riềng có nhiều đặc tính sinh học quý như kích thước hạt tinh bột lớn
nhất trong nhóm cây có củ, tới 150 micron (tinh bột sắn là 35 micron). Điều này
giúp cho việc tách chiết tinh bột dong riềng dễ dàng hơn so với một số cây có củ
khác. Hàm lượng amiloza trong tinh bột dong riềng cao đạt từ 38% - 41%, gần bằng
hàm lượng amiloza trong tinh bột đậu đỗ (46 - 54%) (Lê Ngọc Tú và cs., 1994)
[20]. Điều này làm cho sợi miến dong riềng dai và giòn tương tự miến đỗ xanh,
trong khi giá thành miến dong chỉ bằng một nửa so với miến đậu xanh. Đây là lợi
thế canh tranh của miến dong so với miến đậu xanh. Dong riềng chế biến thành bột
lãi gấp 2 - 3 lần trồng lúa trong điều kiện khó khăn [13].
Dong riềng đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong việc xoá đói, giảm
nghèo, giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn miền núi. Trong những
năm qua, sản xuất dong riềng và các sản phẩm chế biến đã thu hút nhiều ngày công
phương và nhập nội từ CIP, tuy nhiên vẫn chưa khai thác hiệu quả tài nguyên này
do điều kiện kinh phí hạn hẹp chỉ đủ cho hoạt động bảo quản lưu giữ và đánh giá
ban đầu (Nguyễn Thị Ngọc Huệ và Cs, 2006) [8].
Hiện nay, tại khu vực miền núi phía Bắc đang có một số giống dong riềng,
phổ biến là giống DR1, DR3, DR70, V-CIP, VC... đều cho năng suất củ tươi đạt
xung quanh 50tấn/ha. Ngoài ra cũng còn một số giống bản địa nhưng năng suất thấp
(Nguyễn Đức Hưng, 2012) [10].
12
Kết quả nghiên cứu của Đỗ Thị Minh Hoa (2013) khi Nghiên cứu ảnh hưởng
của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng và năng suất của cây dong riềng tại
huyện Ba Bể, Tỉnh Bắc Kạn, cho kết luận mức bón phân đạm là 110kgN, tương
đương với 260kg urê/1ha, dong riềng sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất và
hiệu quả kinh tế cao nhất [4].
Về kỹ thuật trồng dong riềng đạt năng suất cao, Sở Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn tỉnh Bắc Kạn khuyến cáo: Thời vụ trồng dong riềng từ tháng 1 đến
tháng 3 dương lịch, tốt nhất là tháng 2. Mật độ từ 1,6 – 2,5 vạn cây, hàng cách hàng
0,8 – 1 m, cây cách cây 0,5 – 0,6 m. Phân bón: 15 – 25 tấn phân hữu cơ + 200 – 400
kg đạm + 500 – 650 kg lân + 200 kg kali. Phân hữu cơ và lân bón 1 lần trước khi
trồng, phân đạm bón 3 lần (trước trồng, sau trồng 1 và 4 – 5 tháng), kali bón 2 lần (sau
trồng 1 và 4 – 5 tháng). Làm cỏ và vun gốc 3 lần (sau mọc 1, 2 và 4 – 5 tháng). Thu
hoạch sau trồng 10- 11 tháng, nếu thu sớm củ non giảm năng suất và hàm lượng tinh
bột, nếu thu muộn cây có thể ra mầm mới làm giảm hàm lượng tinh bột [17].
Theo Nguyễn Thiếu Hùng (2012) [9], dong riềng có thể trồng quanh năm trừ
những tháng quá nóng hoặc quá rét, nhưng thích hợp nhất là từ tháng 2 đến tháng 5.
Dong riềng có thể trồng trên rất nhiều loại đất, từ đất bạc màu, đất đồi núi, đất
mặn… nhưng tốt nhất là đất xốp, nhiều mùn. Nếu trồng dong riềng trên đất đồi núi,
đất đá, bãi thoát nước thì không cần phải làm đất mà sau khi dọn cỏ, bổ hốc đường
tích lũy thành kinh nghiệm sử dụng làm thuốc và được truyền tụng từ đời này qua
đời khác. Cùng với sự tiến hóa và phát triển của xã hội, kho tàng kiến thức về cây
thuốc của nhân loại ngày càng trở nên phong phú.
Năm 2838 TCN, Thần Nông đã biên soạn cuốn sách “Thần nông bản thảo”.
Cuốn sách có ghi chép về 364 vị thuốc và cách sử dụng. Đây là cuốn sách nền tảng
cho sự phát triển của nghành y học dược thảo Trung Quốc cho đến ngày nay.
Năm 1595, Lý Thời Trân đã tổng kết tất cả các kinh nghiệm về cây thuốc, kinh
nghiệm sử dụng và soạn ra cuốn “Bản thảo cương mục”. Đây là cuốn sách vĩ đại nhất
của Trung Quốc về lĩnh vực dược liệu, mô tả 1094 cây thuốc và vị thuốc từ cây cỏ.
Năm 348 – 322 TCN , Aristote người Hy Lạp đã có những ghi chép về cây
cỏ của Hy Lạp. Sau đó năm 340 Theophrate với tác phẩm “Lịch sử vạn vật” đã giới
thiệu gần 480 loài cây cỏ và công dụng của chúng. Tuy tác phẩm chỉ mới dừng lại ở
mô tả các đặc điểm của cây cỏ, nhưng nó đã đặt nền tảng cho các khoa học nghiên
cứu về thực vật sau này.
14
Năm 60 – 20 TCN, thầy thuốc Dioscorides người Hy Lạp đã mô tả 600 loài cây
cỏ chủ yếu để chữa bệnh, ông cũng là người đặt nền móng cho y dược học Hy Lạp.
Năm 79 – 24 TCN, nhà tự nhiên học Plinus người La Mã đã soạn thảo bộ
sách “ Vạn vật học” gồm 37 tập, giới thiệu gần 1000 loài thực vật có ích.
Năm 1952, A.Petelot đã soạn thảo cuốn sách “Les plantes de médicinales du
Cambodye, du Laos et du Vietnam” gồm 4 tập đã giới thiệu về các loại cây thuốc và
sản phẩm làm thuốc ở Đông Dương.
Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1985, trong tổng số
khoảng 250.000 loài thực vật bậc thấp cũng như bậc cao đã biết, khoảng 20.000 loài
được sử dụng làm thuốc ở mức độ khác nhau. Trong đó, Ấn Độ được biết trên 6000
loài; Trung Quốc trên 5000 loài; riêng về thực vật có hoa ở một vài nước Đông
Nam Á đã có tới 2000 loài là cây thuốc.
Nguyễn Nghĩa Thìn, số lượng thực vật bậc cao có mạch đã thống kê được ở nước ta
khoảng 10.500 loài, dự đoán khoảng 12.000 loài. Trong đó các loài cây được sử
dụng làm thuốc khoảng trên 3900 loài thuộc 307 họ thực vật
1.3.2.2. Cây thuốc trong y học cổ truyền
Nền y học cổ truyền Việt Nam có lịch sử phát triển từ rất lâu đời. Cộng đồng
các dân tộc Việt Nam có nhiều kinh nghiệm độc đáo trong việc sử dụng các loài cây
cỏ để làm thuốc. Từ xa xưa, ông cha ta đã biết sử dụng các loài cây thuốc sẵn có
trong tự nhiên với các phương pháp bào chế khác nhau để sử dụng chữa bệnh cho
mọi người. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, từ thế hệ trước truyền cho thế hệ sau
đã đúc kết được các kinh nghiệm từ thực tiễn lâm sàng, xây dựng nên lý luận về các
phương pháp phòng và chữa bệnh. Đồng thời còn dựa vào hệ thống Triết học
phương Đông, vận dụng vào y học để chữa bệnh phù hợp với điều kiện và hoàn
cảnh của con người Việt Nam.
Từ thời Hồng Bàng và các Vua Hùng (2879 – 257 TCN), người dân đã có
tục ăn trầu và nhuộm răng đen với mục đích bảo vệ răng, làm chắc răng. Việc sử
dụng gừng, tỏi, ớt, sả làm gia vị trong các bữa ăn hàng ngày giúp tiêu hóa tốt, phòng
trừ các bệnh đường ruột.
Cuối thế kỷ III TCN, ở Nam Việt giao chỉ đã phát hiện và sử dụng các loại
cây thuốc để chữa bệnh như sắn dây, gừng, riềng, đậu khấu, ích trí, lá lốt, sả, quế,
vông nem….
16
Dưới các thời phong kiến, các ty Thái y, viện Thái y đã hình thành để chữa
bệnh cho vua, quan và nhân dân. Dưới triều Trần, danh y Tuệ Tĩnh (Nguyễn Bá
Tĩnh) đã nói “Nam dược trị Nam nhân”, ông cũng đề xuất việc trồng cây thuốc và
chữa bệnh trong nhân dân. Ông đã biên soạn cuốn sách “Nam dược thần hiệu”, mô
tả 499 vị thuốc và các phương thuốc để chữa 184 bệnh. Năm 1717, “Nam dược thần
hiệu” đổi tên thành “Hồng nghĩa giác lĩnh tư y thư” gồm 590 vị thuốc.