Vai trò của công tác xã hội với việc giảm thiểu hành vi gây hấn của học sinh THCS tại tỉnh Hải Dương - Pdf 34

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Học sinh Trung học cơ sở (HS THCS) là lứa tuổi có vị trí đặc biệt
trong thời kỳ phát triển của trẻ em, là thời kỳ chuyển từ thời thơ ấu sang lứa
tuổi trưởng thành với nhiều tên gọi như: “thời kỳ quá độ”, “tuổi khó bảo”,
“tuổi khủng hoảng”… Ở các em vừa mang những nét trẻ con, vừa người lớn,
dở dở ương ương, nhưng các em có mong muốn được bình đẳng với người
lớn, mong muốn được làm người lớn, được chứng tỏ bản thân, khẳng định
mình. Để thể hiện tính người lớn của mình các em sẵn sàng có những suy
nghĩ và hành vi lệch lạc, gây tổn thương cho chính bản thân mình và người
khác, gây ra những hậu quả mà các em chưa lường được trước, đó chính là
hành vi gây hấn.
Hành vi gây hấn (HVGH) ở học sinh (HS) nói chung và HS THCS nói
riêng là một trong những vấn đề nổi cộm hiện nay rất được quan tâm chú ý,
đang có xu hướng gia tăng và gây ra nhiều hậu quả phức tạp mà chính các em,
phụ huynh hay thầy cô giáo cũng không thể lường hết được và nghiêm trọng
nhất đó là hành vi giết người. Gần đây rất nhiều các trang mạng, báo đài,
thông tin quần chúng đề cập đến vấn đề bạo lực học đường gây xôn xao, lo
ngại cho nhà trường, phụ huynh cũng như HS nhưng đó mới chỉ là một phần
bộc lộ bên ngoài của HVGH mà chúng ta có thể thấy. Tuy đã có nhiều biện
pháp được đưa ra nhằm giảm thiểu mức độ các HVGH ở HS nhưng hiệu quả
chưa cao. Do đó, việc nghiên cứu để tìm hiểu, chỉ rõ được HVGH ở các em
giúp các em nhận thức được hành vi của mình cũng như thay đổi suy nghĩ,
hành vi tiêu cực sang hướng tích cực, xây dựng lối sống phù hợp, tập trung
cho học tập xây dựng tương lai là rất cần thiết.
Để giảm thiểu những vấn đề của giới trẻ, đặc biệt là học sinh trong đó
có vấn đề gây hấn học đường, cần có sự chung tay góp sức của tất cả mọi
người trong cộng đồng xã hội, của các cơ quan ban ngành, đoàn thể và không
thể thiếu CTXH, trong đó CTXH đóng góp một phần không nhỏ. Nhân viên
1


+ Năm 2001, một nghiên cứu được thực hiện bởi Tonja Nansel và đồng
nghiệp nghiên cứu thực trạng HVGH ở học sinh Mỹ từ lớp 6 đến lớp 10 chỉ ra
2


rằng trong số hơn 15000 học sinh Mỹ có khoảng 17% thỉnh thoảng hoặc
thường xuyên bị bắt nạt trong cả năm học, 19% học sinh thỉnh thoảng hoặc
thường xuyên bắt nạt bạn khác, 6% học sinh vừa đia bắt nạt vừa bị bắt nạt.
+ Dựa trên những nghiên cứu thực hiện ở Na Uy, nhà tâm lý học Dan
Olweus (1993) cho rằng thủ phạm của các vụ gây hấn trong trường học có
nhu cầu rất lớn được thể hiện mình là người có khả năng thống trị, “đàn anh”
trong mắt những đứa trẻ khác. Thường thì thủ phạm là những người có ngoại
hình to khỏe nhưng kết quả học tập thấp, thường xuất thân trong những gia
đình bất ổn, bạo lực độc đoán. Nạn nhân của hành vi này là học sinh khuyết
tật hoặc có sự khác biệt về hình thể hay xã hội.
+ Nghiên cứu của Mottot Florence thực hiện ở Châu Âu, đăng trên tạp
trí Sciences Humaines của Pháp số (số 2/2008) khẳng định có đến 61% nạn
nhân bạo lực học đường có ý định tự tử.
+ Một nghiên cứu của tiến sĩ Catherine Blaya thuộc đại học Bordeaux 2
(Pháp) cho thấy khoảng 20% - 46% nạn nhân của các vụ bạo lực học đường
đã tái diễn chính những hành động bạo lực mà các em từng phải chịu đựng
vào các nạn nhân khác.
 Tại Việt Nam
+ Nguyễn Phương Thảo, Đặng Bích Thủy, Trần Thị Vân Anh – Bạo
hành đối với em gái trong môi trường học đường (2005).
+ Hoàng Gia Trang “Ảnh hưởng của gia đình tới hành vi hung tính của
trẻ” (2006).
+ Phạm Mạnh Hà, Hoàng Gia Trang - Hung tính ở trẻ em – Tạp chí
Tâm lý học, số 11/2002.
+ Nghiêm Thị Phiến - “Ảnh hưởng của nhóm bạn tới hành vi lệch

+ Địa điểm nghiên cứu: 100 HS ở các trường: trường THCS Kim
Khê huyện Kim Thành tỉnh Hải Dương; trường THCS Tân Bình tại thành
phố Hải Dương.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu sâu hơn về vấn đề HVGH ở HS THCS cũng như nâng cao
nhận thức cho HS THCS về HVGH và định hướng hành vi cho các em. Giúp
cho giáo viên cũng như phụ huynh của các em hiểu rõ hơn về các em và có
phương pháp giáo dục phù hợp. Đồng thời đề cao vai trò của công tác xã hội
trong việc giảm thiểu HVGH ở các em HS THCS tỉnh Hải Dương nói riêng
và HS THCS nói chung.
4


4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Tìm hiểu thực trạng về HVGH (nhận thức, biểu hiện, mức độ, nguyên
nhân…) của HS THCS tỉnh Hải Dương.
+ Tìm hiểu tác động của HVGH đến sự phát triển tâm lý xã hội của các
em học sinh THCS.
+ Tìm hiểu sự khác biệt giới trong hành vi gây hấn.
+ Đưa ra dự đoán xu hướng của các HVGH ở HS THCS tỉnh Hải
Dương và đề xuất 1 số biện pháp can thiệp (về phía gia đình, nhà trường, các
em HS THCS tỉnh Hải Dương).
+ Làm rõ vị trí, vai trò, sự cần thiết của công tác xã hội với việc giảm
thiểu HVGH ở HS THCS cũng như việc định hướng hành vi, giáo dục kỹ
năng sống cho các em.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Do tác động từ nhiều yếu tố: tâm sinh lý lứa tuổi, du nhập văn hóa nước
ngoài không chọn lọc, tiếp nhận thông tin sai lệch, điều kiện hoàn cảnh sống,
kỹ năng sống… dẫn đến HVGH ở HS THCS. Hành vi gây hấn ở HS THCS

Tìm ra được những biện pháp thiết thực nhằm thay đổi thái độ, HVGH
ở các em HS THCS đồng thời giúp các em nâng cao nhận thức, hiểu biết, xây
dựng cho mình các kỹ năng sống, lối sống tốt. Đề xuất một số vai trò của
CTXH trong hỗ trợ, giảm thiểu HVGH ở học sinh THCS. Đây sẽ là tài liệu
cho những người quan tâm nghiên cứu đề tài.
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài trang bìa, trang phụ bìa, trang mục lục, trang giải thích các từ
viết tắt, danh mục bảng biểu thì đề tài gồm có:
- Phần mở đầu: tính cấp thiết của đề tài; lịch sử nghiên cứu của vấn đề;
đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu,
giả thuyết nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu của đề tài, đóng góp khoa học
của đề tài.
- Phần nội dung: Chương 1: cơ sở lý luận và thực tiễn của hành vi gây
hấn ở học sinh THCS; Chương 2: thực trạng hành vi gây hấn của học sinh
THCS tỉnh Hải Dương; Chương 3: công tác xã hội với việc giảm thiểu hành
vi gây hấn ở học sinh THCS.
- Phần kết luận và khuyến nghị
- Phần tài liệu tham khảo
- Phần phúc trình vấn đàm
- Bảng hỏi và bảng phỏng vấn sâu.

6


B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ
HÀNH VI GÂY HẤN Ở HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ VÀ VAI
TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI
1.1. Cơ sở lý luận về hành vi gây hấn
1.1.1. Một số khái niệm

Theo từ điển Anh – Việt danh từ “aggression” được dịch là hành vi lấn
át, với nghĩa chỉ những người luôn áp đặt mệnh lệnh cho người khác, thích
tham gia quyết định mọi chuyện thay người khác. Họ luôn thắng thế trong các
cuộc tranh luận giành mọi phần lợi ích cho mình. Thậm chí họ còn có những
lời nói xúc phạm đến người khác như: la lối, chửi mắng, chỉ tay… Họ cũng
lấn át người khác bằng sức mạnh giao tiếp. (định nghĩa này thiên về giải thích
gây hấn ở mức độ lời nói và thái độ).
Từ điển thông dụng tiếng Pháp Larouse giải thích thuật ngữ
“aggression” chỉ tính nết một người hung hăng, hung bạo, cố tình làm tổn
thương người khác và chính mình trên phương diện thể chất lẫn tinh thần.
- Tính chất của HVGH
+ Gây hấn chỉ tính chất của hành vi là tính hung hãn, hung tính, tính
xâm kích, đó là hành vi gây tổn hại, gây thương tích cho người khác một cách
cố ý, lặp đi lặp lại nhiều lần.
+ Người thường xuyên có HVGH luôn có tâm thế giải quyết mâu thuẫn
của mình bằng bạo lực một cách dữ dội còn gọi là hiếu chiến. Chủ thể của
trạng thái này thường có xu hướng dùng sức mạnh cơ học (nắm đấm, đá, xô
đẩy…) hoặc sử dụng những vũ khí có xung quanh (gậy gộc, dao, sung…) làm
công cụ để đàn áp người khác.
+ Gây hấn thể hiện như một tính cách của con người. Ở những người
có biểu hiện GH thì lời nói và hành động của họ luôn luôn có xu hướng tấn
công người khác. Khi GH trở thành một xu hướng của nhân cách thì người đó
luôn không đủ kiên trì để lắng nghe, để thảo luận và thương lượng và cũng
không có kỹ năng để điều chỉnh cơn tức giận của mình.
+ Hành vi gây hấn thể hiện những xung động thiên về tính chất bệnh lý,
chỉ trạng thái bộc phát thành từng cơn dữ dội mà cục điểm người đó có thể
8


gây ra án mạng, tự tử, trốn nhà, bạo động… lúc đó con người mất cân bằng về


dữ nhưng được thực hiện như một công cụ để đạt tới những mục đích đặc biệt
(vd: sát thủ được thuê giết người không xuất phát từ tức giận thù hằn mà
hướng tới mục đích đó là thu về lợi ích).
- Về mặt thuật ngữ
Rất nhiều người nhầm lẫn giữa khái niệm bạo lực và khái niệm GH.
Trong GH có thể có hành vi bạo lực và trong bạo lực có thể biểu hiện rõ thái
độ GH. Tuy nhiên GH và bạo lực không phải là một.
Theo từ điển tiếng Việt, bạo lực là những hành động dùng sức mạnh để
cưỡng bức, trấn áp hay lật đổ. Hành vi bạo lực chủ yếu đề cập hành vi ở góc
độ đối tượng bị hại, kết quả của hành động, cụ thể là số thương vong, số thiệt
hại về của cải vật chất, có thể thấy được hậu quả trên cơ thể nạn nhân. Căn cứ
vào đó người ta có thể chỉ ra được mức độ tổn hại thể chất đối với một người
hoặc số thương vong do các vụ bạo lực gây ra trong một năm.
Dưới góc độ của tâm lý học, các nhà nghiên cứu tập trung xem xét
HVGH ở mức độ chủ ý của chủ thể thực hiện hành vi nhằm làm tổn thương
người khác, cho dù mục đích có đạt được hay không. Nếu hành vi bạo lực
xem xét hậu quả của hành động thì HVGH xem xét ở bản chất của hành động,
tức là hành động đó có phải sự cố ý của cá nhân không và sự cố ý đó bao gồm
cử chỉ, hành động, lời nói có thể chỉ có nguy cơ đe dọa sự an toàn của một cá
nhân hoặc đã làm tổn thương cá nhân khác. Với ý nghĩa này thì HVGH có ý
nghĩa rộng hơn hành vi bạo lực.
Như vậy: “Gây hấn là hành vi làm tổn thương đến người khác hoặc
làm tổn thương chính mình về tâm lý, thực thể hoặc làm tổn hại đến vật thể
xung quanh một cách cố ý cho dù có đạt được mục đích hay không”.
- Bản chất của hành vi gây hấn
+ Gây hấn là hành vi có chủ ý, có ý thức
Mọi hành vi GH có tính toán, cố tình làm tổn thương người khác hoặc
làm tổn hại vật chất xung quanh đều là HVGH. Khi xét HVGH không căn cứ
trên một chuẩn mực nền văn hóa nào cả, thậm chí ngay trong HVGH cũng

+ Xúi giục hay cưỡng ép người khác thực hiện hành vi không phù hợp,
khiến người khác phát triển không bình thường về mặt cảm xúc và gặp khó
khăn trong giao tiếp xã hội.
11


+ Phớt lờ, từ chối cũng như không thể hiện tình yêu thương.
+ Tìm mọi cách cô lập, không cho ai đó giao tiếp với những người
xung quanh, hoặc ngăn cấm tiếp cận các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục…
+ Tạo quá nhiều áp lực, buộc người khác phải làm những điều vượt quá
khả năng hoặc không phù hợp với trình độ, lứa tuổi…
+ Thích thú khi buộc người khác phải chứng kiến các hành động bạo lực.
- Gây hấn làm tổn hại về mặt thể chất
Những hành động sử dụng cơ bắp hay công cụ, vũ khí nhằm gây đau
đớn về thể xác, thân thể của nạn nhân và thường để lại những dấu vết trên cơ
thể nạn nhân. Tuy nhiên GH làm tổn thương về mặt thể chất và GH làm tổn
thương về mặt tinh thần có liên quan chặt chẽ với nhau. Khi HVGH làm tổn
thương về mặt thể xác kéo theo là tổn thương về tinh thần, và nạn nhân của
HVGH có thể lại có hành vi làm tổn hại người khác về mặt thể chất để xả
giận, trả thù, hay tự gây hại cho chính mình.
- Hành vi gây hấn mang tính phổ biến
Trong cuộc sống GH là một dạng hành vi không thể tránh khỏi, điều
đáng quan tâm là GH ở mức độ nào và có thể chấp nhận hành vi đó không. Ở
mọi nền văn hóa, mọi nền văn minh, không kể nước nào, ở thể chế chính trị
nào, bất cứ hành vi nào của chủ thể tham gia với mục đích cố tình làm tổn
thương người khác hay vật thể xung quanh đều là HVGH.
1.1.1.5. Hành vi gây hấn của học sinh Trung học cơ sở
Hành vi gây hấn của học sinh THCS là hành vi làm tổn thương đến
người khác (bạn bè, thầy, cô, phụ huynh…) hay làm tổn thương chính mình
về tâm lý, thực thể hoặc làm tổn hại đến vật thể xung quanh một cách cố ý

hiện ở sự hằn học với chính mình, sự bất mãn. Còn bản năng sống là những
nhu cầu cơ bản cho sự tồn tại và phát triển của con người. Ông cho rằng hành
vi gây hấn của con người xuất phát từ sự đổi hướng năng lượng của “bản
năng chết” sang người khác. Cơ chế của quá trình đổi hướng năng lượng xung
năng được mô tả bằng sự dồn nén năng lượng xuống vô thức và sẽ bùng cháy
trong một thời điểm nhất định theo kiểu “tức nước vỡ bờ”. Khi bị kích thích
năng lượng gây hấn phải được phóng thích ra bên ngoài nhằm vào 1 đối
tượng giao tiếp của chủ thể, nhờ sự đổi hướng năng lượng “xung năng” mà
con người cảm thấy nhẹ nhàng và khoan khoái hơn. Điều này cần thiết cho sự
13


cân bằng trong cơ thể. Như vậy xét đến cùng gây hấn cũng chỉ là bản năng để
đáp ứng sự tồn tại của con người.
- Thuyết hành vi: J.B.Watson, Thorndike, Beck và Skinner
Chủ nghĩa hành vi cổ điển nghiên cứu tâm lí con người là nghiên cứu
hành vi bên ngoài và bỏ qua việc nghiên cứu hành vi bên trong như ý thức vô
thức. Họ đưa ra một công thức là kích thích môi trường bên ngoài sẽ có phản
ứng của cơ thể. S-R. S là tình huống kích hoạt, R là hành vi ứng xử của chủ
thể khi tiếp nhận những kích thích từ bên ngoài. Con người bị hoàn cảnh điều
khiển như một cái máy. Cũng như vậy HVGH được diễn tả theo công thức S:
kích thích bạo lực dẫn đến R: bạo lực. Tuy nhiên thuyết này không phù hợp vì
con người có nhận thức, có nhân cách.
Thuyết hành vi hiện đại ra đời trên thuyết hành vi cổ điển. Trong cách
tiếp cận của thuyết hành vi hiện đại giữa S-R có sự tham gia của quá trình
nhận thức và tư duy. S-R-M trong đó M là suy nghĩ, cảm nhận của chủ thể
trước những tình huống kích thích, nó chi phối ứng xử của chủ thể. Như vậy
nhận thức hành vi không chỉ chú trọng đến yếu tố môi trường ảnh hưởng đến
ứng xử của chủ thể mà coi cách cảm nhận, tiếp thu, thái độ của chủ thể đối
với kích thích mới giải thích được đầy đủ hành vi của chủ thể trước 1 tình


(1)thúc đẩy
Bị
tới gây hấn
Tâm
trạng
thất
vọng (2)
Điều kiện
khác cho phản
ứng (VD sự
rút bỏ)

Nhanh
chóng đi
đến gây
hấn

Gây hấn bị
đẩy vào bên
trong (VD tự
tử)

Gây hấn
trực tiếp

Gây hấn
chuyển di

(1) Quá trình dẫn đến HVGH trực tiếp tới kích thích gây ra sự thất

Theo Brandura một người có HVGH hay không trong 1 tình huống cụ
thể phụ thuộc vào: 1- kinh nghiệm trước đó, gồm kinh nghiệm của cá nhân và
kinh nghiệm của người khác; 2- sự thành công của HVGH trước đó; 3- sự
phức hợp của các yếu tố về nhận thức, xã hội và môi trường trong tình huống
16


đó. Nhận định trên xuất phát từ cuộc khảo nghiệm của Bandura và các cộng
sự (1961). Kết quả cuộc khảo nghiệm cho thấy hành vi hiếu chiến của trẻ vị
thành niên làm giảm sự kiềm chế của chúng. Trẻ con thường hành động và
nói năng theo kiểu bắt chước. Việc chứng kiến những HVGH vừa làm giảm
bớt khả năng kiềm chế, vừa dạy cho chúng cách đi gây sự với người khác.
Gia đình là cái nôi đầu tiên nuôi dưỡng mỗi đứa trẻ và bố mẹ là người
có ảnh hưởng sâu sắc, lâu dài, để lại những dấu ấn khó phai trong nhân cách
của con cái. Vì vậy hành vi học tập xã hội của trẻ đầu tiên bắt nguồn từ trong
gia đình.
+ Trẻ con hiếu chiến thường có khuynh hướng có những bậc cha mẹ
hay trừng phạt chúng, dạy dỗ, giáo dục bằng chửi mắng, đánh đập. Bố mẹ của
những phụ huynh này thông thường cũng hay dạy con bằng cách đó. Khi trẻ
em trải qua cách đối xử bằng bạo lực bởi cha mẹ chúng thì khi lớn lên họ có
cách giáo dục tương tự bằng bạo lực với con cái sau này.
+ Gia đình cũng tác động làm cho tỷ lệ bạo lực cao hơn ở những gia
đình có người cha vắng mặt. Những gia đình có cả cha lẫn mẹ có sự chăm sóc
con cái chu đáo hơn, con cái ít bị rơi vào tình trạng nghèo đói hơn, nhận được
sự giáo dục toàn diện và có nền tảng vững chắc hơn những gia đình có cha
hoặc mẹ đơn thân nuôi dạy con.
+ Những gia đình có các thành viên mắc các tệ nạn xã hội, những đứa
trẻ sống trong những gia đình này thiếu đi sự quan tâm chăm sóc dạy dỗ, dễ
dẫn đến những hành vi lệch chuẩn.
+ Cha mẹ quá nuông chiều tạo cho con khuynh hướng phát triển tính

Trên thực tế HVGH của học sinh, sinh viên nói chung và HS THCS nói
riêng vẫn diễn ra hàng ngày ngay trong phạm vi trường lớp với những hình
thức và mức độ rất đa dạng từ những hành vi như trêu chọc, mỉa mai, tẩy
chay… đến những hành vi đe dọa, đánh đập thậm chí giết người.
Số liệu được Bộ Giáo dục và đào tạo (GD- ĐT) đưa ra gần đây nhất,
trong một năm học, toàn quốc xảy ra gần 1.600 vụ việc học sinh đánh nhau ở
trong và ngoài trường học (khoảng 5 vụ/ngày). Cũng theo thống kê của Bộ
GD-ĐT, cứ khoảng trên 5.200 học sinh (HS) thì có một vụ đánh nhau; cứ hơn
11.000 HS thì có một em bị buộc thôi học vì đánh nhau; cứ 9 trường thì có
một trường có học sinh đánh nhau... Bạo lực học đường đã trở thành mối quan
tâm của rất nhiều gia đình, các nhà trường và là nỗi trăn trở của toàn xã hội
bởi hậu quả nghiêm trọng mà nó gây ra.
18


Gần đây, các trang thông tin trên mạng, báo đài đề cập rất nhiều những
vụ đánh nhau, đặc biệt là đánh hội đồng ở HS nữ, khiến cho dư luận bang
hoàng, xôn xao, lo lắng về những gì đã diễn ra cũng như hậu quả nghiêm
trọng của nó. Tiêu biểu như video clip về vụ các nữ sinh lớp 7 trường THCS
Quỳnh Mai đánh bạn tại công viên Tuổi trẻ vào chiều thứ 7 ngày 14/4/2012
gây xôn xao dư luận về lối sống của giới trẻ hiện nay.
/>
Nghiêm trọng hơn đó là vụ học sinh nam lớp 9 tên Đ trường THCS
Nguyễn Huệ, Krông Buk, Đak Lak dùng dao đâm chết bạn T.X.D ngay tại
trường học chỉ vì mâu thuẫn nhỏ vào ngày 25/2/2012. Theo như thầy Nguyễn
Đình Tuấn - hiệu trưởng Trường THCS Nguyễn Huệ - cho biết Đ là học sinh
lớp chọn, học lực đạt loại khá và tính tình rất hiền lành, từ khi vào trường đến
nay Đ chưa từng bị kỷ luật. Trong khi đó, em T.X.D. học lực yếu, hạnh kiểm
xếp loại trung bình.
/>

1.3.2.1. Khái quát về ngành công tác xã hội trường học ở Việt Nam
hiện nay
Trên thế giới, công tác xã hội (CTXH) với sự hành nghề chuyên nghiệp
của các nhân viên xã hội được xem là công cụ hiệu quả trong việc thúc đẩy
công bằng, an sinh xã hội để một quốc gia phát triển hài hòa. Là một trong
những nước Đông Nam Á đầu tiên mở trường đào tạo CTXH chuyên nghiệp,
nhưng mãi đến thời gian gần đây ngành khoa học, nghề chuyên môn này mới
được “đánh thức” tại Việt Nam.
Tháng 11/2004, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành mã số đào tạo ngành
CTXH bậc đại học và cao đẳng. Ngày 25/3/2010 Thủ tướng Chính phủ ký
Quyết định số 32/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển nghề CTXH ở Việt
Nam giai đoạn 2010-2020 (còn gọi là Đề án 32), mở ra một bước ngoặt quan
trọng cho CTXH chuyên nghiệp tại nước ta. Tiếp nối thì Câu lạc bộ CTXH
chuyên nghiệp TP HCM được chính thức thành lập theo Quyết định số 332010/QĐ của Ban Thường vụ Hội Khoa học Tâm lý Giáo dục (KHTLGĐ) TP
HCM vào ngày 30/11/2010.

20


Công tác xã hội trường học là một trong những chuyên ngành quan
trọng của CTXH. Với kiến thức và kỹ năng chuyên môn của mình, các nhân
viên CTXH trường học tác động đến nhóm học sinh và cả hệ thống trường
học trong đó có cả nhà trường, giáo viên, các đoàn thể... Nhân viên CTXH
trường học giúp cho học sinh nâng cao khả năng đáp ứng các nhiệm vụ học
tập của mình thông qua sự phối kết hợp giữa gia đình, nhà trường và cộng
đồng. Tuy nhiên, trên thực tế, hiện nay ngành CTXH trường học nước ta còn
gặp nhiều khó khăn hạn chế.
Cô Đoàn Thị Hà – giáo viên Ngữ văn kiêm tổng phụ trách đội trường
THCS Tân Bình cho biết: “Hiện nay trường chúng tôi chưa có ngành CTXH.
Như sự hiểu biết của tôi thì chúng tôi chưa có biên chế cho ngành CTXH này

chú ý đó là tư vấn học đường không phải là CTXH học đường bởi vì CTXH
không chỉ dừng lại ở hỗ trợ về tâm lý, mà còn hỗ trợ trong việc giúp thân chủ
tự giải quyết tận gốc những khó khăn của mình. Do đó, ngành CTXH trường
học rất cần thiết trong môi trường giáo dục ở tất cả các cấp học.
1.3.2.2. Một số vai trò của công tác xã hội trường học
Công tác xã hội trường học cũng có những vai trò, chức năng của
CTXH, tuy nhiên nó chuyên sâu nghiêng về phía giải quyết các vấn đề xảy ra
trong môi trường học đường.
- Vai trò nghiên cứu
Nhân viên CTXH là người nghiên cứu các vấn đề xảy ra trong môi
trường học đường (vấn đề học sinh bỏ học, học sinh tự tử, học sinh bất lễ với
thầy cô, thầy cô có hành vi không đúng với học sinh, hành vi gây hấn học
đường…) đưa ra được thực trạng, nhận thức, biểu hiện, nguyên nhân cũng
như hậu quả của các vấn đề trên đối với học sinh, phụ huynh, nhà trường cũng
như những ai quan tâm đến môi trường giáo dục. Từ đó có thể đề xuất những
biện pháp hoặc thực hiện các phương pháp CTXH cá nhân, CTXH nhóm để
hỗ trợ giải quyết các vấn đề, góp phần tạo môi trường giáo dục bình đẳng,
thân thiện, lành mạnh.
- Vai trò phòng ngừa, giáo dục
Từ nghiên cứu hay những thực trạng về các vấn đề học đường, nhân
viên CTXH đưa ra các dự đoán xu hướng của vấn đề trong tương lai, và thực
hiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, giảm thiểu những vấn đề đó bằng
22


cách tuyên truyền, kết hợp giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức của các em
học sinh, phụ huynh, giáo viên. Đồng thời kết hợp mở các lớp giáo dục kỹ
năng sống, định hướng hành vi cho học sinh; các câu lạc bộ sinh hoạt có nội
dung giáo dục kỹ năng sống cho phụ huynh cũng như giáo viên, giúp cho cả
học sinh, phụ huynh, giáo viên nâng cao nhận thức, hiểu biết về con, em, cũng

vụ, hoạch định chính sách để được đáp ứng nhu cầu nguyện vọng. Trong
trường hợp thân chủ không thể trực tiếp nói lên nhu cầu, mong muốn của
mình thì nhân viên CTXH sẽ là người đại diện cho tiếng nói của thân chủ, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ. Đối với môi trường học đường,
nhân viên CTXH là chất xúc tác tạo môi trường lành mạnh, các mối quan hệ
tốt đẹp giữa các em học sinh với nhau, các em học sinh với thầy, cô giáo, các
em học sinh với cha mẹ của mình. Xúc tác cho quá trình dạy và học đạt hiệu
quả cao.
- Vai trò hoạch định chính sách
Nhân viên CTXH là người điều tra mặt tích cực, hạn chế của việc thực
hiện các chính sách, văn bản pháp luật, những chương trình hành động đối với
các đối tượng yếu thế, từ đó đề xuất những ý kiến để sửa đổi, bổ sung chính
sách xã hội cho phù hợp và đạt hiệu quả trong việc thự hiện. Môi trường học
đường cũng có những đối tượng yếu thế như học sinh khuyết tật, học sinh có
hoàn cảnh khó khăn, những học sinh phạm pháp… nhân viên CTXH sẽ là
người hỗ trợ các em học sinh yếu thế này tiếp cận các chính sách, đồng thời
xem xét, đề xuất, bổ sung sửa đổi chính sách sao cho việc hỗ trợ các em học
sinh đạt hiệu quả cao.
1.4. Tiểu kết chương 1:
Như vậy, chương 1 cho chúng ta hiểu rõ, hiểu sâu hơn về khái niệm,
bản chất, phân loại HVGH của học sinh- sinh viên nói chung và HS THCS
nói riêng cùng với các khái niệm liên quan. Làm rõ 1 số lý thuyết sử dụng
trong đề tài. Đồng thời cho chúng ta thấy thực trạng về HVGH học đường,
bạo lực học đường ở Việt Nam. Vấn đề gây hấn học đường đang là một vấn
đề nổi cộm, nhức nhối, được quan tâm rất nhiều cần được đưa ra những giải
pháp nhằm giảm thiểu, xây dựng môi trường trường học an toàn, thân thiện,
tạo điều kiện cho các em phát triển tốt nhất về mọi mặt. Đưa ra khái quát về
ngành CTXH trường học cũng như một số vai trò của CTXH trường học đối
với các vấn đề học đường.
24

văn hoá. Vùng đất này gắn bó với tên tuổi và sự nghiệp của nhiều danh nhân
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status