THEO DÕI VÀ ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG
CHĂM SÓC SỨC KHOẺ
MỤC TIÊU
Sau khi học xong bài này, học viên có khả năng:
Trình bày được khái niệm và tầm quan trọng của theo dõi và đánh giá
Phân loại được các hình thức đánh giá
Xây dựng được các chỉ số đánh giá
Phân tích được các bước của theo dõi/đánh giá hoạt động/chương trình y tế
NỘI DUNG
1. Khái niệm theo dõi và đánh giá
Lập kế hoạch
Theo dõi &
Giám sát
Đánh giá
Thực hiện
Sơ đồ 1: Chu trình quản lý
1.1. Khái niệm theo dõi và đánh giá:
Theo dõi là một hoạt động thường xuyên của chu trình quản lý nhằm liên tục cung cấp
các thông tin phản hồi về tiến độ và khiếm khuyết trong quá trình thực hiện một chương
trình/hoạt động y tế. Theo dõi tập trung vào việc phản ánh quá trình của các hoạt động/
chương trình y tế và đưa ra những khuyến nghị về các biện pháp khắc phục nhằm đạt
được mục tiêu đề ra.
Đánh giá là một hoạt động định kỳ của chu trình quản lý nhằm thu thập và phân tích các
thông tin, tính toán các chỉ số để đối chiếu xem các chương trình/hoạt động có đạt được
mục tiêu, kết quả có tương xứng với với nguồn lực bỏ ra hay không, đồng thời phân tích
quá trình thực hiện kế hoạch để tìm ra những nguyên nhân của thành công hoặc thất bại,
rút ra những bài học kinh nghiệm cho công tác lập kế hoạch tiếp theo, tăng cường các
hoạt động quản lý sau này góp phần nâng cao hiệu quả của các chương trình/hoạt động y
c) Đánh giá kết thúc : Là đánh giá kết quả cuối cùng của hoạt động/ chương trình y tế
hoặc kế hoạch (kế hoạch năm hoặc kế hoạch dài hạn), thường được dùng để so sánh với
mục tiêu ban đầu đã được đề ra.
1.3.2. Phân loại theo mô hình đánh giá
a) Đánh giá đối chiếu với mục tiêu: để đối chiếu kết quả thu được khi kết thúc
chương trình với mục tiêu đề ra trong bản kế hoạch.
Đánh giá sau
can thiệp
Kế hoạch
Mục tiêu
So sánh
b) Đánh giá so sánh trước và sau khi thực hiện: Để phân tích so sánh các thông tin/chỉ số
trước khi thực hiện và sau khi thực hiện chương trình can thiệp.
Kế hoạch
Đánh giá trước
can thiệp
Đánh giá sau can
thiệp
Mục tiêu
So sánh
So sánh
2.1. Khái niệm
Chỉ số là đại lượng dùng để đo lường và mô tả một sự vật hay một hiện tượng. Chỉ số
cũng dùng để so sánh kết quả mong đợi với kết quả thực tế trong từng giai đoạn.
Chỉ số tốt là chỉ số dễ tính toán, cho phép so sánh một sự vật hay hiện tượng giữa các đơn
vị với nhau.
Có hai loại chỉ số:
Chỉ số triển khai thường được dùng trong theo dõi. Chúng được dùng để đo lường đầu
vào, quá trình và đầu ra. Chỉ số này thường được biểu thị bằng một con số.
Chỉ số thực hiện được dùng để đo lường kết quả và tác động. Chỉ số này thường được
biểu thị bằng tỷ số hoặc tỷ lệ phần trăm (%). Khi một chỉ số được trình bày dưới dạng
một tỷ số hoặc tỷ lệ phần trăm, nó sẽ bao gồm một tử số và một mẫu số. Tử số đo lường
một đặc tính cuả chương trình/ hoạt động, mẫu số là tổng số đối tượng có thể bị tác động
bởi đặc tính đó.
2.2. Xác định tử số và mẫu số của các chỉ số thực hiện
Ví dụ: Trong chương trình KHHGĐ, chỉ số thực hiện được biết đến nhiều nhất và phổ
biến nhất là “Tỷ lệ cặp vợ chồng sử dụng các biện pháp tránh thai (CPR)”. Tử số của chỉ
số này là số cặp vợ chồng mà vợ trong độ tuổi 15-49 áp dụng các biện pháp tránh thai,
mẫu số là tổng số các cặp vợ chồng ở độ tuổi đó trong một quần thể dân cư.
Do định nghĩa về tử số và mẫu số của các chỉ số đánh giá thường không thống nhất nên
cần đưa ra định nghĩa rõ ràng về tử số và mẫu số của các chỉ số lựa chọn. Điều này đặc
biệt quan trọng nếu sử dụng chỉ số để so sánh với các chỉ số cùng loại của địa phương
khác. Ví dụ:
Kết quả CPR sẽ thay đổi tuỳ thuộc vào mẫu số được chọn như cặp vợ chồng hay phụ nữ
có chồng trong độ tuổi sinh đẻ hay tất cả phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Do vậy, khi so
sánh CPR tại xã A với xã B, phải hết sức chú ý để đảm bảo rằng tử số và mẫu số của chỉ
số này tại cả hai địa phương là như nhau.
Về thuật ngữ cũng có nhiều cách diễn giải vì thế cần chú ý đến định nghĩa của các thuật
ngữ, chẳng hạn như: khách hàng mới, người sử dụng dịch vụ liên tục, người sử dụng dịch
Cung cấp các biện pháp phối hợp.
Tỷ lệ khách hàng được các khách hàng khác giới thiệu (chỉ số sự hài lòng của khách
hàng).
Tỷ lệ thường xuyên sử dụng biện pháp KHHGĐ (thay đổi phương pháp, giãn khoảng
cách sinh, người chuyển đi khu vực khác không tiếp tục hoặc ngừng sử dụng).
Tỷ lệ khách hàng hài lòng với các dịch vụ
Chỉ số hiệu quả
Tỷ lệ phần trăm các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ trong khu vực được phục vụ.
Chỉ số về kiến thức thái độ và thực hành đối với KHHGĐ
Chỉ số tác động
Tổng số người/cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp KHHGĐ
Tỷ lệ sinh thô trong khu vực (nếu có)
Tỷ lệ nạo hút thai trong khu vực
Tổng tỷ suất sinh và tỷ suất sinh đặc hiệu theo tuổi trong khu vực
Tỷ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuổi
Tỷ lệ tử vong mẹ
Tỷ lệ sinh có nguy cơ cao (phụ nữ trên 35 tuổi, nhiều lần có thai...)
Chú ý: Mặc dù các chỉ số rất có giá trị trong việc đánh giá hiệu quả của các chương
trình/hoạt động y tế, nhưng bên cạnh những chỉ số ta vẫn cần phải bổ sung thêm các
thông tin có liên quan khác thì việc đánh giá mới phản ánh đúng thực chất được hiệu quả
của chương trình.
Ví dụ: CPR là một chỉ số đánh giá về sử dụng các biện pháp tránh thai. Tuy nhiên, các
thông tin liên quan khác như tỷ lệ thất bại khi áp dụng các biện pháp tránh thai, tỷ lệ sử
dụng gián đoạn hoặc thời gian sử dụng trung bình các biện pháp tránh thai v.v... sẽ mô tả
rõ hơn bức tranh thực tế về hiệu quả sử dụng các biện pháp tránh thai, nếu không có
những thông tin bổ sung này thì CPR có thể cho ta một nhận định sai lầm về tác động
của chương trình lên tỷ suất sinh.
2.4. Phương pháp chọn các chỉ số một cách hệ thống
Số nhân viên Số nhân viên Số điểm
được đào tạo
làm việc với phương
cộng đồng
tránh thai
Số lượng khách
hàng được một
nhân viên phục
vụ trong một
ngày
Thông ting giáo dục
truyền thông
bán Số lượng tài liệu
tiện thông tin giáo dục
truyền thông (IEC)
Số
lượng
phương
tiện
tránh thai được
phân phối trực
tiếp cho quần
thể đích
Số điểm cung Số người được đào
cấp thông tin về tạo về sử dụng tài
cách sử dụng liệu IEC
bán PTiện TThai
% khách hàng
áp dụng biện
pháp tránh thai
vĩnh viễn
% quần thể đích % quần thể đích
sử dụng biện hài lòng với các
pháp
thường điểm bán lẻ
xuyên
% quần thể đích
hành động như
được phổ biến trong
các thông điệp IEC
Bước 3: Chọn thông tin/dữ liệu cho các chỉ số và các phương pháp và nguồn thu thập
thông tin
Khi đã chọn được chỉ số, hãy xác định biện pháp thu thập được những thông tin cho từng
chỉ số đã lựa chọn. Để có được các chỉ số hữu ích, ta cần có những số liệu cần thiết, tin
cậy và chính xác.
Ví dụ: Chọn lựa, thu thập thông tin/dữ liệu cần thiết trong các hoạt động KHHGĐ tại
cộng đồng.
Chỉ số
Dữ liệu yêu cầu
pháp tránh thai trong
quần thể đích
Chỉ số tác động
% phụ nữ đạt được
tổng tỷ suất sinh
mong muốn
- Số người được nhân viên
cung cấp các phương tiện
tránh thai 3 lần trong năm
- Số người trong quần thể
đích tiếp xúc với nhân viên
trong thời gian đó
- Số khách hàng mới trong
khu vực
- Số người thường xuyên sử
dụng biện pháp tránh thai
- Số người thường xuyên
dùng các biện pháp tránh
thai tiếp tục sử dụng sau hai
năm
- Điều tra mẫu
- Sổ khách hàng nhận các phương
tiện tránh thai
- Báo cáo hoạt động của chương
trình
- Điều tra mẫu
Xác định phương pháp thu thập số liệu nào trả lời tốt nhất những câu hỏi đánh giá.
Gắn chặt việc lựa chọn phương pháp với các nguồn lực sẵn có. Điều này có nghĩa là
chỉnh sửa thiết kế và phương pháp đánh giá, hoặc xác định các lựa chọn khác để phù hợp
với khuôn khổ nguồn lực. Cũng có thể là tìm kiếm các nguồn lực bổ sung để cung cấp
cho thiết kế đánh giá nào được xác định là hữu ích và hiệu quả nhất.
Chọn các phương pháp tạo điều kiện cho sự tham gia vào việc đánh giá của các bên có
liên quan chủ chốt của chương trình/dịch vụ.
Tăng cường độ tin cậy và sự hữu ích của các kết quả đánh giá bằng cách kết hợp một
cách phù hợp các phương pháp.
3. Các bước đánh giá hoạt động/chương trình y tế
Trình tự đánh giá gồm 3 giai đoạn:
Chuẩn bị đánh giá
Tiến hành đánh giá
Viết báo cáo và sử dụng kết quả đánh giá
Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn này, quá trình đánh giá lại được chia ra nhiều bước nhỏ:
3.1. Chuẩn bị đánh giá
3.1.1. Xác định mục tiêu, phạm vi và người thực hiện đánh giá
.- Xác định mục tiêu:
Một chương trình y tế thường bao gồm nhiều hoạt động khác nhau. Trong nhiều trường
hợp, do kinh phí hạn hẹp hoặc do yêu cầu của thực tế nên không thể đánh giá chi tiết tất
cả các hoạt động được. Do đó, trước khi đánh giá, cần phải xác định rõ sẽ đánh giá những
hoạt động nào của chương trình. Đánh giá nhằm mục đích gì và kết quả đánh giá sẽ được
dùng để làm gì?
Mục tiêu đánh giá không phải là lấy kết quả để báo cáo lên cấp trên và cũng không phải
là tìm xem đơn vị đó đạt được thành tích đến mức độ nào để khen thưởng hay xử phạt.
Mục tiêu của đánh giá là tìm nguyên nhân của thành công hay thất bại để giúp cho công
tác quản lý các hoạt động y tế được tốt hơn, hiệu quả hơn.
- Xác định phạm vi đánh giá
3.2. Tiến hành đánh giá hoạt động/ chương trình y tế:
Thu thập số liệu tại thực địa
Trước khi chính thức thu thập số liệu cho đánh giá, các công cụ thu thập số liệu như bảng
kiểm, các biểu mẫu thu thập số liệu, các bảng câu hỏi v.v... cần được kiểm tra lại, nếu
cần có thể làm thử nghiệm trước (pre-test) ở diện hẹp để đảm bảo các công cụ thu thập số
liệu sẽ thực hiện được trong toàn bộ cỡ mẫu. Nếu số liệu trong điều tra thử đảm bảo yêu
cầu kỹ thuật, sau đó có thể được gộp vào với số liệu điều tra chính thức. Bên cạnh đó, các
nghiên cứu viên, giám sát viên cũng cần được tập huấn về sử dung các công cụ đó để thu
thập số liệu được chính xác và đạt được mục tiêu đánh giá.
Thông thường, trong các cuộc điều tra lớn, các điều tra viên được chia ra thành từng
nhóm, cứ 5 người có 1 người làm giám sát viên. Giám sát viên có trách nhiệm giúp đỡ
các điều tra viên tiến hành điều tra, đánh giá đúng kỹ thuật, chính xác, không sai sót cũng
như đảm bảo mọi người cùng sử dụng một phương pháp để thu thập số liệu.
3.3. Phân tích số liệu, viết báo cáo và sử dụng kết quả đánh giá
Sau khi thu thập được các thông tin/dữ liệu cần thiết, chúng ta phải có trách nhiệm tổng
hợp và phiên giải các thông tin dưới các hình thức có thể sử dụng được phục vụ cho mục
tiêu đánh giá hoạt động/chương trình y tế đó. Quá trình đó diễn ra như sau:
Tổng hợp và phân tích dữ liệu để chuyển các thông tin sang dạng có thể sử dụng được.
Viết báo cáo rõ ràng, dễ hiểu để thông báo kết quả đánh giá đến những người quan tâm.
Sử dụng kết quả báo cáo để đưa ra những quyết định phù hợp
3.3.1. Tổng hợp và phân tích dữ liệu:
Bản thân các thông tin/dữ liệu thu được trong các phiếu ghi, sổ đăng ký, biểu mẫu hay từ
các cuộc điều tra thường rất khó sử dụng. Dữ liệu trong các phiếu ghi của khách hàng hay
các phiếu điều tra sẽ cho các thông tin về cá nhân một người nhưng những nhà quản lý
chương trình lại cần một bản tổng hợp những dữ liệu này để có thể đưa ra được những
quyết định liên quan đến toàn bộ cộng đồng chứ không phải chỉ từng cá nhân.
Những yêu cầu trong quá trình tổng hợp và phân tích dữ liệu:
Xem xét lại dữ liệu thu được để kiểm tra về độ chính xác và tính nhất quán (quá trình làm
sạch số liệu). Hệ phần mềm Epi - info là một chương trình phần mềm rất hữu dụng,
chương trình này có thể phân tích được các bộ số liệu phức tạp theo nhiều tầng. Nhờ máy
Sau khi số liệu thu được từ điều tra đánh giá, cần tổng hợp vào các bảng và biểu đồ. Lập
bảng trống là khâu đầu tiên, rất quan trọng, vì từ đây số liệu sẽ được phân tích, vẽ thành
biểu đồ, đồ thị.
Thế nào là một bảng trống? Bảng trống là bảng dự kiến bố trí số liệu mô tả hoặc phân
tích. Có những bảng trống đơn (một hàng hoặc một cột) hay chỉ có hai cột hai hàng (bảng
2 x 2), nhưng cũng có bảng phức tạp, nhiều cột nhiều hàng. Các cột dọc và các hàng
ngang mô tả mối quan hệ hai dãy số liệu của hai biến số liên quan với nhau.
Ví dụ:
(1) Bảng trống đơn: Tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy theo tuổi
Nhóm tuổi
0 - 12 tháng
1-4
5 - 14
Cộng
15 - 60
> 60 tuổi
(2) Bảng trống Matrix hai chiều: Tình hình bệnh tật theo tuổi
Nhóm tuổi
0-4
Cộng
16-60
>60
Cộng
cộng
Viêm phổi
Thấp khớp
........
........
Cộng
Việc lập các bảng trống giúp người phân tích số liệu biết những thông tin cần thiết và lập
khung dữ liệu thích hợp khi phân tích bằng máy vi tính.
Phân tích định tính
Trong đa số các trường hợp cần phải phân tích các số liệu định tính một cách hệ thống.
Phân tích các số liệu định tính từ phỏng vấn sâu, ghi chép qua quan sát tại thực địa hoặc
thông tin của điều tra bằng các câu hỏi mở có thể xác định được sự tương tự và xu hướng
của vấn đề. Các số liệu định tính có thể được phân loại theo sự xuất hiện của các chủ đề,
mà những chủ đề này phù hợp để trả lời những câu hỏi đánh giá và để phát triển những
giả thuyết mới hoặc kiểm tra những giả thuyết đã được lựa chọn. Cần lưu ý phải tránh
một sai lầm rất hay mắc phải khi phân tích các số liệu định tính đó là quá tập trung vào
“lượng hoá” số liệu định tính và phiên giải các số liệu này như là các số liệu định lượng.
Ví dụ, khi phân tích và phiên giải các số liệu của thảo luận nhóm, một số người đánh giá
đã lập bảng các thông tin trao đổi và báo cáo chúng dưới dạng các tỷ số, tỷ lệ phần trăm
chứ không phải nhằm vào mục đính khám phá những thông tin sâu về tư tưởng, quan
điểm và thái độ,... những thông tin này có thể giúp trả lời các câu hỏi đánh giá “tại sao”
và “như thế nào”?
3.3.2. Viết báo cáo kết quả báo cáo
Thông thường, có bao nhiêu mục tiêu thì có bấy nhiêu kết luận tương ứng.
3.3.3. Sử dụng kết quả đánh giá
Khi nhận được một bản báo cáo đánh giá một, nhà quản lý phải kiểm tra xem có phải tất
cả các quyết định hoặc hành động đều đã và đang được thực hiện dựa trên những thông
tin được cung cấp hay không. Khi xem lại các báo cáo, hãy đặt ra các câu hỏi như sau:
Xem xét một cách hệ thống các kết quả, kết luận và khuyến nghị cơ bản của đánh giá.
Các thông tin trong báo cáo có dựa trên những chỉ số đánh giá không? Đã phát hiện được
phải tất cả các điểm thiếu sót chưa? Báo cáo đã có kết luận chưa?
Báo cáo có đề ra những khuyến nghị/đề xuất dựa trên những thông tin/dữ liệu đã thu
được không?
Thông tin trong các bản báo cáo có chính xác và đáng tin cậy không?
Xác định điểm nào được chấp nhận và ủng hộ, điểm nào không.
Trong trường hợp đánh giá tiến độ, xác định liệu có cần thiết phải có những điều chỉnh
nào không.
Xây dựng kế hoạch thực hiện, bao gồm việc xác định những hoạt động cụ thể và phân
công trách nhiệm rõ ràng và thời gian thực hiện các hoạt động đó (xây dựng kế hoạch
hành động).
Theo dõi tình hình thực hiện
Đối với các hoạt động CSSKBĐ, công việc thường được tiến hành liên tục, tiến triển theo
thời gian, các nhà quản lý cần thường xuyên xem xét lại việc thực hiện và các chỉ số các
hoạt động, cải tiến các công cụ thu thập dữ liệu để đảm bảo thông tin thu được là cập
nhật, đáng tin cậy và chính xác.
Kết quả đánh giá sẽ được sử dụng ngay cho việc cải tiến công tác của cơ sở y tế đó một
cách có hiệu quả, đảm bảo nâng cao chất lượng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và trao
đổi kinh nghiệm với những cơ sở y tế khác. Kết quả đánh giá có thể được sử dụng để:
Xác định vấn đề sức khoẻ và vấn đề tồn tại trong quản lý các hoạt động CSSK, chỉ đạo
tuyến và khám chữa bệnh..v...v...
Giúp tìm các giải pháp khả thi, ít tốn kém và có khả năng duy trì sau khi kết thúc chu kỳ