xây dựng và sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học chương i cơ chế di truyền và biến dị, sinh học 12 – ctc - Pdf 34

Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Sinh - KTNN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH – KTNN
***

VŨ THỊ HUẾ

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG
DẠY HỌC CHƯƠNG I : CƠ CHẾ DI TRUYỀN VÀ BIẾN DỊ,
SINH HỌC 12 – CTC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Phương pháp dạy học Sinh học
Người hướng dẫn khoa học
TS.NGÔ VĂN HƯNG

HÀ NỘI – 2012

SVTH: Vũ Thị Huế

Lớp 34A – SP Sinh


Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Sinh - KTNN
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ
của thầy cô và các bạn.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy Ngô Văn Hưng (Chuyên
viên chính – Vụ Giáo dục Trung học, Bộ giáo dục và Đào tạo ) đã tận tình



Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Sinh - KTNN
BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT
BĐTD
PTDH
GV
HS
DHTC
SGK
THPT
PPDH
ADN
ARN
NST
Aa
LG

Bản đồ tư duy
Phương tiện dạy học
Giáo viên
Học sinh
Dạy học tích cực
Sách giáo khoa
Trung học phổ thông
Phương pháp dạy học
Axit đêôxiribonuclêic
Axit ribonucleic
Nhiễm sắc thể

– 2012 )..................................................................................................27
CHƯƠNG 2. XÂY DỰNG BẢN ĐỒ TƯ DUY PHƯƠNG TIỆN TỔ
CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HS TRONG DẠY HỌC
CHƯƠNG I – SH12..............................................................................33
2.1. Vị trí, cấu trúc, chuẩn kiến thức kỹ năng chương I .....................33
2.1.1. Vị trí.........................................................................................33
2.1.2. Cấu trúc....................................................................................33
2.1.3. Phân tích chuẩn kiến thức kỹ năng làm cơ sở xây dựng BĐTD
...............................................................................................................34
2.2. Xây dựng hệ thống BĐTD cho chương I – Cơ chế di truyền và
biến dị....................................................................................................40

SVTH: Vũ Thị Huế

Lớp 34A – SP Sinh


Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Sinh - KTNN
2.2.1. Cách xây dựng BĐTD..............................................................44
2.2.2. Các hình thức vẽ BĐTD...........................................................44
2.2.3. Hệ thống BĐTD đã xây dựng...................................................44
CHƯƠNG 3. SỬ DỤNG HỆ THỐNG BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO TỔ
CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY
HỌC CHƯƠNG I, SINH HỌC 12........................................................57
3.1. Định hướng sử dụng hệ thống BĐTD vào dạy học......................57
3.1.1. Một số hoạt động dạy học chủ yếu trong một tiết học.............57
3.1.2. Dạy học hợp tác nhóm với BĐTD...........................................58
3.2. Định hướng sử dụng BĐTD vào dạy học chương I – Cơ chế di
truyền và biến dị....................................................................................59

đời sống, xã hội, quốc phòng…Trong đó, sự chuyển biến trong giáo dục có
vai trò quan trọng, chi phối đến sự phát triển của các lĩnh vực khác. Vì vậy
trong quá trình phát triển của xã hội thì giáo dục phải luôn đi trước một bước.
Đó là một sứ mệnh lịch sử.
Thực tế trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng
và nhà nước luôn luôn thực hiện phương châm: “ Coi giáo dục là quốc sách
hàng đầu”, nhân tố con người luôn đặt ở vị trí trung tâm. Xã hội mới luôn cần
những con người mới: năng động, sáng tạo, có tính độc lập, tự chủ cao, có
khả năng thích nghi với môi trường thay đổi và có kỹ năng giải quyết mọi vấn
đề mà thực tiễn đặt ra. Muốn vậy, con người mới cần trang bị những tri thức
khoa học, được hình thành và rèn luyện những kỹ năng cần thiết. Như vậy, sự
nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa của nhà nước gắn liền với sự nghiệp
xây dựng con người mới. Sự nghiệp đào tạo ra những con người mới cần có

SVTH: Vũ Thị Huế

1

Lớp 34A – SP Sinh


Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Sinh - KTNN
sự phối hợp hiệu quả giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Trong đó giáo dục
nhà trường đóng vai trò nòng cốt.
Giáo dục phổ thông có nhiệm vụ trang bị cho học sinh – chủ nhân
tương lai của đất nước những tri thức khoa học, cơ bản, hiện đại. Đặc biệt,
trang bị cho các em kỹ năng tự học, tự nghiên cứu, phát hiện và giả quyết vấn
đề, học tập cá thể kết hợp với học nhóm hiệu quả và quan trọng là kỹ năng tự
học, vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề thực tiễn. Để thực hiện được sứ

sang phương pháp dạy học tích cực – Dạy học lấy học sinh làm trung tâm.
Trong DHTC việc sử dụng PTDH là cần thiết bởi lẽ : PTDH dễ dàng
chuyển tải kiến thức, phát huy tính tích cực học tập của học sinh. Vì vậy sử
dụng PTDH hợp lý sẽ nâng cao hiệu quả dạy học. Có nhiều phương tiện dạy
học khác nhau. Việc sử dụng PTDH nào vào dạy học phụ thuộc vào nhiều yếu
tố: nội dung bài học, đặc điểm môn học, khả năng nhận thức của học sinh và
điều kiện thực tế tại trường. Xét thấy rằng, BĐTD là PTDH có nhiều ưu điểm:
dễ dàng tổ chức hoạt động học tập độc lập hay hoạt động nhóm của học sinh,
giúp học sinh ghi chép một cách hiệu quả, logic và mạch lạc. Đặc biệt các
dụng cụ cần cho việc thiết kế bản đồ tư duy khá đơn giản như giấy, bìa, bảng
phụ, bút màu, bút chì, tẩy…đối với việc thiết kế thủ công hay có thể thiết kế
BĐTD trên máy tính nhờ sự hỗ trợ của các phần mềm mindmap. Đồng thời
BĐTD cũng dễ sử dụng nên rất phù hợp với điiều kiện dạy và học ở nước ta.
Trên thế giới, việc sử dụng BDTD trong mọi lĩnh vưc của cuộc sống là khá
phổ biến và vô cùng rộng rãi ở mọi lứa tuổi với đủ mọi mục đích khác nhau.
Ở nước ta, BĐTD được áp dụng nhiều trong công việc, lập kế hoạch…Trong
những năm gần đây việc sử dụng BĐTD trong dạy học đã có rất nhiều công
trình nghiên cứu cũng như được các thầy cô ở tất cả các cấp học áp dụng và
đã bước đầu gặt hái được một số hiệu quả nhất định. Hiện nay, BĐTD là
phương tiện dạy và học được sử dụng nhiều tại các trường ở đủ mọi cấp học ở
các tỉnh, thành phố như Hà Nội, Hòa Bình, Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh…
Tuy nhiên do gặp khó khăn trong khâu thiết kế, khâu tổ chức để học sinh tự
thiết kế cũng như hoạt động dạy và học với bản đồ tư duy cùng với những khó
khăn khác mà BĐTD vẫn chưa được sử dụng một cách rộng rãi và hiệu quả
do đó quá trình dạy học đã không tranh thủ được những ưu điểm của việc sử
dụng BĐTD mang lại.

SVTH: Vũ Thị Huế

3

hữu hiệu để tạo nên các “hình ảnh liên kết” là Bản đồ Tư duy.
Bản đồ tư duy giúp cho học sinh học được cách học, tư duy một cách
tích cực huy động tối đa tiềm năng của bộ não, ghi chép một cách có hiệu

SVTH: Vũ Thị Huế

4

Lớp 34A – SP Sinh


Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Sinh - KTNN
quả, giúp cho tư duy học sinh không bị lạc lối và rất logic. Đặc biệt vẽ BĐTD
trong dạy và học sinh học giúp cho học sinh dễ nắm bắt các kiến thức dài
dòng, sâu chuỗi các mạch kiến thức thành một hệ thống. Đồng thời cũng tận
dụng được nguồn hình ảnh trực quan vô cùng phong phú một trong những ưu
thế nổi bật của bộ môn Sinh học.
Ngoài ra Chương I - Sinh học 12 có lượng kiến thức lớn, rất trừu tượng,
các kiến thức có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, khá logic do đó đòi hỏi người
học phải có sự liên kết chúng bằng các sơ đồ mới thuận lợi cho việc ghi nhớ
các kiến thức đó.
Với tất cả các lí do trên, cùng với nhu cầu bản thân là muốn trang bị
cho mình kỹ năng thiết kế và sử dụng BĐTD vào dạy học tích cực nên chúng
tôi nghiên cứu đề tài: “Xây dựng và sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học
chương I : Cơ chế di truyền và biến dị , Sinh học 12 - CTC ”.
2 .Mục đích nghiên cứu
Đề xuất cách xây dựng bản đồ tư duy, cách tổ chức hoạt động dạy và
học với bản đồ tư duy nhằm nâng cao hiệu quả dạy học cũng như phát triển
hoạt động học tập tích cực của học sinh trong dạy học chương I – Sinh học

5.3 Xây dựng bản đồ tư duy trên giấy và sử dụng phần mềm vẽ bản đồ
tư duy (như mindmap2008, mindmap 5pro.zip hay Buzan’s imindmap4…) để
hoàn thành hệ thống bản đồ tư duy.
5.4 Cách sử dụng hệ thống bản đồ tư duy đã làm được giúp học sinh
học bài mới cũng như ôn tập củng cố kiến thức
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các tài liệu có liên quan làm cơ sở lý luận cho đề tài như: lý
luận dạy học sinh học, các tài liệu hướng dẫn dạy học, các tài liệu về ứng
dụng bản đồ tư duy trong dạy học, các công trình khó học có liên quan...
6.2 Điều tra
Khảo sát, tìm hiểu thực tiễn việc xây dựng và sử dụng BĐTD trong
thực tiễn tại các trường THPT đặc biệt là ở bộ môn Sinh học
6.3. Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến đánh giá của các thầy, cô giáo có kinh nghiệm tâm huyết với
nghề về việc xây dựng cũng như sử dụng BĐTD trong dạy học Sinh học.

SVTH: Vũ Thị Huế

6

Lớp 34A – SP Sinh


Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Sinh - KTNN
7. Những đóng góp mới của đề tài
7.1. Góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học của việc xây dựng và sử
dụng BĐTD vào tổ chức hoạt động học tập của học sinh.
7.2. Xây dựng được hệ thống BĐTD làm tư liệu tham khảo cho giáo

hướng dẫn của người dạy. Việc khám phá và tiếp thu tri thức như một nhu cầu
đối với người học và việc đặt ra vấn đề cùng với việc giải quyết vấn đề là một
niềm đam mê vô tận.
Nếu như người học không đủ năng lực bản thân để tự học, tự biến đổi
mình thì mục tiêu đào tạo không thể thực hiện được cũng như không thể phù
hợp với yêu cầu xã hội đang đặt ra. Ngược lại, nếu bản thân có cố gắng và có
kỹ năng tự học một cách hiệu quả thì dù điều hiện có khó khăn mấy thì vẫn có
thể hình thành năng lực mới, phẩm chất mới. Bác Hồ đã dạy: “Cách học tập
phải lấy tự học làm cốt, việc học tập của mỗi người không chỉ diễn ra khi đấn
trường mà phải diễn ra suốt cuộc đời với mục đích : học để biết, học để làm,
học để chung sống và học để làm người.
* Quan niệm về “ Dạy”

SVTH: Vũ Thị Huế

8

Lớp 34A – SP Sinh


Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Sinh - KTNN
“Dạy” không phải là truyền đạt kiến thức cho người học một cách thụ
động bằng cách giảng giải hay thuyết trình mà phải làm cho người học tự
khám phá ra và tiếp nhận tri thức theo cách thức mà người dạy hướng dẫn.
Người dạy phải luôn làm cho người học có hứng thú với tri thức cần
tiếp nhận, phát huy tối đa tiềm năng hay sức sáng tạo của người học. Ngoài ra
người dạy phải hướng dẫn người học phương pháp tự học, tự tìm tòi và phát
hiện tri thức. Cùng với đó thì người phải chỉ ra cái đích mà người học cần đạt
tới và hướng dẫn cho người học biết con đường và cách thức để đạt tới cái

Năm 1980 : Ở Pháp các trường học kiểu mới mà trong đó tại các lớp
học việc học diễn ra tùy thuộc vào hứng thú của học sinh dã có mặt ở khắp
mọi nơi trong nước.
Một số nước trong khu vực, đến năm 1980 cũng đã bắt đầu chú ý đến
tích cực hóa hoạt động học tập của người học.
* Trong nước:
Năm 1960: có khẩu hiệu biến quá trình đài tạo thành quá trình tự đào
tạo.
Năm 1970: bắt đầu có công trình đổi mới phương pháp: “Phương pháp
dạy học tích cực” của G.S Trần Bá Hoành.
Năm 1972: công trình của G.S Trần Bá Hoành: “Rèn luyện trí thông
minh qua bài tập di truyền và biến dị”.
Năm 1974: công trình của Lê Nhàn: “Kiểm tra nhận thức người học
bằng kiểm tra, đánh giá”.
Năm 1984 – 1995: có nhiều công trình nghiên cứu về tính tích cực học
tập của học sinh.
Năm 1990 : bắt đầu cải cách nội dung SGK.
Năm 1990 – 1997: xây dựng chuyên ban. 12/1995: hội thảo về đổi mới
PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động của người học.
Năm 2000: xây dựng lại chương trình từ lớp 1 đến lớp 12.
Những năm gần đây các nhà lý luận dạy học nước ta đã và đang rất chú
ý đến việc sử dụng BDTD vào dạy học như các công trình nghiên cứu của T.S
Trần Đình Châu, Bộ giáo dục và đào tạo và T.S Đặng Thị Thu Thủy, Viện
khoa học giáo dục Việt Nam… Nhưng số lượng các công trình nghiên cứu về
việc xây dựng và sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học sinh học THPT thì
chưa nhiều. Tại trường ĐHSP Hà Nội 2, đã có một số đề tài về việc sử dụng
phiếu học tập, phương tiên trực quan vào dạy và học chương I, phần Di truyền
học nhưng chưa có công trình nào về việc sử dụng BĐTD vào việc dạy học
chương này.
** Đặc trưng của PPDH tích cực

* Dạy học cá thể hóa và hợp tác hóa : DHTC kết hợp giữa việc tự học
với học tập theo nhóm dưới vai trò cố vấn, trọng tài của thầy.
* Dạy học đề cao việc tự đánh giá và đánh giá: trong DHTC, GV là
người độ quyền kiểm tra, đánh giá theo định kỳ. Trong DHTC thì đề cao việc
đánh giá và tự đánh giá của học sinh.
1.1.2.3. Tính tích cực học tập và mối quan hệ của tích cực học tập với nhận
thức
** Tính tích cực học tập
* Khái niệm

SVTH: Vũ Thị Huế

11

Lớp 34A – SP Sinh


Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Sinh - KTNN
Tính tích cực là bản chất vốn có của con người. Nó là trạng thái hoạt
động của chủ thể, là kết quả và là điều kiện của quá trình hình thành và phát
triển nhân cách.
Tính tích cực của HS bao gồm tính tích cực xã hội và tính tích cực học
tập. Mục tiêu dạy học là hình thành ở học sinh tính tích cực. Vì lứa tuổi HS có
nhiệm vụ chính là học tập nên dạy học cần chú trọng hơn đến việc hình thành
tính tích cực học tập cho các em.
Theo Rebrova: “ Tính tích cực học tập của học sinh là một hiện tượng
sư phạm, thể hiện sự gắng sức cao về nhiều mặt trong quá trình học tập”
Theo GS Trần Bá Hoành: “ tính tích cực học tập là trường hợp đặc biệt
của tính tích cực nhận thức. Tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động cử học

Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Sinh - KTNN
- Sao chép, bắt chước : HS chăm chú quan sát, kiên trì làm theo động
tác của giáo viên. Tích cực luyện tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên hay
của bạn. Cấp độ tích cực này thường gặp ở học sinh tiểu học.
- Tìm tòi, phát hiện: HS không chỉ bắt chước , làm theo cách giải bài
tập, cách giải quyết vấn đề của thầy mà còn tự mình tìm cách giải hợp lý hơn.
- Sáng tạo : HS đề xuất những ý tưởng mới, cách giải quyết vấn đề độc
đáo. Tự nêu ra các tình huống mới hoặc xây dựng được bài tập có tính sáng
tạo. HS có thể thay đổi các yếu tố thí nghiệm hay đưa ra thí nghiệm mới để
chứng minh nội dung bài học.
** Mối quan hệ giữa tính tích cực học tập nhận thức
Các nhà lý luận dạy học đều khẳng định : “ Yếu tố nhận thức là cơ sở
tâm lý làm nảy sinh và duy trì tính tích cực học tập”.
Theo Comenxki : “…Tạo ra tình tích cực nhận thức làm cho học tập ở
trường trở thành niềm vui…”.
TT. Rutxo khẳng định: “…Việc lựa chọn phương pháp dạy học thích
hợp phải dưa trên hứng thú nhận thức của học sinh …”.
Uxinski cho rằng: “…Hứng thú nhận thức là cơ chế bên trong đảm bảo
cho hoạt động học tập hiệu quả…”.
Các nhà lý luận dạy học nước ta thì khẳng định: “…Hứng thú nhận
thức là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong quá trình thực hiện mục tiêu của
từng bài học và của cả sự nghiệp giáo dục…”.
Như vậy có tính tích cực học tập thì mới có quá trình nhận thức. Khi đã
có nhận thức thì tính tích cực học tập được tăng cường. Mối quan hệ giữa hai
yếu tố đó tạo nên tính hiệu quả trong học tập. Vì vậy, trong dạy học cần phát
huy tính tích cực của học sinh bằng việc tạo ra hứng thú nhận thức.
Điều kiện hình thành và duy trì hứng thú nhận thức: phải phát huy tối
đa hoạt động tư duy của HS bằng việc sử dụng các PPDH tích cực. Nội dung
học tập phải phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh. Cần tạo được

dạy học.
Dựa vào vai trò của BĐTD, người ta quan niệm : PTDH là tập hợp tác
đối tượng vật chất được GV sử dụng để điều khiển hoạt động nhận thức của
học sinh. Với HS thì PTDH như một nguồn tri thức phong phú, giúp HS lĩnh
hội kiến thức, rèn luyện kỹ năng trực quan.
Trong đề tài này chúng tôi coi Thiết bị dạy học hay còn gọi là đồ dùng
dạy học, phương tiện dạy học là tất cả những phương tiện vật chất có khả
năng chứa đựng hay chuyển tải thông tin về nội dụng dạy học nhằm hỗ trợ
GV và HS tổ chức và tiến hành hợp lý, có hiệu quả quá trình dạy học.

SVTH: Vũ Thị Huế

14

Lớp 34A – SP Sinh


Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Sinh - KTNN
1.1.2.2. Vị trí của PTDH trong quá trình dạy học
Có thể thấy được vị trí của PTDH qua sơ đồ sau :
Mục tiêu, kế hoạch

Nội dung DH

Phương pháp DH

Phương tiện DH
Như vậy, PTDH là một yếu tố cấu thành của quá trình dạy học. Nó giúp
gắn kết các yếu tố của quá trình dạy học hành một chỉnh toàn vẹn. Sự có mặt

việc lập BĐTD phát huy được tối đa năng lực sáng tạo của mỗi người.
Dạy học bằng BĐTD là phương pháp dạy học bằng cách sử dụng đồng
thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực của giáo
viên và học sinh. Đây là phương pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh góp
phần nhằm đổi mới và làm phong phú hơn cho các phương pháp giảng dạy có
tác dụng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.
BĐTD có thể được vẽ trước ở nhà hoặc vẽ ngay trên lớp và ngay trong
quá trình học.
1.1.3.2. Bản chất của BĐTD
Bản đồ tư duy là phương pháp kết nối mang tính đồ họa có tác dụng
lưu giữ, sắp xếp và xác lập ưu tiên đối với mỗi loại thông tin ( thường là trên
giấy ) bằng cách sử dụng từ hay hình ảnh then chốt hoặc gợi nhớ nhằm làm
“bật lên” những ký ức cụ thể và các phát sinh các ý tưởng mới. Mỗi chi tiết
gợi nhớ trong BĐTD là chìa khóa khai mở các sự kiện, ý tưởng và thông tin,
đồng thời khơi nguồn tiềm năng của bộ não kỳ diệu.
Bí quyết hiệu quả của BĐTD nằm ở dạng thể linh hoạt của nó. BĐTD
được vẽ dưới dạng một tế bào não và có công dụng kích thích não làm việc
nhanh chóng, hiệu quả một cách tự nhiên.

SVTH: Vũ Thị Huế

16

Lớp 34A – SP Sinh


Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Sinh - KTNN
BĐTD – một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một
kỹ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc

17

Lớp 34A – SP Sinh


Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Sinh - KTNN
phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của HS. Các em được khuyến khích
đóng góp ý kiến của mình, thuyết trình trước cả lớp là cho các em HS ngày
càng mạnh dạn và tự tin.
BĐTD giúp cả GV và HS có cách ghi chép kiến thức một cách hiệu
quả, lohic và mạch lạc và HS học được phương pháp học hiệu quả, phát triển
tư duy.
Sử dụng BĐTD giúp giáo viên tra được sự chuẩn bị bài của học sinh
một cách nhanh nhất. Ngoài ra nó còn đánh giá được năng lực nhận thức hay
ý thức học tập của từng học sinh, của toàn bộ lớp. Trên cơ sở đó có sự điều
chỉnh phương pháp giảng dạy cho phù hợp đối với từng lớp, khối lớp.
1.1.3.5. Phân loại BĐTD
BĐTD được phân loại theo nhiều cách khác nhau. Căn cứ vào mức độ
tóm lược kiến thức trên BĐTD dùng trong dạy học ta có các loại BĐTD sau:
* Bản đồ tư duy theo đoạn văn: là loại BĐTD với nội dung theo từng đoạn
văn nhỏ trong sách. Mỗi BĐTD dùng để tóm tắt một đoạn văn hoặc một trích
đoạn trong sách.
BĐTD theo đoạn văn giúp cho học sinh dễ dàng nắm vững từng đoạn
kiến thức nhỏ cũng như tiết kiệm thời gian ôn lại những thông tin cần thiết mà
không cần đọc lại đoạn văn đó.
Những BĐTD loại này có thể được vẽ vào những mẩu giấy nhỏ rồi
đính chúng vào trong SGK.
* Bản đồ tư duy theo chương hay chủ đề : Là loại BĐTD cho từng trang sách
riêng biệt hoặc cho các chủ đề khác nhau.

)
1.2.1. Thực tiễn dạy học với việc sử dụng BĐTD của GV THPT
* Kết quả thu được từ phân tích nội dung trả lời 5 câu hỏi như sau :
Câu 1. Phần (chương) nào trong SGK Sinh học lớp 12 mà thầy (cô) cho
là khó dạy nhất ?
Hầu hết ( 14/15) GV đều cho rằng chương I Cơ chế di truyền và biến dị
là chương có kiến thức rất trừu tượng, khó lại là chương đầu tiên và là chương
cơ sở cho nên việc dạy và học chương này gặp rất nhiều khó khăn. Có 1/15
GV không cho ý kiến.
Câu 2. Phương pháp chủ yếu thầy (cô) sử dụng để dạy học Sinh học 12
là gì ?
Một số ít (2/15) GV sử dụng phương pháp giảng giải còn hầu hết
(13/15) GV sử dụng phương pháp giảng giải kết hợp với việc sử dụng phiếu
học tập, biểu diễn trực quan, hỏi đáp, thí nghiệm...
Câu 3. Thầy (cô) có thường sử dụng BĐTD vào trong dạy học Sinh học
lớp 12 không ?

SVTH: Vũ Thị Huế

19

Lớp 34A – SP Sinh


Trích đoạn Các hình thức vẽ BĐTD Định hướng sử dụng hệ thống BĐTD vào dạy học Dạy học hợp tác nhóm với BĐTD
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status