Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty TNHH chứng khoán ACB - Pdf 35

Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Mọi số liệu
và kết quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình thực
tế của đơn vị thực tập.
Tác giả luận văn tốt nghiệp
Nguyễn Thanh Thảo

Nguyễn Thanh Thảo

1

Lớp:CQ48/17.02


Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Nguyên văn
Thị trường chứng khoán
Công ty chứng khoán
Công ty TNHH Chứng khoán ACBS
Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh


Lớp:CQ48/17.02


Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Nguyễn Thanh Thảo

4

Lớp:CQ48/17.02


Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán (TTCK) đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới
nhưng mới chỉ được thành lập tại Việt Nam hơn một thập kỷ. Trước năm 2000,
thuật ngữ TTCK còn khá xa lạ. Từ cuối tháng 7 năm 2000, TTCK Việt Nam đi
vào hoạt động nhưng chưa có dấu hiệu của sự sôi nổi, đối tượng tham gia chủ
yếu là các công ty chứng khoán (CTCK) và một số ít nhà đầu tư cá nhân. Đến
cuối năm 2006, TTCK Việt Nam mới thực sự bùng nổ. Có được kết quả này là
do định hướng phát triển và hội nhật kinh tế đúng đắn của Đảng và Chính phủ,

ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới. Thị trường chứng khoán mất
điểm liên tục, nhà đầu tư mất niềm tin, dòng tiền rút khỏi thị trường, các công ty
chứng khoán liên tục làm ăn thua lỗ. Điều này buộc các công ty chứng khoán
phải đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng của công ty về mọi
mặt. Đến đầu năm 2013, thị trường đang dần được phục hồi, việc các công ty
chứng khoán tăng cường để giành lấy thị phần của mình là điều dễ hiểu.
Trong hoàn cảnh đó, cạnh tranh đang dần trở thành một khái niệm không
xa lạ đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế nói chung cũng như các công ty
chứng khoán nói riêng. Riêng với các công ty chứng khoán, hoạt động đầu tư
nâng cao năng lực cạnh tranh là điều tất yếu, nó không những giúp nâng cao vị
thế của công ty trên thị trường mà còn có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của thị
trường chứng khoán Việt Nam. ACBS cũng vậy, mục tiêu của công ty trong giai
đoạn 2011 -2015 là trở thành một trong 3 ngân hàng đầu tư có quy mô và thi
phần lớn nhất, hoạt động an toàn, ổn định và hiệu quả tại Việt Nam. Công ty
cũng cần thúc đẩy quá trình cạnh tranh ở mọi mặt. Với mong muốn đóng góp
một số ý kiến nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty em đã chọn đề tài:
“Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Chứng khoán
ACB”.
2. Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vào một số vấn đề cơ bản như:
Thứ nhất, hệ thống những vấn đề có tính lý luận về hoạt động của CTCK,
cạnh tranh và năng lực cạnh tranh, những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh
Nguyễn Thanh Thảo

66

Lớp:CQ48/17.02


Luận văn tốt nghiệp

77

Lớp:CQ48/17.02


Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Chứng
khoán ACB
Do còn hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm và thực tế và cách diễn đạt ý, nên
luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự chỉ bảo,
góp ý của các thầy cô giáo để luận văn của em ngày càng hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn PGS. TS. Hoàng Văn Quỳnh, Ban lãnh đạo công
ty, các anh chị trong phòng Môi giới chứng khoán của Công ty TNHH Chứng
khoán ACB đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành bài luận văn này.

Nguyễn Thanh Thảo

88

Lớp:CQ48/17.02


Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

CHƯƠNG 1


Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

chịu đựng các biến động của thị trường chứng khoán. Mặt khác, ngân hàng sẽ tận
dụng được thế mạnh chuyên môn và vốn để kinh doanh chứng khoán.
Tuy vậy, mô hình nay cũng bộc lộ một số hạn chế như: không phát triển
được thị trường cổ phiếu vì các ngân hàng có xu hướng bảo thủ và thích hoạt
động cho vay hơn là bảo lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Đồng thời, các ngân
hàng cũng dễ gây lũng đoạn thị trường và các biến động trên thị trường chứng
khoán nếu có, sẽ ảnh hưởng mạnh tới hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân
hàng không tách bạch giữa hai loại hình kinh doanh này.
Sơ đồ 1.1: Mô hình CTCK đa năng hoàn toàn
NGÂN HÀNG

TIỀN TỆ

CHỨNG KHOÁN

BẢO HIỂM

Mô hình công ty chuyên doanh: Theo mô hình này, hoạt động chuyên doanh
chứng khoán sẽ do các công ty độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán
đảm nhận, các ngân hàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán.
Mô hình này khắc phục được hạn chế của mô hình đa năng là giảm rủi ro
cho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho các công ty chứng khoán kinh doanh
chuyên môn hóa, thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán.

Nguyễn Thanh Thảo

phép hình thành mô hình công ty đa năng một phần, các NHTM thành lập công
ty con để chuyên kinh doanh chứng khoán.

Nguyễn Thanh Thảo

11

Lớp:CQ48/17.02


Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

1.1.2 Các nguyên tắc hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán
1.1.2.1 Nguyên tắc tài chính
Do tính đặc thù trong hoạt động nên hầu hết các nước đều đặt ra các
nguyên tắc, quy định rất chặt chẽ về tài chính đối với công ty chứng khoán.
Thông thường, các công ty chứng khoán đảm bảo tuân thủ các tiêu chí sau:
- Mức vốn hoạt động: vốn của công ty chứng khoán nhiều hay ít phụ thuộc vào
loại tài sản cần tài trọ, loại tài sản này lại được quyết định bởi loại hình nghiệp
vụ thực hiện.
Ở Việt Nam, theo điều 18, Nghị định số 14/2007/NĐ-CP quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật chứng khoán năm 2006, vốn pháp định cho các
nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán công ty chứng khoán, công ty chứng khoán
có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh công ty chứng khoán nước ngoài tại Việt
Nam. Cụ thể:
Môi giới chứng khoán
25 tỷ đồng Việt Nam
Tự doanh chứng khoán


60%) và tổng giá trị cổ phiếu (khoảng 90%).

+ Tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản ròng phải duy trì ở mức độ nhất định.
- Quản lý vốn và hạn mức kinh doanh: bên cạnh việc đáp ứng các tiêu chí về
mức vốn hoạt động, cơ cấu vốn, công ty chứng khoán phải tuân thủ các nguyên
tắc về việc sử dụng vốn và các hạn mức trong kinh doanh. Các nguyên tắc này
khác nhau tùy theo đặc điểm của từng nghiệp vụ mà các tổ chức kinh doanh
chứng khoán thực hiện. Nhìn chung các nguyên tắc về sử dụng vốn do pháp luật
đặt ra đối với công ty chứng khoán bao gồm: cơ cấu vốn (tỷ lệ nợ so với vốn chủ
sở hữu), mức vốn khả dụng phải duy trì, trích lập quỹ bù đắp rủi ro, quỹ dự trữ
bổ sung vốn điều lệ,…
Đối với việc quản lí hạn mức kinh doanh, tùy theo từng nước mà có các
quy định khác nhau, thông thường các nước quy định một số hạn mức sau để hạn
chế rủi ro đối với công ty chứng khoán cũng như đảm bảo hạn chế xung đột lợi
ích có thể xảy ra:
+ Hạn chế mức mua sắm tài sản cố định theo một tỷ lệ phần trăm trên vốn
điều lệ.
+ Hạn mức đầu tư vào mỗi loại chứng khoán: Thường hạn mức đầu tư vào
các loại chứng khoán được niêm yết được cao hơn hạn mức đầu tư vào các loại
chứng khoán không niêm yết.
+ Hạn mức đầu tư vào một số những tài sản rủi ro cao như các loại trái phiếu
có định mức tín nhiệm thấp hay cổ phiếu của những công ty đang phát triển.
Nguyễn Thanh Thảo

13

Lớp:CQ48/17.02




14

Lớp:CQ48/17.02


Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

- Khi thực hiện nghiệp vụ tư vấn, công ty chứng khoán phải cung cấp đầy đủ
thông tin cho khách hàng và giải thích rõ về các rủi ro mà khách hàng có thể phải
gánh chịu, đồng thời không được khẳng định về lợi nhuận của các khoản đầu tư
mà họ tư vấn.
- Không được phép nhận bất kỳ khoản thù lao nào ngoài thù lao thông thường
cho dịch vụ của mình.
Ngoài các quy định trên pháp luật các nước cũng có điều khoản chốn thao
túng thị trường như hạn chế sự hợp tác giữa các công ty chứng khoán, cấm giao
dịch mua bán giả tạo và khớp lệnh với mục đích tạo ra một trạng thái giao dịch tích
cực bên ngoài. Các công ty chứng khoán cũng không được đưa ra các lời đồn đại,
xúi giục hoặc làm các hành vi lừa đảo khác trong giao dịch chứng khoán.
Bên cạnh các quy định về thao túng giá thị trường, giao dịch nội gián cũng
là những vấn đề được quản lý chặt chẽ. Theo đó các CTCK không được phép sử
dụng các thông tin nội bộ mà mình có được để mua bán chứng khoán cho chính
mình, gây thiệt hại đến lợi ích của khách hàng.
1.1.3 Vai trò của công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán
Trong quá trình phát triển của thị trường chứng khoán, các công ty chứng
khoán có vai trò hết sức quan trong, thể hiện qua:
Thứ nhất, vai trò huy động vốn
Công ty chứng khoán là một trong những trung gian chính có chức năng huy

mua chứng khoán vào khi giá chứng khoán trên thị trường đang giảm và bán ra
khi giấ chứng khoán cao.
Thứ ba, vai trò thực thi tính hoán tệ của chứng khoán
Các công ty chứng khoán đảm nhận chức năng chuyển đổi này, giúp cho
nhà đầu tư ít chịu thiệt hại nhất khi tiến hành đầu tư. Trong hầu hết các nghiệp
vụ ở Sở giao dịch chứng khoán và thị trường phi tập trung, một nhà đầu tư có thể
hàng ngày chuyển đổi tiền mặt thành chứng khoán và ngược lại mà không phải
chịu thiệt hại đáng kể đối với giá trị khoản đầu tư.
Thứ tư, vai trò tư vấn đầu tư
Các công ty chứng khoán không chỉ thực hiện mệnh lệnh của khách hàng
mà còn tham gia vào nhiều dịch vụ tư vấn khác nhau thông qua việc nghiên cứu

Nguyễn Thanh Thảo

16

Lớp:CQ48/17.02


Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

thị trường rồi cung cấp thông tin cho các công ty và cá nhân đầu tư. Dịch vụ tư
vấn có thể gồm:
- Thu thập thông tin phục vụ mục đích của khách hàng
- Cung cấp thông tin về khả năng đầu tư khác nhau cũng như triển vọng ngắn
hạn và dài hạn của các khoản đầu tư đó trong tương lai.
- Cung cấp thông tin về chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ có liên quan
đến các khoản đầu tư mà khách hàng đang cân nhắc.

phân tích, công bố báo cáo phân tích và khuyện nghị liên quan đến chứng khoán.
Để có thể tư vấn cho khách hàng điều quan trọng là những nhân viên tư vấn đầu
tư của CTCK phải am hiểu đầu tư, phải thấy được cơ hội kiếm tiền khi ngưởi
khác chưa thấy, phải tìm ra được nhiều giải pháp tài chính khác nhau để giúp
giải quyết vấn đề tài chính của khách hàng. Nói chung là nhà tư vấn phải am
hiểu về kế toán, đấu tư, thị trường và pháp luật.
Đối với nhà tư vấn khi hành nghề phải tuân theo các nguyên tắc nhất định:
- Không đảm bảo chắc chắn về giá trị chứng khoán vì nó thường xuyên thay đổi.
- Nguyên tắc tư vấn khách quan: Không được mời gọi khách hàng mua hay bán
một loại chứng khoán nào đó, những lời tư vấn phải khách quan, có cơ sở phân
tích khoa học và tổng hợp. Khách hàng cần được thông báo rõ về những lợi thế
và bất lợi của các loại hình đầu tư vốn và những lời tư vấn có thể không hoàn
toàn chính xác.
- Nguyên tắc tư vấn theo khả năng của khách hàng:
+ Tôn trọng nguyện vọng và mục đích đầu tư của cá nhân khách hàng.
+ Quan tâm tới thực tế tài sản và thu nhập của cá nhân khách hàng.
+ Lưu ý tới đối tượng chịu thuế của khách hàng.
- Nguyên tắc thông tin hỗ trợ:
Công việc tư vấn đầu tư không chỉ dừng lại khi khách hàng quết định đầu tư,
mà cần tạo cho khách hàng cảm giác luôn được hỗ trợ trong công việc đầu tư của
mình. Chính vì vậy, tổ chức tư vấn luôn phải bao quát trong thời gian dài những
diễn biến thực tế liên quan đến vấn đề mình tư vấn và quyết định đầu tư của khách
hàng, thông báo kịp thời tới khách hàng những thông tin cần thiết như:
Nguyễn Thanh Thảo

18

Lớp:CQ48/17.02




19

Lớp:CQ48/17.02


Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

bất kì một loại phí nào,riêng phí thanh toán và chuyển nhượng do bên thụ hưởng
chịu,phí chuyển khoản do bên chuyển nhượng chịu. Các hoạt động giao dịch này
không chịu sự giám sát của sở giao dịch nhưng chịu sự giám sát của thanh tra
nhà nước về chứng khoán.
Giao dịch gián tiếp là các giao dịch mà công ty chứng khoán không thể
thực hiện được bằng giao dịch trực tiếp để đảm bảo an toàn khi giá chứng khoán
có biến động lớn và đôi khi có thể vì mục đích can thiệp vào giá thị trường. Hình
thức giao dịch này cũng được thực hiện tương tự giao dịch của các nhà đầu tư
khác thông qua nghiệp vụ môi giới. Do giao dịch qua sở giao dịch nên công ty
phải chịu các chi phí môi giới,chi phí thanh toán bù trừ và lưu ký chứng khoán.
Yêu cầu đối với công ty chứng khoán trong hoạt động tự doanh:
Tách biệt quản lý: Khi công ty chứng khoan đồng thời thực hiện 2 nghiệp
vụ môi giới và tự doanh thì phải biết tách biệt quản lý để đảm bảo tính minh
bạch trong hoạt động, bao gồm tách bạch về yếu tố con người, quy trình nghiệp
vụ vốn và tài sản. Nhân viên làm nghiệp vụ tự doanh không quan hệ với bộ phận
môi giới, không trao đổi với các khu vực làm việc khác.
Ưu tiên khách hàng: Công ty chứng khoán luôn phải ưu tiên khách khàng
tức là thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh
chứng khoán trong trường hợp lệnh giá của khách hàng và lệnh của công ty có
cùng giá, khối lượng cũng như thời gian. Điều này đảm bảo tính công bằng trong

và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành.Việc bảo
lãnh phát hành thường được thực hiện theo một trong các phương thức sau:
- Bảo lãnh theo phương thức cam kết chắc chắn (Firm commitment) là phương
thức bảo lãnh phát hành mà tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết với tổ chức phát
hành sẽ mua hết số lượng chứng khoán với một mức giá thỏa thuận và phân phối
lại cho công chúng tại mức giá chào bán ra công chúng (POP).
- Bảo lãnh với cố gắng cao nhất (Best efforts): là phương thức bảo lãnh mà theo
đó tổ chức bảo lãnh chỉ đóng vai trò đại lý phát hành cho tổ chức phát hành.Tổ
chức bảo lãnh chỉ cam kết sẽ cố gắng để bán được nhiều nhất chứng khoán ra thị
trường theo mức giá xác định. Số chứng khoán không bán hết sẽ được trả lại cho

Nguyễn Thanh Thảo

21

Lớp:CQ48/17.02


Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

tổ chức phát hành, tổ chức bảo lãnh nhận được hoa hồng bảo lãnh trên số chứng
khoán bán được hoặc số vốn huy động được.
- Bảo lãnh tất cả hoặc không (All or None offering- AON): là phương thức tổ
chức phát hành chỉ thị cho tổ chức bảo lãnh phát hành phải bán trọn đợt phát
hành,nếu không bán được họ sẽ hủy bỏ đợt phát hành đó.
- Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu – tối đa (Mini – max commitment): theo
phương thức này có hai lượng chứng khoán cần được xác lập là: lượng sàn (floor
amount) và lượng trần (cell amount). Tổ chức phát hành đưa ra lượng trần là

cố gắng chứng minh khả năng và thuyết phục tổ chức phát hành họ là tổ chức
phù hợp với yêu cầu của tổ chức phát hành.
1.1.4.5 Các nghiệp vụ khác
Nghiệp vụ lưu ký chứng khoán: là công việc đầu tiên để các chứng khoán
có thể giao dịch thị trường tập trung – việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán của
khách hàng và giúp khách hàng thực hiện các quyền của mình đối với chứng
khoán – được thực hiện thông qua các thành viên lưu ký của thị trường GDCK.
Lưu ký chứng khoán là một hoạt động rất cần thiết trên TTCK. Bởi vì trên
TTCK tập trung, việc thanh toán các giao dịch diễn ra tại Sở GDCK. Vì vậy, lưu
ký chứng khoán một mặt giúp cho quá trình thanh toán tại Sở giao dịch diễn ra
thuân lợi, nhanh chóng, dễ dàng. Mặt khác,nó hạn chế rủi ro cho người nắm giữ
chứng khoán như rủi ro bị hỏng, thất lạc, rách chứng chỉ chứng khoán…
Hoạt động tín dụng: là hoạt động mà CTCK giúp khách hàng của mình gia
tăng khoản vốn đầu tư thông qua các hình thức :
- Cho vay cầm cố chứng khoán: là một hình thức tín dụng mà trong đó người đi
vay dùng số chứng khoán sở hữu hợp pháp của mình làm tài sản cầm cố để vay
kiếm tiền nhằm mục địch kinh doanh, tiêu dùng…
- Cho vay bảo chứng: là một hình thức tín dụng mà khách hàng vay tiền để mua
chứng khoán, sau đó dung số chứng khoán mua được tự tiền vay đẻ làm tài sản
cầm cố cho khoản vay.
- Cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán: là việc CTCK ứng trước tiền bán
chứng khoán của khách hàng được thực hiện tại TTGDCK.

Nguyễn Thanh Thảo

23

Lớp:CQ48/17.02




24

Lớp:CQ48/17.02


Luận văn tốt nghiệp

Học viện Tài chính

Cạnh tranh không phải là “chiến tranh” và cũng không phải là “hòa bình”.
Cạnh tranh không còn là những động thái của tình huống, không phải chỉ là
những hành động mang tính thời điểm mà là cả tiến trình tiếp diễn thông ngừng
khi đó các doanh nghiệp đều phải đua nhau để phục vụ khách hàng tốt nhất thì
điều đó có nghĩa là không có giá trị gia tăng nào có thể giữ nguyên và tồn tại
vĩnh viễn mà có sự biến đổi mới lạ.
Như vậy, “năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự ganh đua về kinh
tế giữa những doanh nghiệp cùng ngành, cùng thị trường trong việc giành lấy
thị phần nhằm mục đích cuối cùng là gia tăng lợi nhuận. Cạnh tranh là một quá
trình diễn ra liên tục nhằm mang đến một chất lượng phục vụ tốt nhất cho khách
hàng và nâng cao thương hiệu của đơn vị.”
1.2.1.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh của công ty chứng khoán
Để cạnh tranh được và thành công trên thị trường, các chủ thể cần có năng
lực cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh là năng lực tồn tại trong kinh doanh và đạt được một
số kết quản mong muốn dưới dạnh lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các
sản phẩm để khai thác các cơ hội thị trườn hiện tại và làm nảy sinh thị trường
mới.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của
doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất và đòi hỏi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status