Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài
chính
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,các số
liệu,kết quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình
thực tế của đơn vị thực tập.
Sinh viên
Phạm Văn Công
SV: Phạm Văn Công
i
Lớp: CQ48/15.01
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài
chính
MỤC LỤC
SV: Phạm Văn Công
ii
WTO :
Xuất khẩu
Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization)
SV: Phạm Văn Công
iii
Lớp: CQ48/15.01
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài
chính
DANH MỤC CÁC BẢNG
SV: Phạm Văn Công
iv
Lớp: CQ48/15.01
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài
chính
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch thanh toán xuất nhập khẩu của toàn
hệ thống VIB. Tuy nhiên, trong môi trường cạnh tranh gay gắt của các ngân
hàng trong và ngoài nước, trước những biến đổi không ngừng của nền kinh tế
trong nước và thế giới, áp lực từ các bộ luật được ban hành và sửa đổi liên tục
khiến các cán bộ VIB Hà Đông cần phải ngày càng hoàn thiện, khắc phục
những hạn chế để mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế. Đề tài báo cáo thực
tập “Giải pháp phát triển hoạt động thanh toán Quốc tế tại Ngân hàng
thương mại cổ phần quốc tế Việt Nam chi nhánh Hà Đông” sẽ góp phần
đưa thêm một góc nhìn chi tiết hơn về vấn đề này.
SV: Phạm Văn Công
1
Lớp: CQ48/15.01
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài
chính
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động
thanh toán quốc tế của chi nhánh VIB Hà Đông, phân tích và đánh giá những
yếu tố thuận lợi, khó khăn và kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả của
hoạt động thanh toán quốc tế.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của đề tài là hoạt động thanh toán quốc tế tại chi nhánh VIB
Hà Đông.
1.1. Hoạt động thanh toán của Ngân hàng thương mại
1.1.1. Ngân hàng thương mại
1.1.1.1. Khái niệm Ngân hàng thương mại
Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng thương mại
*Sự hình thành ngân hàng
Lúc đầu kinh doanh tiền tệ do nhà thờ đứng ra tổ chức vì đây là nơi tôn
nghiêm được dân chúng tin tưởng để ký gửi tài sản và vàng bạc. Về sau, do
nhận thấy việc kinh doanh này cũng có nhiều lợi lộc nên nhiều giới nhảy vào
kinh doanh tiền tệ.
Những tổ chức này được coi là tiền thân của ngân hàng. Thời kỳ cuối
thế kỷ 14 (thời kỳ phục hưng) phần lớn còn mang tính chất gia đình, các tổ
chức kinh doanh tiền tệ phát triển nhanh và mở rộng thêm nhiều nghiệp vụ
mới như chi trả bằng thương phiếu, tổ chức thanh toán bù trừ … chủ yếu là
các gia đình ở Pháp, ý, Anh, Đức. Ngân hàng ra đời sớm nhất ở Venise của ý
năm 1580. Đầu thế kỷ 17 (thời kỳ cận đại) xuất hiện một số tổ chức kinh
doanh tiền tệ lớn, sở hữu tư nhân được coi là khởi điểm của kỷ nguyên ngân
hàng hiện đại như ngân hàng Amsterdam (Hà Lan), ngân hàng Hamburg
(Đức) Châu âu.
* Sự phát triển của ngân hàng
SV: Phạm Văn Công
3
Lớp: CQ48/15.01
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài
chính
20. Nhiều nghiệp vụ truyền thống được giữ vững bên cạnh các nghiệp vụ
mới đang ngày càng phát triển.
Quá trình phát triển của ngân hàng đang tạo ra mối liên hệ ràng buộc ngày
càng chặt chẽ, sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn giữa các ngân hàng.
Vậy, Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các
dịch vụ tài chính đa dạng nhất- đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh
toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức
kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Theo luật các tổ chức tín dụng nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt
Nam thì: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ
ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền
này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán".
Như vậy, ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất
của nền kinh tế.
1.1.1.2. Chức năng của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh dịch
vụ tiền tệ. NHTM không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất như những
doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh nhưng tạo điều kiện thuận
lợi cho qúa trình sản xuất, lưu thông và phân phối sản phẩm xã hội bằng
cách cung ứng vốn tín dụng, vốn đầu tư cho các doanh nghiệp, các tổ chức
kinh tế mở rộng kinh doanh, góp phần tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế.
Vai trò quan trọng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế được thể
dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có
thể dùng để mua hàng hoá, dịch vụ. Do đó, bằng việc cho vay các ngân hàng
đã tạo ra phương tiện thanh toán. Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo ra
phương tiện thanh toán khi các khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng
SV: Phạm Văn Công
6
Lớp: CQ48/15.01
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài
chính
này đến ngân hàng khác trên cơ sở cho vay. Khi khách hàng tại một ngân
hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì tạo nên khoản thu của một khách
hàng khác từ đó tạo ra các khoản vay mới.
- Trung gian thanh toán
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết
các quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị
hàng hoá và dịch vụ. Để việc thanh toán thuận lợi và tiết kiệm chi phí, ngân
hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng
séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu...cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối
với các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn
thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua Ngân hàng Trung ương hoặc
thông qua các trung tâm thanh toán. Công nghệ thanh toán qua ngân hàng
càng đạt hiệu quả cao khi quy mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng.
tiết kiệm, đồng thời giảm phí tổn tín dụng đối với nhà đầu tư, từ đó khuyến
khích đầu tư. Cơ chế hoạt động của trung gian sẽ có hiệu quả khi nó gánh
chịu rủi ro và sử dụng các kỹ thuật nghiệp vụ để hạn chế, phân tán rủi ro.
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại và hoạt động
thanh toán của Ngân hàng thương mại
Như chúng ta đã biết, NHTM là một tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực
tiền tệ với hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách
hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, đầu tư,
thực hiện các nghiệp vụ thanh toán và các nghiệp vụ trung gian khác nhằm
thu được lợi nhuận tối đa trên cơ sở đảm bảo khả năng thanh khoản.
Có thể phân các hoạt động của NHTM thành ba hoạt động cơ bản là:
- Hoạt động huy động vốn.
- Hoạt động sử dụng vốn (cho vay và đầu tư).
SV: Phạm Văn Công
8
Lớp: CQ48/15.01
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài
chính
- Hoạt động trung gian thanh toán và các loại hình dịch vụ khác.
Ba hoạt động này có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau và có vai trò
quan trọng trong việc quyết định đến sự thành công trong hoạt động kinh
doanh của ngân hàng.
+ Tiền gửi có kỳ hạn: là loại tiền gửi mà khi gửi tiền vào có sự thoả thuận
giữa ngân hàng và khách hàng về thời hạn rút tiền. Tuy nhiên trên thực tế do
quá trình cạnh tranh, để thu hút tiền gửi các ngân hàng thường cho phép khách
hàng được rút tiền trước thời hạn nhưng không được hưởng lãi hoặc hưởng
mức lãi suất không kỳ hạn. Tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn mang tính ổn định
nên ngân hàng có thể sử dụng một cách chủ động làm nguồn vốn kinh doanh.
Vì vậy để thu hút khách hàng gửi tiền, ngân hàng thường đưa ra nhiều kỳ hạn
khác nhau và kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng cao.
+ Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: là hình thức huy động truyền thống
của ngân hàng. Các tầng lớp dân cư đều có khoản thu nhập tạm thời chưa sử
dụng. Trong điều kiện có khả năng tiếp cận với ngân hàng, họ đều có thể
gửi tiết kiệm nhằm mục đích bảo toàn và sinh lời đối với khoản tiết kiệm,
đặc biệt là nhu cầu bảo toàn. Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm,
các ngân hàng cố gắng khuyến khích dân cư thay đổi thói quen giữ vàng và
tiền mặt tại nhà bằng cách mở rộng mạng lưới huy động, đưa ra các hình
thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh. Sổ tiết kiệm này không dùng
để thanh toán tiền hàng và các dịch vụ song có thể thế chấp để vay vốn nếu
được ngân hàng cho phép.
+ Tiền gửi của các ngân hàng khác: nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ
và một số mục đích khác, NHTM có thể gửi tiền tại ngân hàng khác. Tuy
nhiên, quy mô nguồn này thường không lớn.
- Vốn huy động thông qua phát hành các giấy tờ có giá
SV: Phạm Văn Công
10
Lớp: CQ48/15.01
ngân hàng trung ương.
+ Vay ngân hàng Trung ương: đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu
cầu cấp bách trong chi trả của NHTM. Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ bắt
buộc, NHTM thường vay ngân hàng Trung ương. Hình thức cho vay chủ yếu
của ngân hàng Trung ương là tái chiết khấu hoặc tái cấp vốn.
+ Vay các tổ chức tín dụng khác: trong quá trình kinh doanh bất kỳ
doanh nghiệp nào cũng phát sinh tình trạng tạm thời thừa vốn, và ngược lại
cũng phát sinh tình trạng thiếu vốn. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng
cũng không tránh khỏi tình trạng đó. Đối với ngân hàng, cũng có lúc ngân
hàng huy động được vốn nhưng lại không sử dụng hết, trong khi đó vẫn phải
trả lãi tiền gửi. Ngược lại, có thời kỳ nhu cầu vốn cho vay và đầu tư rất lớn
nhưng khả năng nguồn vốn mà ngân hàng huy động được lại không đáp ứng
đủ. Trong những trường hợp này, ngân hàng có thể gửi vốn tạm thời vào
ngân hàng khác để lấy lãi hoặc đi vay vốn để mở rộng kinh doanh và khôi
phục khả năng thanh toán của ngân hàng.
Như vậy, NHTM có rất nhiều biện pháp nhằm thu hút tối đa các nguồn
vốn trong nền kinh tế, đó là: các khoản tiền gửi; tiền huy động thông qua
phát hành các giấy tờ có giá; huy động từ việc đi vay các ngân hàng khác.
1.1.2.2. Hoạt động sử dụng vốn (cho vay và đầu tư)
SV: Phạm Văn Công
12
Lớp: CQ48/15.01
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài
chính
Hoạt động đầu tư của NHTM được thể hiện dưới nhiều hình thức như:
đầu tư mua bán chứng khoán, đầu tư góp vốn cổ phần, góp vốn liên doanh
liên kết...Nhờ có những hoạt động đầu tư này mà các NHTM có thể sử dụng
và khai thác tối đa các nguồn vốn đã huy động, đa dạng hoá kinh doanh và
phân tán rủi ro, tăng cường thanh khoản cho dự trữ của ngân hàng. Đồng
thời, nó cũng mang lại nguồn thu nhập cho NHTM. Tuy nhiên, hoạt động
đầu tư ở mức độ nào còn tuỳ thuộc vào mô hình tổ chức NHTM ở mỗi nước.
Xu hướng chung trong hoạt động của các NHTM hiện nay là ngày càng phát
triển đa dạng các hoạt động kinh doanh và dịch vụ ngân hàng.
Hoạt động ngân quỹ là hoạt động phục vụ cho việc chi trả đối với
khách hàng, nó bao gồm nghiệp vụ quỹ tiền mặt, tiền gửi ở các ngân hàng
khác và ngân hàng Trung ương.
Mặc dù hoạt động ngân quỹ là hoạt động không mang tính đầu tư,
nhưng lại rất quan trọng đối với các NHTM bởi nó góp phần tăng cường khả
năng thanh toán và chi trả với khách hàng.
1.1.2.3. Hoạt động trung gian thanh toán và các loại hình dịch vụ khác
Tất cả các quan hệ trao đổi, mua bán hàng hoá, dịch vụ và các hoạt
động khác trong nền kinh tế đều được kết thúc bằng khâu thanh toán. Việc
thanh toán có thể được thực hiện trực tiếp bằng tiền hoặc không dùng tiền
mặt (Thanh toán chuyển khoản) thông qua trung gian ngân hàng.
SV: Phạm Văn Công
14
giao, văn hoá, khoa học kỹ thuật, du lịch...trong đó quan hệ kinh tế (mà chủ
yếu là ngoại thương) chiếm vị trí chủ đạo, là cơ sở cho các quan hệ quốc tế
khác tồn tại và phát triển. Quá trình tiến hành các hoạt động quốc tế dẫn đến
SV: Phạm Văn Công
15
Lớp: CQ48/15.01
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài
chính
những nhu cầu chi trả, thanh toán giữa các chủ thể ở các nước khác nhau, từ
đó hình thành và phát triển hoạt động TTQT, trong đó ngân hàng là cầu nối
trung gian giữa các bên.
Vậy, TTQT là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi
về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ
chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc
gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước
liên quan.
Như vậy, TTQT phục vụ cho hai lĩnh vực hoạt động là kinh tế và phi
kinh tế. Tuy nhiên, trong thực tế, giữa hai lĩnh vực hoạt động này thường giao
thoa với nhau, không có một ranh giới rõ rệt. Hơn nữa, do hoạt động TTQT
được hình thành trên cơ sở hoạt động ngoại thương và phục vụ chủ yếu cho
hoạt động ngoại thương, chính vì vậy, trong các qui chế về thanh toán và thực
tế tại các NHTM, người ta thường phân hoạt động TTQT thành hai lĩnh vực
rõ ràng là: Thanh toán trong ngoại thương (thanh toán mậu dịch) và Thanh
Khi tiến hành hoạt động TTQT, cần phải xác định năm vấn đề quan
trọng, đó là: Đồng tiền, địa điểm, phương tiện, phương thức và thời gian
thanh toán. Lựa chọn đồng tiền nào là một vấn đề quan trọng, vì không phải
bất kỳ đồng tiền của nước nào cũng có khả năng thực hiện TTQT, mà đồng
tiền đó phải “mạnh”, được các nước thừa nhận thực hiện trong hoạt động
TTQT, tiếp đến lựa chọn đồng tiền nào để phù hợp với nội dung cụ thể của
hoạt động TTQT, nhằm mang lại hiệu quả (thanh toán nhanh, hạn chế rủi ro
đến mức thấp nhất, đáp ứng được lợi ích của các bên....). Do vây, khi ký kết
các hợp đồng thương mại, tín dụng, hay các dịch vụ, các bên đàm phán
thường thống nhất về loại ngoại tệ được dùng trong giao dịch là đồng tiền
của nước nhập khẩu, nước xuất khẩu hay nước thứ ba.
* Thanh toán quốc tế phục vụ chủ yếu cho hoạt động kinh tế đối ngoại
TTQT phục vụ chủ yếu cho hoạt động kinh tế đối ngoại; trong đó phần
lớn phục vụ cho các giao dịch trong lĩnh vực ngoại thương. Thanh toán là
khâu quan trọng của một quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá, cụ thể khi
hoạt động thanh toán diễn ra đồng nghĩa với việc đảm bảo chắc chắn kết thúc
một phần hoặc toàn bộ giá trị của một quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ.
Nếu công tác TTQT được tổ chức tốt thì giá trị của hàng hoá trao đổi và dịch
vụ thực hiện giữa các chủ thể ở các quốc gia khác nhau mới được thực hiện,
góp phần thúc đẩy ngoại thương phát triển. TTQT trở thành một nhân tố quan
trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại trong điều kiện quan
hệ quốc tế ngày càng được mở rộng.
SV: Phạm Văn Công
17
Lớp: CQ48/15.01
NHTM luôn vươn tới.
SV: Phạm Văn Công
18
Lớp: CQ48/15.01
Luận văn tốt nghiệp
Học viện Tài
chính
- TTQT không chỉ là một nghiệp vụ ngân hàng thuần tuý mà còn đóng
vai trò là khâu trung tâm không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh
doanh, bổ sung và hỗ trợ các mặt hoạt động nghiệp vụ khác của ngân hàng
nên nó gián tiếp tạo ra lợi nhuận từ các mặt hoạt động này.Với vai trò là trung
gian thanh toán, TTQT góp phần phát triển và đẩy mạnh hoạt động tín dụng,
tài trợ xuất nhập khẩu (XNK), kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh và các dịch vụ
khác, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của khách hàng trong và ngoài nước, từ đó
tăng qui mô hoạt động và mở rộng thị phần của ngân hàng.
- TTQT tạo môi trường ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến, hiện đại
trên thế giới trong hoạt động ngân hàng. Thông qua việc tham gia nối mạng
thông tin và ứng dụng công nghệ cao trong xử lý thông tin giúp cho ngân
hàng có thể theo kịp với sự phát triển của thế giới, không bị lạc hậu và thua
kém các ngân hàng nước ngoài.
- Phát triển TTQT tạo điều kiện cho các ngân hàng mở rộng quan hệ
với các ngân hàng nước ngoài, nâng cao uy tín trên trường quốc tế cũng như
uy tín đối với khách hàng trong và ngoài nước, từ đó khai thác được các
thì không cần thiết phải ghi chú ngày tháng.
-Ký hậu hối phiếu
Ký hậu là một thủ tục pháp lý dùng để chuyển nhượng hối phiếu.
Người hưởng lợi muốn chuyển nhượng hối phiếu cho người khác thì phải ký
vào mặt sau của tờ hối phiếu rồi chuyển hối phiếu cho người đó. Người ký
hâu không cần phải nêu lý do của sự chuyển nhượng và cũng không cần phải
thông báo cho người trả tiền biết về sự chuyển nhựợng đó. Người ký hậu
không những đảm bảo rằng người trả tiền hối phiếu có mắc nợ số tiền ghi trên
hối phiếu mà còn đảm bảo rằng mình sẽ trả tiền hối phiếu đó cho những
người được chuyển nhượng, nếu như người trả tiền từ chối thanh toán hối
phiếu đó.
SV: Phạm Văn Công
20
Lớp: CQ48/15.01