BHXH Đối Với Khu Vực Kinh Tế NQD Trên Địa Bàn Quận Hai Bà Trưng Thành Phố Hà Nội - Pdf 34

Lời mở đầu
BHXH là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nớc, thực hiện chính sách
BHXH trong các DN NQD không những đảm bảo sự công bằng giữa những ngời
lao động, mà còn đảm bảo sự công bằng giữa các DN thuộc các thành phần kinh
tế. Số lợng lao động của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang tăng lên và trở
thành một bộ phận đáng kể trong toàn bộ lực lợng lao động xã hội.
Tuy nhiên việc thực hiện chính sách BHXH ở khu vực này còn bộc lộ
nhiều yếu kém. Các đơn vị, DN cha có sự hiểu biết rõ ràng về BHXH , tình trạng
trốn tránh nghĩa vụ tham gia BHXH luôn xảy ra, và nh vậy quyền lợi của ngời lao
động không đợc đảm bảo.
Với các nhà quản lý thì vấn đề lớn đặt ra là: làm thế nào để cải thiện tình
hình thực hiện BHXH đối với khu vực NQD? Bằng cách nào để giúp ngời lao
động nhận thức đợc vai trò của BHXH để họ thấy đợc quyền lợi chính đáng của
mình để từ đó có trách nhiệm đòi hỏi phải đợc đối xử đúng, làm sao để nâng cao
ý thức trách nhiệm của các chủ doanh nghiệp ...đây là vấn đề bức xúc nhất hiện
nay.
Bằng hiểu biết hạn chế của mình với mong muốn đóng góp một số ý kiến
quan điểm trong lĩnh vực này, qua quá trình thực tập tại cơ quan BHXH quận Hai
Bà Trng, tôi đã lựa chọn đề tài: BHXH đối với khu vực kinh tế NQD trên địa
bàn quận Hai Bà Trng thành phố Hà Nội
Ngoài lời nói đầu và kết luận, nội dung chuyên đề này gồm có 3 phần nh sau:
Phần I: BHXH- cơ sở lý luận và thực tiễn
Phần II: tình hình thực hiện chính sách BHXH cho lao động khu vực NQD.
Phần III: Một số kiến nghị giải pháp thúc đẩy việc thực hiện chính sách
BHXH cho lao động NQD.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song do trình độ lý luận và thực tiễn còn hạn
chế, thời gian thực tập có hạn nên chuyên đề chắc chắn không tránh khỏi những
thiếu sót. Vì vậy em rất mong nhận đợc sự góp ý chỉ bảo của các thầy cô và các
bạn để bài viết của em đợc hoàn thiện hơn.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS.TS Hồ Sĩ Sà- ngời trực
tiếp hớng dẫn, cảm ơn các bác các chú, các cô tại cơ quan BHXH quận Hai Bà

Đức và trở thành chế độ bắt buộc đợc giao cho đội Tơng tế của công nhân quản
lý. Năm 1884 chế độ bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp (tai nạn lao động, bệnh nghể
nghiệp) xuất hiện và do hiệp hội các chủ doanh nghiệp quản lý.
Nh vậy, từ 1883 đến 1889 một hệ thống BHXH đầu tiên ra đời với sự tham
gia bắt buộc của những ngời làm công ăn lơng, theo nguyên tắc ngời đợc bảo
hiểm xã hội phải đóng phí BHXH và 3 thành viên xã hội là ngời lao động, ngời
sử dụng lao động, Nhà Nớc đều có vị trí trong việc quản lý hệ thống BHXH. Từ
đó rất nhiều nớc đã áp dụng cơ chế này trong hệ thống các chế độ BHXH của
mình. Theo gơng Đức, 1918 Pháp thực hiện BH phổ cập trong cả nớc nhng không
thành công. Năm 1930 Pháp thông qua đạo luật thứ hai về BHXH, áp dụng chủ
yếu cho ngành công nghiệp và thơng mại.


Từ thập kỷ 30 của thế kỷ XX, BHXH đã lan rộng sang Châu Mỹ La Tinh,
Hoa Kỳ và Canada. Gần cuối đại chiến thế giới lần thứ hai và sau khi giành đợc
độc lập, nhiều nớc Châu Phi, Châu á và vùng Caribe cũng lần lợt áp dụng cơ chế
BHXH tơng tự. Cũng thời gian này nhiều nớc còn mở rộng thêm những chế độ
trợ cấp khác và xuất hiện thêm khái niệm mới bảo đảm xã hội . Khái niệm này
đợc chính thức sử dụng tại Mỹ- Luật 1935 vể bảo đảm xã hội, theo đó bảo đảm
xã hội bao gồm các chế độ BHXH nh: trợ cấp ốm đau, tàn tật, tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp, thai sản, tử tuất, hu trí, trợ cấp gia đình; ngoài ra còn có cứu
trợ xã hội, u đãi xã hội. Nh vậy, bảo đảm xã hội có phạm vi rộng hơn, nó bao
gồm BHXH trong đó.
Tuy xuất phát từ một cơ chế BHXH tuỳ theo điều kiện đặc điểm kinh tế xã
hội của mỗi nớc mà họ áp dụng các chế độ BHXH khác nhau. Nhìn chung,
BHXH ở các nớc đợc thực hiện từng phần, lúc đầu chỉ có một số chế độ, sau đó
tuỳ nhu cầu thực tế phát sinh và mở thêm các chế độ khác. Khi xét thấy những
chế độ nào phù hợp nhất sẽ đợc u tiên thực hiện trớc. Cho đến nay, hầu hết các nớc trên thế giới đều đã ban hành và thực hiện các điều luật về BHXH đối với ngời
lao động. Theo Introduction to social security ILO Genera trong tổng số trên 163
nớc tính đến năm 1993 có hệ thống BHXH thì có đến 155 nớc cam kết thực hiện

doanh nghiệp t nhân, lao động tự tạo việc làm.
Tự nguyện: số lao động còn lại.
Các chế độ BHXH:
Chế độ dài hạn: hu trí, tử tuất.
Chế độ ngắn hạn: mất sức lao động, chăm sóc y tế, tai nạn lao động, trợ cấp thất
nghiệp.
Mức đóng và mức hởng BHXH:
Mức đóng: ngời lao động đóng 4% tiền lơng, ngời sử dụng lao động đóng 20 %
so quỹ lơng.
Mức hởng: hởng 75% thu nhập bình quân đối với ngời có trên 20 năm công tác,
hởng 60% cho ngời có 10 năm công tác liên tục.
Tổ chức quản lý:
Hoạt động BHXH ở Trung Quốc chịu sự quản lý của hội đồng Nhà Nớc, công
đoàn Trung Ương, Bộ y tế quốc gia.
Singapore:
Phạm vi đối tợng:
Bắt buộc: ngời làm công ăn lơng thờng xuyên và có thu nhập trên 50$/ tháng,
công nhân viên chức Nhà Nớc, lao động nớc ngoài c trú thờng xuyên.
Tự nguyện: ngời tự tạo việc làm, ngời không thuộc lực lợng lao động(
+ đối tợng đợc hởng BHXH là CNVC và LLVT.


+ đối tợng hởng BHXH không phải đóng phí BHXH, chi phí cho BHXH
chủ yếu do nguồn ngân sách Nhà Nớc đảm bảo, một phần do khoản nộp nghĩa vụ
của các doanh nghiệp. Vì vậy không tồn tại quỹ BHXH độc lập, nằm ngoài
NSNN.
+ chính sách BHXH gắn chặt với chính sách tiền lơng và đan xen với chính
sách xã hội khác.
+ nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý và thực hiện BHXH: Bộ lao động,
công đoàn, bộ tài chính...
Bộ tài chính có trách nhiệm thu phần quỹ dành để chi trả trợ cấp hu trí.Tổng liên
đoàn lao động Việt Nam có trách nhiệm thu và chi trả các chế độ trợ cấp thờng
xuyên nh ốm đau, thai sản, TNLĐ và BNN. Bộ lao động-Thơng binh và xã hội
giải quyết những vấn đề có liên quan đến hu trí, mất sức.
Qua thực tế hoạt động cho thấy trong thời gian này, Bảo hiểm xã hội đã
đảm bảo trợ cấp cho hàng triệu ngời lao động, giúp họ vợt qua khó khăn trong
cuộc sống. BHXH đã thực sự trở thành chỗ dựa vững chắc quan trọng cho một bộ
phận lao động trong xã hội, đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và
bảo vệ đất nớc. Tuy nhiên bên cạnh đó chính sách BHXH giai đoạn này cũng đã
bộc lộ rất nhiều hạn chế:
+ thứ nhất, phạm vi đối tợng tham gia BHXH đến thời điểm này dù đã trải
qua 30 năm hoạt động nhng mới chỉ giới hạn trong phạm vi CNVCNN và LLVT.
Điều này đã làm hạn chế đến việc thực hiện mục tiêu, các nguyên tắc và phát huy
tác dụng của chính sách BHXH , phủ nhận vai trò của các thành phần kinh tế và
không đảm bảo công bằng xã hội đối với mọi đối tợng lao động.
+ thứ hai, hệ thống BHXH thời kỳ này không có sự tồn tại quỹ BHXH độc
lập theo đúng tính chất của nó. Quỹ BHXH dù đã đợc thực hiện nhng cha đợc
tách khỏi NSNN bởi thời kỳ này quỹ BHXH đợc lây ra từ ngân sách là chính.
+ thứ ba, việc tổ chức quản lý quỹ phân tán và thiếu chặt chẽ. Trong giai

Công chức viên chức Nhà nớc ( cả cán bộ trong cơ quan Đảng, đoàn thể).
Ngời lao động làm việc trong các doanh nghiệp các tổ chức dịch vụ thuộc
lực lợng vũ trang.
Ngời giữ chức vụ dân cử, bầu cử trong các cơ quan quản lý Nhà Nớc,
Đảng, đoàn thể từ trung ơng đến cấp hu.
Ngoài ra, những ngời đi học, công tác, điều trị...vẫn hởng lơng thì vẫn
thuộc đối tợng BHXH. Cán bộ xã thuộc diện hởng sinh hoạt phí Nghị định 09/CP
(23/1/98). Ngời lao động làm việc trong các cơ quan dân lập thuộc lĩnh vực y tế,
văn hoá, giáo dục,thể dục thể thao ( NĐ 73 CP- Thông t liên tịch số 26 tháng 11
năm 2000).
Về các chế độ BHXH:
Theo quy định của Bộ luật lao động và Điều lệ BHXH , hiện nay nớc ta áp dụng
5 chế độ BHXH đó là:
Trợ cấp ốm đau
Trợ cấp thai sản


Trợ cấp TNLĐ và BNN
Hu trí
Tử tuất


Về nguồn quỹ BHXH:

Điều 36 điều lệ BHXH quy định.
+ Ngời sử dụng lao động đóng 15% tổng quỹ tiền lơng (10% chi cho
trí, tử tuất và 5% cho cho các chế độ ngắn hạn).

hu


về quyền lợi BHXH đối với mọi ngời lao động, tạo điều kiện cho việc di chuyển
và sử dụng lao động dễ dàng hơn góp phần thúc đẩy mọi thành phần kinh tế càng
phát triển.
Thứ hai, thành lập quỹ BHXH độc lập với NSNN đã taọ lên cơ chế tài
chính BHXH mới, đúng đắn.
Nguồn thu BHXH xã hội trong những năm gần đây
Đơn vị: tỷ VND
Năm

1996

1997

1998

1999

2000

2001

Số thu

2.569

3.446

3.876

4.188

bắt buộc chỉ chiếm 14% lao động toàn xã hội( khoảng hơn 6 triệu ngời), còn lại
trên 86% lao động làm việc trong các doanh nghiệp sử dụng dới 10 lao động, lao
động nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh vẫn cha đợc tham
gia BHXH. Trong thời gian tới, các cơ quan chức năng đang nghiên cứu xem xét
để mở rộng đối tợng tham gia và triển khai loại hình bảo hiểm thất nghiệp. điều
này, càng củng cố niềm tin vào chính sách đờng lối sự lãnh đạo của Đảng và Nhà
nớc.

2.

Sự cần thiết khách quan của BHXH đối với ngời lao động
thuộc mọi thành phần kinh tế.

Con ngời muốn tồn tại và phát triển, trớc hết phải đợc ăn, mặc, ở, đi lại,...
để thoả mãn những nhu cầu tối thiểu đó ngời ta phải lao động để tạo ra những sản
phảm cần thiết. Khi sản phảm tạo ra ngày càng nhiều thứ đời sống con ngời càng
đầy đủ và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn. Nh vậy, việc thoả mãn các
nhu cầu sinh sống và phát triển của con ngời phụ thuộc vào chính khả năng lao
động của họ. Trong nền sản xuất xã hội, con ngời luôn là động lực chính, là trung
tâm cho sự phát triển KTXH. Họ là ngời trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất và
dịch vụ cho xã hội, đồng thời cũng là ngời trực tiếp tiêu dùng những sản phảm,
dịch vụ đó. Nhng trong khi lao động sản xuất không phải lúc nào con ngời cũng
chỉ gặp thuận lợi về vật chất tinh thần, điều kiện sinh sống bình thờng. Trái lại có
rất nhiều trờng hợp khó khăn bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm giảm hoặc
mất thu nhập, gây khó khăn cho hiện tại và tơng lai. Ví nh bất ngờ bị ốm đau, tai
nạn lao động, mất việc làm hay khi tuổi già khả năng lao động và khả năng tự
phục vụ bị suy giảm. Khi rơi vào những trờng hợp này các nhu cầu cần thiết
trong cuộc sống không vì thế mà mất đi, trái lại có nhu cầu lại tăng lên, thậm chí
còn xuất hiện một số nhu cầu mới nh cần đợc khám bệnh và điều trị khi ốm đau,
tai nạn thơng tật cần ngời chăm sóc nuôi dỡng... Vậy muốn ổn định cuộc sống

huy trí tuệ và sức lực của mình vào công việc kinh doanh đem lại lợi nhuận cao
nhất.
Đối với xã hội, do có quỹ tài chính này mà những khó khăn do giảm hoặc
mất thu nhập sảy đến với ngời lao động đợc trang trải một phần chính từ sự đóng
góp của họ. Điều này giúp cho gánh nặng ngân sách đợc giảm bớt, tạo điều kiện
để nhà nớc dành nguồn quỹ vào những mục đích khác nhằm đem lại ấm no hạnh
phúc cho mọi ngời dân trong xã hội.

3.Nội dung của BHXH
a. Khái niệm:
BHXH theo quan điểm riêng của từng nớc có những cách hiểu khác nhau.
Tuy vậy, về cơ bản khái niệm về BHXH đợc hiểu đó là sự tổ chức, phân phối quỹ
BHXH tập trung đợc tiền tích dần do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH
nhằm đảm baỏ thu nhập do tạm thời hoặc vĩnh viễn mất khả năng lao động nh
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hu trí, tử tuất.
Theo quá trình phát triển của BHXH, cho đến nay BHXH đã trở thành một
trong những quyền cơ bản của con ngời và đã đợc xã hội thừa nhận. Trong tuyên
ngôn nhân quyền 10/12/1948 của Liên hợp quốc đã ghi: Tất cả mọi ngời với t
cách là thành viên của xã hội có quyền hởng BHXH, quyền đó đợc đặt cơ sở trên
sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá, nhu cầu cho nhân cách và


sự tự do phát triển của con ngời. Và hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới
đều thực hiện chế độ BHXH.
Tổ chức lao động quốc tế ILO (International Labor Organization) một tổ
chức quốc tế đợc thành lập để bảo vệ quyền lợi của ngời lao động trên toàn thế
giới đã định nghĩa về BHXH nh sau: BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các
thành viên của mình thông qua việc huy động các nguồn đóng góp để trợ cấp cho
họ nhằm khắc phục những khó khăn về kinh tế xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu
nhập gây ra bởi mất sức lao động tạm thời hoặc vĩnh viễn nhằm góp phần ổn định

o Xét về mặt kinh tế xã hội:
Có thể nói BHXH vừa mang bản chất kinh tế vừa mang bản chất xã hội. điều này
đợc thể hiện cụ thể:
+ Về bản chất kinh tế : khi ngời lao động đóng góp một phần nhỏ trong
tiền lơng của mình vào quỹ BHXH nhng khi có rủi ro xảy ra thì họ đợc quỹ
BHXH phân phối lại thông qua các khoản trợ cấp giúp cho đời sống kinh tế của
ngời lao động và gia đình họ không bị ảnh hởng lớn. Nh vậy an toàn về mặt kinh
tế của cá nhân ngời lao động luôn đợc đảm bảo. trong phạm vi toàn bộ nền kinh
tế quốc dân, hoạt động của BHXH mang nội dung của quá trình phân phối và
phân phối lại một phần thu nhập trong dân c thông qua việc hình thành và sử
dụng quỹ BHXH.
+ Về bản chất xã hội : nhờ thực hiện nguyên tắc số đông bù số ít mà quỹ
BHXH luôn có đợc một lợng đủ lớn, đủ trang trải mọi chi phí cho những rủi ro xã
hội gây ra. BHXH đợc xem nh là một loạt các hoạt động mang tính xã hội nhằm
đảm bảo đời sống cho ngời dân và làm lành mạnh xã hội. Thông qua đó mà bảo
vệ và phát triển nguồn lao động xã hội, mở rộng sản xuất , phát triển kinh tế , ổn
định trật tự xã hội nói chung. BHXH mang tính nhân văn và nhân đạo sâu sắc vì
lợi ích của con ngời trong những hoàn cảnh gặp khó khăn, vì an sinh xã hội và có
ý nghĩa xã hội lâu dài.
Bản chất kinh tế và bản chất xã hội của BHXH luôn có sự đan xen hoà
quyện. Khi nói tính kinh tế thì bao hàm cả tính xã hội và ngợc lại.
o Phơng diện chính trị:
BHXH là sự liên kết giữa các nhóm ngời lao động khác nhau trong xã hội
cùng vì lợi ích chung của cộng đồng, trong đó các cá nhân tham gia BHXH cũng
phản ánh bản chất của một chế độ xã hội nhất định. đối với một quốc gia đây còn
là một hoạt động thể hiện thái độ trách nhiệm của Chính phủ đối với ngời dân
trong xã hội. Trong rất nhiều nớc sự không ổn định hay rối loạn của hệ thống
BHXH đều có tác động rất mạnh mẽ đến hệ thống chính trị các nớc đó. Vì lẽ đó
chính sách BHXH là một bộ phận quan trọng trong hệ thống các chính sách quản
lý đất nớc của các quốc gia.

hội.
+ CNVC Nhà Nớc do đợc quản lý về thu nhập nên dễ dàng huy động sự
đóng góp của họ.
Trong BHXH có một phần bao cấp của ngân sách, do vậy số lợng càng ít
càng giảm nhẹ gánh nặng cho NSNN.
Chức năng của BHXH:
Những chức năng chủ yếu của BHXH đợc thể hiện nh sau:


- Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho ngời lao động tham gia
BHXH khi khi họ bị suy giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động hoặc
mất việc làm. Sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy
cho cùng, mất khả năng lao động sẽ đến với tất cả mọi ngời lao động khi hết tuổi
lao động theo quy định của BHXH. Còn mất việc làm hoặc mất khả năng lao
động tạm thời làm giảm hoặc mất thu nhập, ngời lao động cũng sẽ đợc hởng trợ
cấp BHXH với mức hởng phụ thuộc vào các điều kiện cần thiết, thời điểm và thời
hạn đợc hởng phải đúng quy định. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó
quyết định nhiệm vụ tính chất, cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH.
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những ngời tham gia
BHXH. Tham gia BHXH không chỉ có ngời lao động mà còn bao gồm ngời sử
dụng lao động. Các bên tham gia đều phải đóng góp vào quỹ BHXH, quỹ này đợc dùng để trợ cấp cho một số ngời lao động tham gia khi họ bị giảm hoặc mất
thu nhập. Số lợng ngời này chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số những ngời
tham gia đóng góp. Nh vậy, theo quy luật số đông bù số ít, BHXH thực hiện phân
phối lại theo cả chiều dọc và chiều ngang. Phân phối lại giữa những ngời có thu
nhập cao và thấp, giữa những ngời khoẻ mạnh đang làm việc với những ngời ốm
yếu...thực hiện chức năng này có nghĩa là BHXH đã góp phần thực hiện công
bằng xã hội.
- Góp phần kích thích ngời lao động hăng hái lao động sản xuất, nâng cao
NSLĐ cá nhân và NSLĐ xã hội. Khi khoẻ mạnh tham gia LĐSX, ngời lao động
đợc chủ sử dụng lao động trả công hoặc tiền lơng, khi bị ốm đau thai sản, tai nạn

để trợ cấp hoặc bồi thờng thiệt hại cho ngời tham gia, nếu thiệt hại đó thuộc rủi
ro bảo hiểm. Thực chất phần đóng góp của mỗi ngời lao động là không đáng kể
nhng quyền lợi nhận đợc là rất lớn khi gặp rủi ro. Đối với ngời sử dụng lao động
việc tham gia BHXH là để bảo hiểm cho ngời lao động mà mình sử dụng. Dới
góc độ kinh tế họ cũng có lợi do không phải bỏ ra một khoản tiền lớn để trang
trải cho những ngời lao động bị mất, giảm khả năng lao động. Đối với Nhà Nớc
BHXH đã góp phần đắc lực giảm gánh nặng cho ngân sách, đồng thời quỹ
BHXH còn là nguồn đầu t đáng kể cho nền kinh tế quốc dân.
+ Tính xã hội:
BHXH là một bộ phận chủ yếu trong hệ thống bảo đảm xã hội. Tính xã hội
của hoạt động bảo hiểm phản ánh tính cộng đồng, tính nhân đạo của bảo hiểm.
Bảo hiểm hoạt động theo nguyên tắc số đông bù số ít do đó bảo hiểm phải thu
hút số đông ngời tham gia, phải thâm nhập vào mọi hoạt động trong nền kinh tế.
Tính xã hội còn thể hiện trách nhiệm của xã hội đối với các thành viên của mình
nh trách nhiệm của ngơì sử dụng lao động đối với ngời lao động.
+ Tính dịch vụ của BHXH :
Bảo hiểm là ngành hoạt động dịch vụ, sản phẩm của bảo hiểm có những
đặc thù riêng. Là ngành dịch vụ BHXH phải thoả mãn yêu cầu của mọi thành
viên xã hội, mọi đơn vị kinh tế xã hội trong nền kinh tế quốc dân.
c. Hình thức và các chế độ BHXH:
Hình thức BHXH :


Hiện nay ở nớc ta và các nớc trên thế giới đang tiến hành hai loại hình
BHXH cho ngời lao động: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện.
BHXH bắt buộc: đây là hình thức BHXH mang tính cỡng chế bắt buộc các
bên chủ và thợ thực hiện. Nó không phụ thuộc ý kiến chủ quan của ngời lao động
và ngời sử dụng lao động. Đây là hình thức nhằm bảo vệ quyền lợi cho ngời lao
động và trách nhiệm từ phía ngời sử dụng lao động.
BHXH tự nguyện: loại hình BHXH tuỳ theo ý muốn chủ quan của ngời lao

Nớc ta tuy cha phê chuẩn công ớc 102 của ILO nhng đã áp dụng lần lợt
hầu hết các chế độ tổng hợp trong công ớc.
d. Nguồn quỹ và mục đích sử dụng:
+ Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài NSNN. Quỹ đợc hình
thành từ 3 nguồn sau:
Đóng góp của ngời sử dụng lao động
Đóng góp của ngời lao động
Sự hỗ trợ của Nhà nớc.
Ngoài ra, quỹ còn đợc bổ sung từ các nguồn khác nh: lãi đầu t, hỗ trợ từ
các tổ chức từ thiện, các khoản phạt...Quỹ BHXH đợc dùng để chi trả trợ cấp
BHXH, ngoài ra quỹ đợc trích một phần cho chi phí quản lý bộ máy sự nghiệp
BHXH từ trung ơng đến địa phơng. Nguồn thu quỹ phải đảm bảo vững chắc và
ổn định, đều đặn, phải luôn có lợng dự trữ để ứng phó với những tình huống đột
xuất có thể xảy ra nh dịch bệnh, số ngời thôi việc, về hu lớn trong một năm có
nhu cầu lĩnh trợ cấp 1 lần...Trong trờng hợp lạm phát nguồn thu phải đợc điều
chỉnh thích hợp, vì thế nguồn thu BHXH đợc tính theo tỷ lệ so tiền lơng là hết
sức hợp lý và tiện lợi, đảm bảo ổn định về nguồn quỹ của BHXH.
Trách nhiệm đóng góp vào quỹ BHXH đợc phân chia cho cả ngời sử dụng
lao động và ngời lao động trên cơ sở quan hệ lao động. Các quy định của Nhà nớc là những chuẩn mực pháp lý mà cả ngời lao động và ngời sử dụng lao động
phải tuân theo, những tranh chấp chủ thợ trong lĩnh vực BHXH có cơ sở vững
chắc để giải quyết. Với nhiều hình thức biện pháp và mức độ can thiệp khác
nhau, Nhà nớc không chỉ tham gia đóng góp và hỗ trợ thêm cho quỹ BHXH mà
còn trở thành chỗ dựa để đảm bảo hoạt động BHXH ổn định.
Về phơng thức đóng góp BHXH của ngời lao động và ngời sử dụng lao
động hiện vẫn có hai quan điểm. Quan điểm thứ nhất cho rằng: phải căn cứ vào lơng từng cá nhân và quỹ lơng của cơ quan, DN; quan điểm thứ hai lại căn cứ vào
thu nhập thực tế mà ngời lao động có đợc để xác định mức đóng góp.
Về mức đóng góp BHXH, một số nớc quy định ngời sử dụng lao động chịu
toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động, chính phủ chi trả chi phí y tế và trợ
cấp gia đình, các chế độ còn lại cả ngời lao động và ngời sử dụng lao động cùng


Theo tổ chức lao động quốc tế ILO quỹ BHXH đợc sử dụng để trợ cấp cho các
đối tợng tham gia BHXH nhằm ổn định cuộc sống của bản thân và gia đình họ
khi gặp rủi ro. Theo công ớc 102 tháng 6/1952 tại Giơnevơ có 9 chế độ trợ cấp,


mỗi chế độ trong hệ thống khi xây dựng đều dựa trên những cơ sở kinh tế xã hội,
tài chính, tiền lơng...Tuỳ từng chế độ khi xây dựng còn phải tính đến các yếu tố
sinh học, tuổi thọ bình quân của mỗi quốc gia...
Các chế độ BHXH trên có những đặc thù riêng biệt,đó là :
Mỗi chế độ đều mang tính chất chia sẻ rủi ro, tài chính
Các chế độ đợc xây dựng theo luật pháp mỗi nớc
Việc chi trả các chế độ đợc căn cứ vào mức đóng góp của các bên tham gia
BHXH
Các chế độ hầu nh đều đợc chi trả định kỳ
Đồng tiền đợc sử dụng làm phơng tiện chi trả và thanh quyết toán
Chi trả BHXH là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH.
Mức chi trả còn phụ thuộc vào quỹ dự trữ. Nếu quỹ đợc đầu t an toàn hiệu
quả thì mức chi trả sẽ cao và ổn định. Các chế độ BHXH cần phải đợc điều chỉnh
định kỳ để theo kịp sự thay đổi điều kiện kinh tế xã hội.
Ngoài việc chi trả trợ cấp cho các chế độ BHXH, quỹ BHXH còn đợc sử
dụng cho chi phí quản lý nh: lơng cho nhân viên làm BHXH, khấu hao tài sản cố
định, các khoản chi khác... Phần quỹ nhàn rỗi đợc đem đầu t sinh lợi để bảo toàn
và tăng trởng nguồn quỹ này. Việc đầu t quỹ BHXH phải đảm bảo các nguyên
tắc: an toàn, có lợi nhuận, có khả năng thanh toán và đảm bảo các lợi ích kinh tếxã hội.
e. Phơng thức quản lý của BHXH
Hiện nay, ở nớc ta cũng nh các nớc khác trên thế giới, việc tổ chức quản lý
BHXH đợc thực hiện bao gồm hai phần:
+ Quản lý nhà nớc về BHXH và quản lý sự nghiệp BHXH
Quản lý nhà nớc về BHXH xuất phát từ chức năng quản lý, điều tiết kinh tế xã
hội của một Nhà nớc. Trên cơ sở các văn bản luật và dới luật, Nhà nớc định ra

+ Tuyên truyền, giáo dục.
+ Đào tạo, bồi dỡng.
Bộ máy quản lý hoạt động sự nghiệp. Hoạt động theo ngành dọc theo sơ đồ sau:
Bộ LĐ-TBXH

BHXH Việt Nam

Sở LĐ-TBXH

BHXH tỉnh-thành phố


Phòng LĐ-TBXH

BHXH quận

f. Một số nguyên tắc hoạt động của BHXH.
Hoạt động của BHXH liên quan đến rất nhiều đối tợng, phạm vi rộng lớn
và thể hiện rất nhiều mặt khác nhau. Để thực hiện đợc chức năng là đảm bảo an
toàn cho con ngời, khuyến khích con ngời trong quá trình làm việc và huy động
sử dụng hiệu quả nguồn lao động xã hội, hoạt động này phải tuân thủ một số
nguyên tắc nhất định. Do mục đích và tính chất hoạt động của BHXH khôg hoàn
toàn nh nhau trong mọi điều kiện , do vậy không thể có những nguyên tắc chung
thống nhất co mọi trình độ phát triển , cho mọi hình thức BHXH ở tất cả các nớc.
Về cơ bản, hoạt động BHXH phải tuân thủ những nguyên tắc chung sau:
+ BHXH thực hiện trên cơ sở số đông bù số ít:
Mọi ngời cùng tham gia, cùng đóng góp hình thành nên quỹ tài chính độc
lập tập trung (quỹ BHXH). Quỹ này đợc dùng để chi trả trợ cấp cho những ngời
lao động khi gặp rủi ro gây giảm hoặc mất thu nhập. Mức đóng góp BHXH do đó
thờng xuyên rất thấp nên phần lớn ngời lao động có thể đóng góp rõ ràng. Nhng

thân họ đó là sự lao động và cống hiến.
Đối với ngời lao động khi gặp phải những rủi ro không mong muốn, không
hoàn toàn hay trực tiếp do lỗi của ngời khác thì trớc hết đó là rủi ro bản thân.
Muốn đợc bảo hiểm xã hội , muốn đợc san sẻ, dàn trải rủi ro của mình cho những
ngời khác thì trớc hết phải tự mình gánh chịu cho mình đã. Có nghĩa là ngời lao
động , tự bản thân mình phải tham gia BHXH để tự bảo hiểm cho mình trớc.
+Mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lơng lúc đang đi làm , nhng
thấp nhất cũng phải đảm bảo mức sống tối thiểu.
Tiền lơng là khoản tiền mà ngời sử dụng lao động trả cho ngời lao động
khi họ thực hiện công việc nhất định. Điều đó có nghĩa là chỉ những ngời lao
động có sức khoẻ bình thờng, có việc làm và thực hiện công việc nhất định mới
có tiền lơng. Khi họ bị tai nạn, ốm đau, tuổi già thì họ không thể thực hiện đợc
công việc nhất định đó nữa, nhng nếu trớc đó họ có tham gia BHXH thì họ sẽ đợc
hởng trợ cấp bảo hiểm và đơng nhiên trợ cấp này không thể bằng tiền lơng do lao
động tạo ra.
Nếu đợc trợ cấp BHXH bằng hoặc cao hơn tiền lơng thì khi đó ngời lao
động sẽ không hề cố gắng lao động mà ngợc lại họ sẽ viện lý do ốm đau, thai
sản,... để đợc hởng trợ cấp. Mặt khác, khi ngời lao động gặp rủi ro hoặc vì một lý
do nào đó không thể làm việc đợc thì khi đó họ không tạo ra sản phẩm, họ không
góp phần nhằm duy trì phát triển công ty , không tạo ra lợi nhuận, họ sống dựa
vào sự trợ cấp của xã hội và đơng nhiên mức trợ cấp này phải thấp hơn mức lơng
đang hởng.
Bên cạnh đó, thì mức trợ cấp BHXH thấp nhất cũng không thể thấp hơn
mức sống tối thiểu, điều này tuân thủ mục đích của BHXH là đảm bảo ổn định
cuộc sống cho ngời lao động , bù đắp lại những rủi ro về thu nhập xảy ra đối với
ngời lao động.


II. BHXH đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.


- DNTN: là DN do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn
bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.


- Công ty TNHH, công ty cổ phần: là doanh nghiệp trong đó các thành
viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tơng ứng với phần vốn
góp của mình vào công ty.
Luật doanh nghiệp mới có quy định hai loại hình công ty TNHH (trớc chỉ
quy định loại hình công ty TNHH 2 thành viên trở lên) là: công ty TNHH 1 thành
viên, công ty TNHH có 2 thành viên trở lên.
- Công ty hợp danh: là doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất 2 thành viên
hợp danh; ngoài các thành viên hợp danh có thểt có các thành viên góp vốn.
Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề
nghiệp, phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của
công ty. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty
trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
- Hợp tác xã: chơng I điều 1 của Luật hợp tác xã đã nêu rõ: HTX là tổ
chức kinh tế tự chủ do những ngời lao động có nhu cầu lợi ích chung, tự nguyện
cùng góp vốn góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh
của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các
hoạt động sản xuất , kinh doanh , dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát
triển kinh tế xã hội của đất nớc.
Đặc điểm chung của các đơn vị sản xuất kinh doanh ngoài quốc doanh:
+ Về phân bố:
Với sự quan tâm của Nhà Nớc trong việc khuyến khích phát triển khu vực
kinh tế NQD , khu vực này đã có rất nhiều những thuận lợi trong hoạt động kinh
doanh, có đợc một môi trờng kinh doanh bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh (dù có
phần gay gắt hơn so khu vực kinh tế quốc doanh).
Tuy nhiên, ở khu vực này có sự phát triển mất cân đối giữa các vùng, thành
thị phát triển hơn nông thôn, kinh tế NQD vẫn chỉ tập trung ở các thành phố lớn (


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status