Học viện tài chính
1
Luận văn tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình
hình thực tế của đơn vị thực tập.
Tác giả luận văn tốt nghiệp
(Ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Đức Cường
SV: Nguyễn Đức Cường
Lớp: CQ48/11.07
Học viện tài chính
2
Luận văn tốt nghiệp
MỤC LỤC
Trang
Tài sản lưu động
TSCĐ
Tài sản cố định
TSNH
Tài sản ngắn hạn
TSDH
Tài sản dài hạn
VKĐ
Vốn kinh doanh
VLĐ
Vốn lưu động
VCĐ
Vốn cố định
VCSH
Vốn chủ sở hữu
Lớp: CQ48/11.07
Học viện tài chính
6
Luận văn tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương mại
thế giới WTO, các doanh nghiệp Việt Nam đã thực sự tham gia vào một sân
chơi bình đẳng với các doanh nghiệp trên toàn thế giới thì hầu hết các doanh
nghiệp Việt Nam ở tất cả mọi lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh đều là
các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), thị trường còn tương đối nhỏ, năng lực
tài chính và khả năng quản lý còn gặp nhiều hạn chế. Vì vậy ở thời điểm hiện
tại và đặc biệt là trong những năm tiếp theo khi chúng ta thực hiện đầy đủ các
cam kết của tổ chức WTO thì SME của chúng ta sẽ phải cạnh tranh rắt gay
gắt với các doanh nghiệp nước ngoài cũng như là trong nước để giành giật thị
trường, tồn tại và phát triển. Vì vậy, khi thị trường với những sự cạnh tranh
gay gắt như vậy sẽ loại bỏ những doanh nghiệp có năng lực yếu kém, không
đủ khả năng để tiếp tục cuộc chơi. Một trong những nguyên nhân chính dẫn
đến sự thất bại của các SME là do năng lực quản trị tài chính hạn chế, đặc biệt
trong việc hoạch định nguồn tài trợ và quản trị vốn lưu động, thể hiện qua tình
trạng thiếu vốn, mất tính thanh khoản. Hiện tại, đây cũng là một vấn đề thực
sự nhức nhối đối với các SME, vì vậy sau hơn 2 tháng thực tập tại Tổng Công
ty đầu tư Hà Thanh - CTCP em đã quyết định chọn đề tài “Tăng cường quản
trị vốn lưu động tại tổng công ty đầu tư Hà Thanh - CTCP” cho bài báo
cáo thực tập tốt nghiệp của mình.
trị vốn lưu động của doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng quản trị vốn lưu động tại Tổng Công ty
đầu tư Hà Thanh – CTCP trong thời gian qua.
Chương 3: Một số giải pháp tài chính chủ yếu nhằm góp phần
nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ ở Tổng Công ty đầu tư Hà Thanh CTCP.
Em xin chân thành cảm ơn PGS/tiến sĩ: Vũ Công Ty, Ban giám đốc
cùng cán bộ công nhân viên tổng công ty đầu tư Hà Thanh – CTCP đã giúp
đỡ em hoàn thành đề tài này. Dù đã rất cố gắng nhưng bài viết của em không
tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định, em rất mong nhận được những ý
kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các anh chị trong tổng công ty để bài
viết của em được hoàn chỉnh hơn.
SV: Nguyễn Đức Cường
Lớp: CQ48/11.07
Học viện tài chính
8
Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ
QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Vốn lưu động và nguồn vốn lưu động trong doanh nghiệp.
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm vốn lưu động của doanh nghiệp
Để tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài các tư liệu lao động, các
kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục nên vốn lưu động cũng vận
động liên tục, chuyển hoá từ hình thái này qua hình thái khác. Sự vận động
của vốn lưu động qua các giai đoạn có thể mô tả bằng sơ đồ sau:
T
T-H-SX-H’- T’
ÄT
Đối với doanh nghiệp thuộc lĩnh vực lưu thông, quá trình vận động của
vốn lưu động theo trình tự sau:
T
T – H – T’
ÄT
Sự vận động của vốn lưu động trải qua các giai đoạn và chuyển hoá từ
hình thái ban đầu là tiền tệ sang các hình thái vật tư hàng hoá và cuối cùng
quay trở lại hình thái tiền tệ ban đầu gọi là sự tuần hoàn của vốn lưu động. Cụ
thể là sự tuần hoàn của vốn lưu động được chia thành các giai đoạn như sau:
- Giai đoạn 1(T-H): khởi đầu vòng tuần hoàn, vốn lưu động dưới hình
thái tiền tệ được dùng để mua sắm các đối tượng lao động để dự trữ cho sản
xuất. Như vậy ở giai đoạn này vốn lưu động đã từ hình thái tiền tệ chuyển
sang hình thái vốn vật tư hàng hoá.
- Giai đoạn 2(H-SX-H’): ở giai đoạn nay doanh nghiệp tiến hành sản
xuất ra sản phẩm, các vật tư dự trữ được đưa dần vào sản xuất. Trải qua quá
trình sản xuất các sản phẩm hàng hoá được chế tạo ra. Như vậy ở giai đoạn
SV: Nguyễn Đức Cường
Lớp: CQ48/11.07
Học viện tài chính
SV: Nguyễn Đức Cường
Lớp: CQ48/11.07
Học viện tài chính
11
Luận văn tốt nghiệp
* Phân loại theo vai trò từng loại vốn lưu động trong quá trình sản
xuất kinh doanh.
Theo cách phân loại này, vốn lưng động được phân thành:
- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: bao gồm giá trị của vật tư,
nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ lao động
- Vốn lưu động trong khâu sản xuất: bao gồm giá trị của sản phẩm dở
dang, bán thành phẩm, chi phí chờ kết chuyển.
- Vốn lưu động trong khâu lưu thông bao gồm: giá trị của thành
phẩm, vốn bằng tiền (kể cả vàng bạc đá quí..); các khoản đầu tư ngắn hạn và
các khoản ký cược, ký quí ngắn hạn; các khoản phải thu.
Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bố của từng loại vốn
trong trong từng khâu của quá trình kinh doanh. Từ đó doanh nghiệp có thể
điều chỉnh cơ cấu sao cho có hiệu quả sử dụng cao nhất.
* Phân loại theo hình thái biểu hiện.
Theo cách này người ta chia vốn lưu động thành 2 loại:
- Vốn vật tư hàng hoá bao gồm giá trị của vật tư, nhiên liệu, phụ tùng
thay thế, công cụ lao động, bao gồm giá trị của sản phẩm dở dang, bán thành
phẩm, thành phẩm.
- Vốn bằng tiền bao gồm vốn bằng tiền (kể cả vàng bạc đá quí..); các
NVLĐ tạm thời = Vốn vay ngắn hạn + Vốn chiếm dụng hợp pháp
1.2 Quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm và mục tiêu của quản trị vốn lưu động
của doanh nghiệp
* Khái niệm quản trị vốn lưu động:
Quản trị vốn lưu động là các quyết định liên quan đến các vấn đề về
vốn lưu động và tài sản ngắn hạn bao gồm quản trị tiền mặt, các khoản phải
thu, hàng tồn kho nhằm đảm bảo quá trình tái sản xuất diễn ra thường xuyên
và liên tục.
* Mục tiêu của quản trị vốn lưu động:
SV: Nguyễn Đức Cường
Lớp: CQ48/11.07
Học viện tài chính
13
Luận văn tốt nghiệp
Quản trị, sử dụng hợp lí tài sản lưu động cũng như vốn lưu động có ảnh
hưởng rất lớn đối với việc hoàn thành các mục tiêu chung của doanh nghiệp.
Việc quản trị tốt vốn lưu động sẽ giúp cho doanh nghiệp có điều kiện phát triển
sản xuất kinh doanh đồng thời áp dụng được những tiến bộ khoa học kĩ thuật
hiện đại. Từ đó, tạo ra khả năng để doanh nghiệp nâng cao năng suất và chất
lượng sản phẩm, hạ thấp chi phí giá thành sản phẩm, đồng thời khai thác được
các nguồn vốn và sử dụng vốn có hiệu quả, tiết kiệm, làm tăng tốc độ luân
chuyển vốn lưu động, giảm bớt nhu cầu vay vốn, giảm bớt chi phí lãi vay.
Lớp: CQ48/11.07
Học viện tài chính
15
Luận văn tốt nghiệp
• Phương pháp 1: Phương pháp trực tiếp:
Nội dung của phương pháp này là căn cứ vào các yếu tố ảnh
hưởng trực tiếp đến lượng vốn của doanh nghiệp phải ứng ra để dự trữ vật
tư, sử dụng và tiêu thụ sản phẩm để xác định nhu cầu từng khoản vốn lưu
động trong từng khâu rồi tổng hợp lại toàn bộ nhu cầu vốn lưu động
thường xuyên của doanh nghiệp.
Phương pháp này được xác định theo công thức sau:
Nhu cầu vốn lưu
động thường xuyên
=
Dự trữ vật
+
tư hàng hóa
Nợ phải
thu
chịu bình quân 1
ngày dự kiến
Giá trị NVL, hàng hóa mua
chịu bình quân 1 ngày
Phương pháp này có ưu điểm là xác định nhu cầu vốn lưu
động được chính xác, vì nhu cầu vốn lưu động được xác định theo từng
loại vật tư ở từng khâu. Nhưng nhược điểm là mất nhiều thời gian và
chậm trễ khi lập kế hoạch nhu cầu vốn lưu động.
SV: Nguyễn Đức Cường
Lớp: CQ48/11.07
Học viện tài chính
16
Luận văn tốt nghiệp
• Phương pháp 2: phương pháp gián tiếp:
Phương pháp này dựa vào thống kê kinh nghiệm về sử dụng
vốn lưu động bình quân báo cáo, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh năm kế
hoạch để xác định nhu cầu vốn lưu động cho năm kế hoạch.
Việc xác định được thực hiện theo trình tự sau:
Xác định số dư bình quân các khoản phải thu, vật tư tồn kho.
Xác định tỷ lệ các khoản trên doanh thu thuần cả năm. Trên cơ sở
điều kiện sử dụng linh hoạt nguồn tài chính, việc bố trí nguồn vốn nào sẽ
dùng để tài trợ cho nhu cầu vốn nào tạo ra các kiểu mô hình tài trợ với những
ưu, nhược điểm riêng biệt. Có 3 mô hình tài trợ vốn cho doanh nghiệp:
* Mô hình tài trợ thứ nhất: toàn bộ TSCĐ và TSLĐ thường xuyên
được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên, toàn bộ TSLĐ tạm thời được
đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời.
- Lợi ích của áp dụng mô hình này:
+ Giúp cho doanh nghiệp hạn chế được rủi ro trong thanh toán, mức
độ an toàn cao hơn.
+ Giảm bớt được chi phí trong việc sử dụng vốn.
- Hạn chế của việc sử dụng mô hình này:
+ Chưa tạo được sự linh hoạt trong việc tổ chức sử dụng vốn, thường
vốn nào nguồn nấy, tính chắc chắn được đảm bảo hơn, song kém linh hoạt.
Trong thực tế, có khi doanh thu biến động, khi gặp khó khăn về tiêu
thụ, doanh nghiệp phải tạm thời giảm bớt đi quy mô kinh doanh, nhưng vẫn
phải duy trì một lượng vốn thường xuyên khá lớn.
* Mô hình tài trợ thứ hai: Toàn bộ TSCĐ, TSLĐ thườn xuyên và
một phần của TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên,
và một phần TSLĐ tam thời còn lại được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời.
Sử dụng mô hình này khả năng thanh toán và độ an toàn ở mức cao,
tuy nhiên, doanh nghiệp phải sử dung nhiều khoản vay dài hạn và trung hạn
nên doanh nghiệp phải trả chi phí nhiều hơn cho việc sử dụng vốn.
SV: Nguyễn Đức Cường
Lớp: CQ48/11.07
Học viện tài chính
SV: Nguyễn Đức Cường
Lớp: CQ48/11.07
Học viện tài chính
19
Luận văn tốt nghiệp
và phát triển của doanh nghiệp, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường
hiện nay. Doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động có hiệu quả, điều này đồng
nghĩa với việc doanh nghiệp tổ chức được tốt quá trình mua sắm dự trữ vật tư,
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, phân bổ hợp lý vốn trên các giai đoạn luân
chuyển để vốn luân chuyển từ loại này thành loại khác, từ hình thái này sang
hình thái khác, rút ngắn vòng quay của vốn.
Để quản lý vốn lưu động được tốt cần phải phân loại vốn lưu động. Có
nhiều cách phân loại vốn, mỗi cách phân loại có tác dụng riêng phù hợp với
yêu cầu của công tác quản lý. Thông qua các phương pháp phân loại giúp cho
nhà quản trị tài chính doanh nghiệp đánh giá tình hình quản lý và sử dụng vốn
của những kỳ trước, rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý
kỳ để ngày càng sử dụng hiệu quả hơn vốn lưu động. Cũng như từ các cách
phân loại trên doanh nghiệp có thể xác định được cơ cấu vốn lưu động của
mình theo những tiêu thức khác nhau.
Trong các doanh nghiệp khác nhau thì cơ cấu vốn lưu động cũng
không giống nhau. Việc phân tích cơ cấu vốn lưu động của doanh nghiệp theo
các tiêu thức phân loại khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn những
đặc điểm riêng về số vốn lưu động mà mình đang quản lý và sử dụng. Từ đó
xác định đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý vốn lưu động có hiệu quả
tiền mặt.
William Baumol là người đầu tiên đưa ra mô hình quản lý tiền mặt
chính thức liên kết giữa chi phí cơ hội và chi phí giao dịch (C*). Mô hình của
ông có thể được dùng để tính toán mức số dư tiền mặt mục tiêu và được xác
định bằng công thức:
C* =
Trong đó:
C*: Số dư tiền mặt mục tiêu.
T: Tổng nhu cầu về tiền mặt trong một chu kỳ.
F: Chi phí một lần giao dịch.
K: Lãi suất trên thị trường.
SV: Nguyễn Đức Cường
Lớp: CQ48/11.07
Học viện tài chính
21
Luận văn tốt nghiệp
Như vậy, nếu doanh nghiệp giữ số tiền mặt ở mức quá thấp, doanh
nghiệp sẽ gặp phải khó khăn trong việc thanh toán, do đó có thể doanh nghiệp
phải bán các tài sản lưu động có tính thanh khoản cao thường xuyên hơn là nếu
giữ số tiền mặt cao hơn, điều đó sẽ làm cho chi phí giao dịch tăng lên. Ngược lại,
chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền mặt sẽ tăng lên, khi số tiền mặt giữ lại tăng.
Do đó, nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải xác định được số dư tiền mặt mục
tiêu hay nói cách khác chính là sự cân đối giữa chi phí cơ hội của việc nắm giữ
Do đó, nếu công ty có dư thừa tiền mặt tạm thời, công ty có thể đầu tư vào
các chứng khoán ngắn hạn. Các loại chứng khoán có khả năng chuyển đổi
thành tiền mặt cao là những công cụ tài chính được mua bán trên thị trường
tiền tệ hay thị trường vốn có tính linh hoạt rất cao. Việc đầu tư vào các loại
chứng khoán này có vai trò như một bước đệm cho quản lý tiền mặt, khi
lượng tiền mặt của doanh nghiệp giảm thấp hơn mức ấn định, các loại chứng
khoán này được dùng để chuyển đổi nhanh thành tiền mặt. Ngược lại, tiền
nhàn rỗi có thể được đầu tư tạdm thời vào các loại chứng khoán này. Tuy
nhiên, khi đầu tư vào các loại chứng khoán cần xem xét kỹ các đặc tính như
tính thanh khoản, tính rủi ro, thời gian đáo hạn, lợi nhuận kỳ vọng.
Để thực hiện các nội dung quản lý tiền mặt nói trên doanh nghiệp có
thể sử dụng các biện pháp như:
- Tăng tốc độ thu hồi tiền mặt
- Giảm tốc độ chi tiêu tiền mặt
Trong đó tăng tốc độ thu hồi tiền mặt có thể được thực hiện thông qua
việc khuyến khích khách hàng thanh toán sớm với việc áp dụng chính sách
chiết khẩu đối với các khoản nợ được thanh toán trước hay đúng hạn, quy
định phương thức thanh toán phù hợp với từng đối tượng khách hàng tổ chức
theo dõi và đôn đốc thu hồi công nợ.
Giảm tốc độ chi tiêu tiền mặt là việc thay vì dùng tiền thanh toán sớm
các hoá đơn mua hàng, người quản lý tài chính có thể trì hoãn việc thanh toán
trong phạm vi thời gian và các chi phí tài chính, tiền phạt hay sự suygiảm vị
thế tín dụng của doanh nghiệp thấp hơn những lợi ích cho việc thanh toán
chậm mang lại.
SV: Nguyễn Đức Cường
Lớp: CQ48/11.07
lới lỏng, tỷ lệ chiết khấu tăng, thời gian bán chịu dài và phương thức thu tiền bớt
SV: Nguyễn Đức Cường
Lớp: CQ48/11.07
Học viện tài chính
24
Luận văn tốt nghiệp
gắt gao. Tuy nhiên, trong việc thiết lập chính sách tín dụng và tổ chức thực hiện
nó, người làm công tác quản lý tài chính phải xác minh được phẩm chất tín dụng
của khách hàng trên cơ sở đó thiết lập các tiêu chuẩn tín dụng thích hợp, bởi nếu
các tiêu chuẩn tín dụng quá cao có thể loại bỏ nhiều khách hàng tiềm năng do đó
làm giảm lợi nhuận. Ngược lại, nếu tiêu chuẩn tín dụng quá thấp sẽ làm tăng
doanh số bán nhưng đồng thời cũng làm cho rủi ro tín dụng tăng, gia tăng các
khoản nợ khó đòi, chi phí thu tiền tăng lên.
* Theo dõi các khoản phải thu, phải trả:
Người làm công tác quản lý tài chính phải theo dõi thường xuyên các
khoản phải thu nhằm xác định đúng thực trạng của chúng và đánh giá đúng
tính hữu hiệu của chính sách thu tiền của doanh nghiệp, kịp thời phát hiện các
khoản tín dụng có vấn đề để có biện pháp giải quyết thích ứng. Để theo dõi
các khoản phải thu, phải trả có thể sử dụng các công cụ sau đây.
- Kỳ thu, trả tiền bình quân:
Kỳ thu tiền bình quân phản ánh số ngày cần thiết để thu được các
khoản phải thu, kỳ trả tiền bình quân phản ánh số ngày cần thiết để doanh
nghiệp trả các khoản phải trả, được xác định theo công thức:
rất lớn mặt dù mô hình thanh toán không thay đổi.
- Mô hình số dư các khoản phải thu: Phương pháp này đo lường phần
doanh số bán chịu của mỗi tháng vẫn chưa thu được tiền tại thời điểm cuối tháng
đó và tại thời điểm kết thúc của tháng tiếp theo. Ưu điểm của mô hình này so với
mô hình phân tích tuổi của các khoản phải thu là nó hoàn toàn không chịu sự tác
động của yếu tố thời vụ mức biến động của doanh số bán không ảnh hưởng tới
sự phân bổ hợp lý những khoản nợ tồn đọng theo thời gian.
1.2.2.6. Quản trị hàng tồn kho.
Hàng tồn kho là những tài sản mà doanh nghiệp lưu trữ để sản xuất hoặc
bán ra sau này. Trong các doanh nghiệp, hàng tồn kho dự trữ thường ở 3 dạng:
- Nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ
- Các sản phẩm dở dang, bán thành phẩm
- Các thành phẩm, hàng hoá chờ tiêu thụ
Quản lý hàng tồn kho bao gồm việc lập kế hoạch, tổ chức và quản lý
các hoạt động nhằm vào nguyên vật liệu, hàng hoá đi vào, đi qua và đi ra khỏi
SV: Nguyễn Đức Cường
Lớp: CQ48/11.07