1
Học Viện Tài Chính
Luận Văn Tốt Nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn
vị thực tập.
Tác giả luận văn:
SV: Trương Thị Dịu
Lớp CQ 48/02.01
2
Học Viện Tài Chính
Luận Văn Tốt Nghiệp
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1.Thu nhập cá nhân: TNCN
2.Người nộp thuế: NNT
3.Thu nhập chịu thuế: TNCT
4.Gía trị gia tăng: GTGT
5.Ngân sách nhà nước: NSNN
6.Mã số thuế: MST
7.Quyết toán thuế: QTT
mạnh mẽ, hệ thống thuế đã và đang được sửa đổi, bổ sung ngày càng hoàn thiện,
phù hợp với sự phát triển của đất nước. Trong mọi thời kì thuế nói chung và thuế
TNCN nói riêng được sử dụng như một công cụ kinh tế hữu hiệu của nhà nước
để điều tiết các hoạt động kinh tế và có vai trò quan trọng trong việc phân phối
lại thu nhập và đảm bảo công bằng xã hội. Thuế TNCN ra đời rất lâu trong lịch
sử thuế khóa và đến nay đã trở thành một loại thuế cơ bản, giữ vai trò trung tâm
trong hệ thống thuế của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển.
Đặc biệt kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức WTO, với
tiến trình hội nhập sâu dẫn đến việc xóa bỏ hàng rào thuế quan đối với các hàng
nhập khẩu của các nước trong WTO đã làm giảm một lượng thuế nhập khẩu rất
lớn. Để bù đắp sự thiếu hụt đó thì chính phủ cần khai thác nguồn thu từ thuế trực
thu. Tuy nhiên, do chính sách khuyến khích sản xuất kinh doanh của nhà nước
trong thời kì kinh tế hiện nay thì thuế suất thuế TNDN cũng đang giảm dần
tương ứng với mức thuế suất của các nước trong khu vực. Vì vậy mà thuế thu
nhập ngày càng trở thành nguồn thu quan trọng của NSNN được kể đến đó là
thuế TNCN, một sắc thuế điều tiết trực tiếp trên thu nhập của từng cá nhân.
Ở nước ta hiện nay, công tác quản lí thuế nói chung và thuế TNCN nói
riêng vẫn còn những hạn chế nhất định, vì vậy các cơ quan chức năng có thẩm
quyền phải có những biện pháp để nhanh chóng khắc phục một cách có triệt để
nhất những hạn chế này. Trong sắc thuế TNCN thì thuế TNCN từ CNBĐS là
SV: Trương Thị Dịu
Lớp CQ 48/02.01
5
Học Viện Tài Chính
Luận Văn Tốt Nghiệp
6
Học Viện Tài Chính
Luận Văn Tốt Nghiệp
3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề án là thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất
động sản trên địa bàn quận Long Biên
4. Phương pháp nghiên cứu
Những phương pháp sử dụng trong đề tài là: Tiếp cận lí thuyết chung về thuế thu
nhập từ chuyển nhượng bất động sản thông qua các Luật thuế, Nghị định và
Thông tư hướng dẫn của Quốc hội, Chính phủ và các Bộ, ban ngành.
Thống kê số liệu có chọn lọc từ các tài liệu và website về BĐS .
Đề tài có sử dụng các phương pháp như: Phương pháp hệ thống, phương pháp
logic, phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê.
5. Kết cấu của luận văn
Chương 1:Thuế TNCN và sự cần thiết phải tăng cường quản lí thuế TNCN từ
CNBĐS.
Chương 2: Thực trạng quản lí thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng
BĐS trên địa bàn quận Long Biên.
Chương 3: giải pháp tăng cường hoàn thiện quản lí thuế TNCN từ CNBĐS trên
địa bàn quận Long Biên.
Đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn cô giáo TS. Vương Thị Thu Hiền, giảng
viên chuyên nghành thuế Học Viện Tài Chính đã tận tình giúp đỡ em trong suốt
thời gian hoàn thành xong đề tài. Em xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG I: THUẾ TNCN VÀ SỰA CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG QUẢN LÍ THUẾ
TNCN
cao; được xác lập trên nền tảng các vấn đề kinh tế-xã hội của người làm nghĩa vụ
đóng thuế và tính không hoàn trả trực tiếp. Ngoài những đặc điểm chung đó,
thuế TNCN còn có một số đặc điểm riêng sau:
Một là, thuế TNCN là thuế trực thu do người chịu thuế cũng là người nộp thuế
chịu và khó có thể chuyển gánh nặng thuế sang cho chủ thể khác được.
Hai là, thuế TNCN là thuế có độ nhạy cảm cao vì nó liên quan trực tiếp đến lợi
ích cụ thể của người nộp thuế và liên quan đến hầu hết mọi cá nhân trong xã hội.
SV: Trương Thị Dịu
Lớp CQ 48/02.01
8
Học Viện Tài Chính
Luận Văn Tốt Nghiệp
Ba là, thuế TNCN thường mang tính lũy tiến cao vì nó được thiết lập theo
nguyên tắc khả năng trả thuế, thuế suất thường thiết kế theo biểu lũy tiến từng
phần nhằm đảm bảo tính công bằng giữa các đối tượng nộp thuế.
Bốn là, thuế TNCN không bóp méo giá cả hàng hóa, dịch vụ. Thuế TNCN không
cấu thành trong giá bán hàng (giá thanh toán) hàng hóa, dịch vụ nên nó không
tạo ra sự sai lệch giá cả hàng hóa, dịch vụ.
1.1.2 Nguyên tắc thiết lập thuế TNCN
Thuế TNCN được xây dựng dựa trên một số nguyên tắc cơ bản sau:
1.1.2.1 Đánh thuế dựa trên nguyên tắc cư trú
Thuế TNCN có thể được thiết lập dựa trên nguyên tắc “cư trú” hoặc “nguồn phát
sinh thu nhập”
Xác định rõ cơ sở đánh thuế theo tình trạng cư trú hay nguồn phát sinh thu nhập
và xã hội theo quan niệm và tập quán của từng nước. Phương pháp giảm trừ tiêu
chuẩn tuy không thật công bằng vì mức chi phí cần thiết bị cào bằng giữa các đối
tượng nộp thuế có hoàn cảnh khác nhau nhưng lại đảm bảo cho thuế TNCN dễ
tính toán, đơn giản hơn, trên cơ sở đó tiết kiệm chi phí hành thu và chi phí chấp
hành tuân thủ luật thuế.
1.1.2.3 Đánh thuế TNCN theo phương pháp lũy tiến
Với thuế TNCN thông thường người ta áp dụng biểu thuế suất lũy tiến.Về
nguyên tắc, có thể áp dụng biểu thuế suất thuế lũy tiến toàn phần hoặc lũy tiến
từng phần. Tuy nhiên áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần đảm bảo công bằng
hơn và không gây ra mâu thuẫn “ mức tăng của thuế lớn hơn mức tăng của căn
cứ tính thuế” tại điểm tiếp giáp giữa hai bậc thuế.
1.1.2.4 Sử dụng phương pháp khấu trừ tại nguồn và phương pháp kê khai trực
tiếp trong quản lí thu nộp.
SV: Trương Thị Dịu
Lớp CQ 48/02.01
10
Học Viện Tài Chính
Luận Văn Tốt Nghiệp
Thuế TNCN có thể thu theo hai phương pháp khấu trừ tại nguồn hoặc kê khai
trực tiếp.
Xu hướng hiện nay đối với các nước là sử dụng kết hợp cả hai phương pháp
thu nộp trên. Phương pháp khấu trừ tại nguồn được coi như là hình thức
tạm thu còn phương pháp kê khai trực tiếp được coi là hình thức quyết toán.
Việc kết hợp cả hai phương pháp như trên không những tạo khả năng kiểm
11
Học Viện Tài Chính
Luận Văn Tốt Nghiệp
Cá nhân có quyền sử dụng đất, khi chuyển nhượng BĐS theo quy định của
pháp luật đều phải nộp thuế TNCN. Cá nhân chuyển nhượng BĐS được chia
thành hai loại đó là:
Thứ nhất, cá nhân có quyền sử dụng đất, khi chuyển nhượng BĐS theo quy định
của pháp luật đều phải nộp thuế TNCN.
Thứ hai, cá nhân chuyển nhượng BĐS, được chuyển nhượng BĐS là đồng sở
hữu, cụ thể:
Cá nhân, hộ gia đình có thu nhập từ hoạt động CNBĐS là đối tượng phải nộp
thuế TNCN từ CNBĐS.
Thu Nhập từ chuyển nhượng BĐS là khoản thu nhập nhận được từ việc chuyển
-
nhượng BĐS bao gồm:
Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Tài
sản gắn liền với đất bao gồm:
Nhà ở, kết cấu hạ tầng và các công trình xây dựng gắn liền với đất, các tài sản
khác gắn liền với đất bao gồm các tài sản là sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp,
-
ngư nghiệp ( như cây trồng vật nuôi).
Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở.
Thu nhập từ chuyển quyền thuê đất, thuê mặt nước.
Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Tài
sản gắn liền với đất bao gồm: Nhà ở, kết cấu hạ tầng, và các công trình xây dựng
gắn liền với đất; các tài sản khác gắn liền với đất bao gồm các sản phẩm nông
-
nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp (như cây trồng, vật nuôi).
Thu nhập từ quyền chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở.
Thu nhập từ chuyển quyền thuê đất, thuê mặt nước.
Các khoản thu nhập khác nhận được từ chuyển nhượng bất động sản.
1.2.3 Thu nhập được miễn thuế
Hiện nay, thu nhập được miễn thuế TNCN từ CNBĐS bao gồm các loại
thu nhập sau:
+
Thu nhập từ chuyển nhượng BĐS giữa vợ chồng, giữa cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ,
cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; giữa mẹ chồng, cha chồng với con dâu; giữa bố
vợ, mẹ vợ với con rể; giữa ông nội, bà nội với cháu nội; giữa ông ngoại, bà ngoại
với cháu ngoại; giữa anh chị em ruột với nhau.
Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với
đất ở của cá nhân trong trường hợp người chuyển nhượng chỉ có duy nhất một
+
nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.
Thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân được nhà nước giao đất không
+
-
+
Thu nhập tính thuế
Đối với từng khoản thu nhập chịu thuế có các cách tính thu nhập tính thuế
khác nhau, cụ thể đó là:
Thu nhập tính thuế từ chuyển quyền sử dụng đất không có kết cấu hạ tầng, công
trình kiến trúc gắn liền với đất được xác định bằng giá chuyển nhượng quyền sử
+
dụng đất trừ đi giá vốn và các chi phí hợp lí liên quan.
Thu nhập tính thuế từ chuyển quyền sử dụng đất gắn liền với kết cấu hạ tầng
hoặc công trình xây dựng trên đất được xác định bằng giá chuyển nhượng trừ đi
+
giá vốn của bất động sản đó và các chi phí hợp lí có liên quan.
Thu nhập tính thuế từ chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng nhà ở được xác định
+
bằng giá bán trừ đi giá mua và các chi phí hợp lí có liên quan.
Thu nhập tính thuế từ chuyển nhượng quyền thuê mặt đất, mặt nước được xác
định bằng giá cho thuê lại trừ giá đi thuê và các chi phí có liên quan.
SV: Trương Thị Dịu
Lớp CQ 48/02.01
đúng.
Thuế suất 2%
Áp dụng đối với các trường hợp:
Chuyển nhượng BĐS không xác định được thu nhập tính thuế, nhận thừa kế, quà
tặng BĐS.
Người nộp thuế kê khai giá mua và chi phí liên quan nhưng không đầy đủ hóa
đơn, chứng từ không hợp pháp, hợp lệ.
Cách tính thuế
SV: Trương Thị Dịu
Lớp CQ 48/02.01
15
Học Viện Tài Chính
-
Luận Văn Tốt Nghiệp
Trường hợp xác định được thu nhập tính thuế, thuế thu nhập cá nhân đối với thu
nhập từ chuyển nhượng BĐS được xác định như sau:
Thuế thu nhập cá nhân
phải nộp
-
=
Thu nhập
Luận Văn Tốt Nghiệp
1.2.6 Kỳ tính thuế, khai thuế
Cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản thực hiện khai thuế
theo từng lần phát sinh thu nhập đối với cả cá nhân cư trú và cá nhân không cư
trú kể cả trường hợp thuộc đối tượng được miễn thuế. Khai thuế đối với một số
trường hợp cụ thể như sau:
+
Trường hợp cá nhân có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà nhưng đem thế
chấp, bảo lãnh vay vốn hoặc thanh toán tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài; đến hết thời hạn trả nợ, cá nhân không có khả năng trả nợ thì tổ
chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài làm thủ tục phát mại, bán bất
động sản đó đồng thời thực hiện khai thuế, nộp thuế thu nhập cá nhân thay cho
cá nhân trước khi thực hiện thanh quyết toán các khoản nợ của cá nhân.
+
Trường hợp cá nhân có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
nhưng đem thế chấp để vay vốn hoặc thanh toán với các tổ chức, cá nhân
khác, nay thực hiện chuyển nhượng toàn bộ (hoặc một phần) bất động sản
đó để thanh toán nợ thì cá nhân có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
phải khai thuế, nộp thuế thu nhập cá nhân hoặc tổ chức, cá nhân làm thủ
tục chuyển nhượng thay phải kê khai thuế, nộp thuế thu nhập cá nhân thay
cho cá nhân trước khi thanh quyết toán các khoản nợ.
+
Trường hợp bất động sản do cá nhân chuyển nhượng cho tổ chức, cá nhân khác
theo quyết định thi hành của tòa án thì cá nhân chuyển nhượng phải khai, nộp
+
phải thể hiện đúng người nộp thuế là cá nhân chuyển nhượng bất động sản.
Cơ quan quản lí bất động sản chỉ làm thủ tục chuyển quyền sở hữu, quyền sử
dụng với cơ quan thuế về khoản thu nhập từ việc chuyển nhượng bất động sản
thuộc đối tượng được miễn thuế hoặc tạm thời chưa thu thuế.
Hồ sơ khai thuế chuyển nhượng BĐS bao gồm:
Tờ khai thuế TNCN áp dụng đối với cá nhân CNBĐS theo mẫu số 11/ KKTNCN ban hành kèm theo Thông tư số 62/2008/TT-BTC ngày 27/3/2009 của Bộ
Tài Chính.
Bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy tờ chứng minh quyền sở hữu
nhà hoặc quyền sở hữu các công trình trên đất.
Hợp đồng chuyển nhượng BĐS.
Trường hợp cá nhân đề nghị được áp dụng tính thuế theo thuế suất 25% trên thu
nhập từ chuyển nhượng BĐS thì phải xuất trình thêm các chứng từ hợp lệ làm
căn cứ chứng minh.
Các trường hợp chuyển nhượng BĐS thuộc diện được miễn thuế TNCN phải
kèm theo các giấy tờ làm căn cứ xác định thuộc đối tượng được miễn thuế tương
SV: Trương Thị Dịu
Lớp CQ 48/02.01
18
Học Viện Tài Chính
Luận Văn Tốt Nghiệp
ứng với từng trường hợp theo hướng dẫn tại Thông Tư 84/2008/TT-BTC ngày
Luận Văn Tốt Nghiệp
sẽ phải cân nhắc hơn khi đưa ra quyết định có mua bán BĐS hay không và sẽ
ảnh hưởng đến thị trường bất động sản.
1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng
1.3.2.1 Nhân tố chủ quan
Nhân tố chủ quan là các yếu tố thuộc nội bộ cơ quan thuế có tác động ảnh
hưởng đến quản lí thuế TNCN nói chung và thuế TNCN từ CNBĐS nói riêng,
chẳng hạn như:
Tổ chức bộ máy quản lí thuế:Để một tổ chức hoạt động tốt, tổ chức đó
phải đáp ứng được các yêu cầu như tinh gọn, hoạt động đúng chức năng, có hiệu
quả. Một tổ chức, bộ máy cồng kềnh, có nhiều hạn chế yếu kém trong công tác
quản lí tất yếu sẽ đẫn đến nội dung quản lí không có hiệu quả, nếu có hiệu quả đi
nữa cũng gây tốn kém nhiều thời gian và chi phí.
Nhân tố con người: Nhân tố con người đóng vai trò chủ đạo vào việc tác
động vào t ất cả các nội dung của công tác quản lí, nếu như tổ chức bộ máy quản
lí tốt nhưng nhân tố con người mà không đảm bảo thì không thể nào vận hành
một cách trôi chảy như mong muốn, kế hoạch đã đặt ra được.
Cơ sở vật chất ngành thuế: Cơ sở vật chất của ngành có ảnh hưởng rất lớn
đến công tác quản lí thuế nói chung và công tác quản lí thuế TNCN nói
riêng.Với việc thực hiện quản lí kê khai hàng tháng, hàng quý và quyết toán
hàng năm thì số lượng thông tin theo dõi để quản lí là rất lớn.Việc đáp ứng các
công cụ để hỗ trợ cho việc kê khai quyết toán thuế tại chỗ cho doanh nghiệp,
chính vì vậy đã giảm được áp lực công việc cho cán bộ thuế đồng thời rút ngắn
thời gian chi phí cho các đơn vị. Để có được hệ thống này chi phí bỏ ra ban đầu
là rất lớn tuy nhiên trong thời gian dài sẽ tiết kiệm được về thời gian và kinh tế.
SV: Trương Thị Dịu
Lớp CQ 48/02.01
Bên cạnh đó nếu tất cả thu nhập và chi tiêu của từng cá nhân được quản lí thông
qua ngân hàng thì sẽ giảm được thời gian cho công tác quản lí đồng thời chống
SV: Trương Thị Dịu
Lớp CQ 48/02.01
21
Học Viện Tài Chính
Luận Văn Tốt Nghiệp
được thất thu thuế cho NSNN.
Thật vậy, nếu như tất cả các giao dịch từ CNBĐS đều được kiểm soát bằng cách
thanh toán bằng thẻ qua ngân hàng thì sẽ tránh được việc NNT khai giá trị của
BĐS thấp hơn giá trị thực và hơn nữa các cơ quan chức năng sẽ dễ kiểm soát hơn
số BĐS được giao dịch của NNT từ đó dễ hơn trong việc xét được miễn thuế hay
không được miễn thuế. Áp dụng phương thức thanh toán này có ý nghĩa vô cùng
quan trọng đối với CNBĐS bởi vì những giao dịch trong lĩnh vực BĐS thường
có giá trị rất lớn, nếu như chỉ bỏ sót hoặc kê khai không đúng giá trị thực của nó
cũng đã làm thất thu một số tiền không nhỏ của NSNN.Vì vậy mà Việt Nam cần
phát triển hơn nữa phương thức thanh toán trong dân cư để dễ kiểm soát nguồn
thu từ thuế nói chung và thuế TNCN từ CNBĐS nói riêng được tốt hơn.
Tình hình kinh tế và mức sống của người dân:
Hiệu quả công tác quản lí thu thuế TNCN cũng phụ thuộc không nhỏ vào mức độ
phát triển kinh tế và đời sống dân cư. Cùng một đơn vị thu thuế trên một khu
vực, số đối tượng nộp thuế thu nhập nhiều sẽ giảm bớt chi phí trên một đồng
thuế thu được, ngược lại có ít đối tượng nộp thuế và số thu được ít thì chi phí cho
một đồng thuế sẽ cao. Sự phát triển kinh tế sẽ đồng hành với sự phát triển của cơ
Là một bộ phận của hệ thống thuế, thuế TNCN từ CNBĐS vừa mang vai
trò của thuế nói chung, vừa có vai trò đặc trưng mà các loại thuế khác không có
được. Thật vậy:
- Tăng cường sự quản lí của Nhà Nước về đất đai, tăng nguồn thu cho ngân sách
quốc gia: Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, trong đó thuế
TNCN từ CNBĐS là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành thuế nói
chung nên cũng góp một phần để tạo nguồn tài chính cho ngân sách Nhà Nước.
Thuế TNCN từ CNBĐS được tính với diện rộng, khả năng tạo nguồn thu cho
ngân sách là rất lớn bởi vì giá trị của BĐS là rất lớn và là tài nguyên quốc gia.
- Đảm bảo công bằng về nghĩa vụ nộp thuế, góp một phần nào đó vào việc đảm
bảo công bằng xã hội. Thuế TNCN từ CNBĐS là một công cụ có hiệu lực phục
vụ yêu cầu quản lí của Nhà Nước trong việc giải quyết sự bất bình đẳng về phân
SV: Trương Thị Dịu
Lớp CQ 48/02.01
23
Học Viện Tài Chính
Luận Văn Tốt Nghiệp
phối BĐS giữa các tầng lớp dân cư. Thông qua thuế BĐS, Nhà Nước có thể thực
hiện việc kiểm kê, kiểm soát, quản lí quỹ đất, nhà ở và các công trình kiến trúc
khác trong xã hội. Hơn nữa, Nhà Nước có thể động viên một phần đóng góp của
chủ sở hữu BĐS, có nhiều thu nhập từ tiền cho thuế, chuyển nhượng, góp phần
điều hòa thu nhập xã hội, thực hiện nghĩa vụ đóng góp công bằng, khuyến khích
sử dụng đất, nhà có hợp lí, hiệu quả.
- Khuyến khích việc sử dụng đất có hiệu quả do sự giới hạn của quỹ đất.Việc
Nam thời gian qua đã có những bước phát triển vượt bậc, tuy nhiên nó kéo theo
nhiều vấn đề phức tạp như trốn thuế, tránh thuế… mà vẫn chưa quản lí hiệu quả.
Chính vì vậy hình thức thanh toán qua ngân hàng và các hình thức thanh toán
không dùng tiền mặt lại giúp cơ quan thuế rất nhiều trong việc quản lí thu nhập
của tổ chức, cá nhân. Nhưng với Việt Nam hình thức này mới áp dụng chưa lâu
và cũng chưa phổ biến rộng rãi nên người dân chưa thực sự hiểu biết nên việc
-
quản lí giám sát thu thuế của cơ quan thuế còn gặp nhiều khó khăn.
Thứ hai là hiểu biết của NNT được nâng cao: Với sự phát triển của kinh tế kéo
theo sự nâng cao về trình độ của người dân, đối với Việt Nam, luật thuế TNCN
mới được áp dụng rộng rãi mấy năm gần đây và tính chất trực thu của thuế
TNCN làm mọi người cảm thấy gánh nặng thuế càng nặng nề nên tình trạng trốn
-
thuế, giấu thuế thu nhập vẫn xảy ra nhiều gây khó khăn cho công tác quản lí.
Điều kiện thứ ba đó là sử dụng báo cáo kế toán mang tính phổ biến, đảm bảo
tính trung thực và độ tin cậy: Thực trạng ở Việt Nam hiện nay đó là báo cáo kế
toán của doanh nghiệp còn mang tính thủ tục, hình thức, chưa phản ánh thực chất
kết quả hoạt động vì vậy gây khó khăn cho việc thu thuế của từng đối tượng cho
-
cơ quan quản lí thuế.
Thứ tư là tính tự giác của NNT: Mức tự giác của NNT hiện nay trong việc nộp
-
Nếu tính thuế dựa trên chênh lệch thu nhập khi bán và khi mua thì số thuế bà A
phải nộp sẽ là (2-1.5) tỷ đồng x25%=125 triệu đồng. Nếu trường hợp không xác
định được giá mua ban đầu thì cơ quan thuế sẽ tính thuế 2% trên giá bán như vậy
số thuế bà A phải nộp là 2 tỷ đồng x 2%=40 triệu đồng. Mức chênh lệch giữa hai
cách tính thuế này là 85 triệu đồng, đây là một con số rất lớn. Do đó người mua
bán cho dù biết rõ hết về các thông tin như giá chênh lệch thì cũng giấu, không
đưa ra công chứng để được đánh mức thuế 2% trên giá chuyển nhượng.
Hoặc cũng tồn tại trường hợp: Khi anh, chị, em ruột chuyển nhượng BĐS
cho nhau thì vẫn phải đóng thuế TNCN cho một nửa tài sản của chị dâu, anh rể;
em dâu, em rể. Từ thực tế này dẫn đến tình trạng người dân đi đường vòng để
lách thuế. Thay vì việc anh, chị, em chuyển nhượng trực tiếp cho nhau sẽ phải
nộp thuế, người dân chọn cách vợ (hoặc chồng) chuyển nhượng cho nhau, sau đó
mới chuyển nhượng cho anh, chị, em ruột. Cũng tương tự như trường hợp cha
dượng, mẹ kế chuyển nhượng, thừa kế, tặng quà cho con riêng của vợ hoặc
SV: Trương Thị Dịu
Lớp CQ 48/02.01