LỤC MỤC
DANH MỤC BẢNG, SƠ SỒ
Bảng1: Kinh tuyến trục cho từng tỉnh, thành phố
Bảng 2: Một số thông số phân chia mảnh bản đồ
Bảng 3: Hiện trạng sử dụng đất xã Xuân An năm 2010
Bảng 4: Số hiệu các tờ bản đồ xã Xuân An
Hình 1 :Lưới chiếu Gauss-Kruger
Hình 2 :Lưới chiếu UTM
Hình 3: Sơ đồ mảnh bản đồ tỷ lệ 1/ 5 000
Hình 4: Sơ đồ mảnh bản đồ tỷ lệ 1/ 2 000
Hình 5: Sơ đồ mảnh bản đồ tỷ lệ 1/ 1 000
Hình 6: Sơ đồ mảnh bản đồ tỷ lệ 1/ 500
Hình 7: Sơ đồ mảnh bản đồ tỷ lệ 1/ 200
Hình 8: Sơ đồ chia và đánh số hiệu mảnh bản đồ địa chính theo dơn vị hành
chính xã
Hình 9: Bản mô tả ranh giới thửa đất
Hình 10: Kết quả đo đạc địa chính giới thửa đất
Sơ đồ 1: Sơ đồ mô tả một cách tổng quan về các phương pháp đo vẽ bản đồ
địa chính đang được sử dụng hiện nay:
Sơ đồ 2 : Qui trình công nghệ Đo vẽ bản đồ địa chính bằng phương pháp
toàn đạc.
Sơ đồ 3: Qui trình công nghệ thành lập bản đồ bằng phương pháp đo ảnh đơn.
Sơ đồ 4: Qui trình công nghệ thành lập bản đồ bằng đo ảnh số
Sơ đồ 5: Qui trình công nghệ thành lập bản đồ bằng phương pháp đo vẽ lập
thể
Sơ đồ 6: Qui trình công nghệ thành lập bản đồ bằng phương pháp đo ảnh giải
tích
sơ địa chính với công tác trọng tâm là đo đạc, lập bản đồ địa chính.
Với chính sách phát triển đúng đắn, những năm gần đây nền kinh tế tỉnh Phú
Thọ đã có những bước phát triển vượt bậc. Kinh tế - xã hội phát triển đã tác
1
động mạnh mẽ tới tình hình quản lý và sử dụng đất của địa phương, đòi hỏi
phải có hệ thống công cụ quản lý đất đai chính xác và hiệu quả hơn.
Thực hiện nhiệm vụ được giao, những năm qua, Sở Tài nguyên và Môi
trường Phú Thọ đã phối hợp với các cơ quan hữu quan tiến hành xây dựng và
thực hiện các dự án đo đạc, lập hồ sơ địa chính trên phạm vi tỉnh theo dự án
tổng thể “ Xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu quản lý đất đai giai
đoạn 2008 - 2010, định hướng đến 2015, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ” Dự án
này đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm định theo công văn số
60/TCQLĐĐ-ĐKTK ngày 13 tháng 11 năm 2008 và được UBND tỉnh Phú
Thọ phê duyệt theo Quyết định số 208/QĐ-UBND ngày 25 tháng 02 năm
2009.
Công tác lập, quản lý hồ sơ địa chính là công tác đặc biệt quan trọng, đóng
vai trò quyết định trong việc thực hiện quản lý đất đai trên địa bàn xã, huyện,
tỉnh cũng như cả nước theo Luật Đất đai năm 2003. Vì tính chất quan trọng
của hồ sơ địa chính, từ khi Luật Đất đai năm 2003 ban hành, Bộ Tài nguyên
và Môi trường đã ban hành - Thông tư số 29/2004/TT - BTNMT, ngày
01/11/2004 và Thông tư số 09/2007/TT - BTNMT, ngày 02/08/2007 về việc
hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính, nhằm ứng dụng tiến bộ của
tin học vào quản lý đất đai, đặc biệt là Thông tư số 09/2007/TT - BTNMT,
nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý đất đai, tăng độ tin cậy và tốc độ xử lý
thông tin về đất đai.
Để xây dựng được bộ hồ sơ địa chính theo hướng dẫn của Thông tư số
09/2007/TT - BTNMT, đòi hỏi bản đồ địa chính phải được thể hiện đầy đủ,
MicroStation SE và Famis thành lập bản đồ địa chính.
- Tạo ra các sản phẩm như bản đồ địa chính, hồ sơ kỹ thuật thửa đất …
phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai.
2.2. Yêu cầu
3
- Nắm được các bước trong quy trình công nghệ thành lập bản đồ địa chính.
- Sử dụng phần mềm Microsation và Famis thành lập bản đồ địa chính,
đảm bảo tuân thủ theo đúng quy phạm của Bộ Tài nguyên - Môi trường.
- Sản phẩm cuối cùng là bản đồ địa chính và hồ sơ kỹ thuật thửa đất
phải đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật và sử dụng được trong thực tế, phục vụ
cho yêu cầu của công tác quản lý đất đai.
4
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận của bản đồ địa chính
1.1.1 Khái niệm về bản đồ địa chính
Bản đồ địa chính là bản đồ chuyên ngành đất đai, trên bản đồ thể hiện chính
xác vị trí, ranh giới, diện tích và một số thông tin địa chính của từng thửa đất,
từng vùng đất. Bản đồ địa chính còn thể hiện các yếu tố địa lý khác liên quan
đến đất đai. Bản đồ địa chính được thành lập theo đơn vị hành chính cơ sở xã,
phường, thị trấn và thống nhất trong phạm vi cả nước. Bản đồ địa chính được
xây dựng trên cơ sở kỹ thuật và công nghệ ngày càng hiện đại, nó đảm bảo
cung cấp thông tin không gian của đất đai phục vụ công tác quản lý đất.
Bản đồ địa chính là tài liệu cơ bản nhất của bộ hồ sơ địa chính, mang tính
dựa trên hai yếu tố kỹ thuật là phần cứng máy tính và phần mềm điều hành.
Các số liệu đo đạc hoặc bản đồ cũ được đưa vào máy tính để xử lý, biên tập,
lưu trữ và có thể in ra thành bản đồ giấy.
Hai loại bản đồ trên thường có cùng cơ sở toán học, cùng nội dung. Tuy nhiên
bản đồ đã sử dụng thành quả của công nghệ thông tin hiện đại nên có được
nhiều ưu điểm hơn hẳn so với bản đồ giấy thông thường. Về độ chính xác,
bản đồ số lưu trữ trực tiếp các số đo nên các thông tin chỉ chịu ảnh hưởng của
các sai số đo đạc ban đầu.
Trong khi đó bản đồ giấy chịu ảnh hưởng rất lớn của sai số đồ họa. Trong
quá trình sử dụng, bản đồ số cho phép ta lưu trữ gọn nhẹ, dễ tra cứu, cập nhật
thông tin, đặc biệt nó tạo ra khả năng phân tích, tổng hợp thông tin nhanh
chóng, phục vụ kịp thời cho các yêu cầu sử dụng của các cơ quan Nhà nước,
cơ quan kinh tế, kỹ thuật. Tuy nhiên khi nghiên cứu về bản đồ địa chính ta
phải xem xét toàn bộ các vấn đề cơ bản của bản đồ thông thường.
6
Khi nghiên cứu đặc điểm qui trình công nghệ thành lập bẩn đồ địa chính
và phạm vi ứng dụng của từng loại bản đồ địa chính, ta cần làm quen với một
số khái niệm về các loại bản đồ địa chính như sau:
- Bản đồ địa chính cơ sở: Đây là tên gọi chung cho bản đồ gốc được
đo vẽ bằng phương pháp đo vẽ trực tiếp ở thực địa, đo vẽ bằng các phương
pháp có sử dụng ảnh hàng không kết hợp hay đo vẽ bổ sung ở thực địa hay
được thành lập trên cơ sở biên tập, biên vẽ từ bản đồ địa hình cùng tỷ lệ đã có.
Bản đồ địa chính cơ sở được đo vẽ kín ranh giới hành chính và kín mảnh bản
đồ đó.
Bản đồ địa chính cơ sở là tài liệu cơ bản để biên tập, biên vẽ và đo vẽ bổ
sung thành bản đồ địa chính theo đơn vị hành chính cơ sở xã, phường, thị
trấn, để thể hiện hiện trạng vị trí, hình thể, diện tích và loại đất của các ô thửa
dụng đất. [6]
- Trích đo địa chính: Là đo vẽ lập bản đồ địa chính của một khu đất
hoặc thửa đất tại các khu vực chưa có bản đồ địa chính hoặc đã có bản đồ địa
chính nhưng chưa đáp ứng một số yêu cầu trong việc giao đất, cho thuê đất,
thu hồi đất, đền bù, giải phóng mặt bằng, đăng ký quyền sử dụng đất, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Bản trích đo địa chính, mảnh bản đồ trích đo, bản đồ trích đo (gọi
chung là bản trích đo địa chính): Là bản đồ thể hiện trọn một thửa đất hoặc
trọn một số thửa đất liền kề nhau, các đối tượng chiếm đất nhưng không tạo
thành thửa đất, các yếu tố quy hoạch đã được duyệt, các yếu tố địa lý có liên
quan trong phạm vi một đơn vị hành chính cấp xã (trường hợp thửa đất có
liên quan đến hai (02) hay nhiều xã thì trên bản trích đo phải thể hiện đường
địa giới hành chính xã để làm căn cứ xác định diện tích thửa đất trên từng xã),
được cơ quan thực hiện, Ủy ban nhân dân xã và cơ quan quản lý đất đai cấp
tỉnh xác nhận.
8
Ranh giới, diện tích, mục đích sử dụng (loại đất) của thửa đất thể hiện
trên bản trích đo địa chính được xác định theo hiện trạng sử dụng đất. Khi
đăng ký quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ranh
giới, diện tích, mục đích sử dụng đất có thay đổi thì phải chỉnh sửa bản trích
đo địa chính thống nhất với số liệu đăng ký quyền sử dụng đất, giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất.
* Khi thành lập bản đồ địa chính cần phải quan tâm đến các yêu cầu cơ bản
sau:
- Chọn tỷ lệ bản đồ địa chính phù hợp với từng vùng đất, loại đất.
- Bản đồ địa chính phải có hệ thống toạ độ thống nhất, có phép chiếu phù
hợp để các yếu tố trên bản đồ biến dạng nhỏ nhất.
Nguyên tắc quản lý:
- Quản lý địa chính tiến hành theo quy chế thống nhất do nhà nước đề ra, được cụ
thể hoá bằng các văn bản pháp luật như luật, nghị định, thông tư…
- Tư liệu địa chính phải đảm bảo tính nhất quán, liên tục và hệ thống.
- Đảm bảo độ chính xác và có độ tin cậy cao.
- Đảm bảo tính khái quát và tính hoàn chỉnh.
1.2. Các yếu tố cơ bản và nội dung của bản đồ địa chính
1.2.1. Yếu tố cơ bản của bản đồ địa chính [8]
Bản đồ địa chính được sử dụng trong quản lý đất đai là bộ bản đồ biên
tập riêng cho từng đơn vị hành chính cơ sở xã, phường. Mỗi bộ bản đồ có thể
là một hoặc nhiều tờ bản đồ ghép lại. Để đảm bảo tính thống nhất, tránh nhầm
lẫn và dễ dàng vận dụng trong quá trình thành lập cũng như trong quá trình sử
dụng bản đồ và quản lý đất đai ta cần phải phân biệt và hiểu rõ bản chất các
yếu tố cơ bản của bản đồ địa chính và các yếu tố phụ khác có liên quan.
Yếu tố điểm: Điểm là một vị trí được đánh dấu ở thực địa bằng các mốc
đặc biệt. Trong thực tế đó là các điểm trắc địa, các điểm đặc trưng trên đường
10
biên thửa đất, các điểm đặc trưng của địa vật, địa hình. Trong địa chính cần
quản lý dấu mốc thể hiện điểm ở thực địa và toạ độ của chúng.
Yếu tố đường: Đó là các đoạn thẳng, đường thẳng, đường cong nối qua
các điểm thực địa. Đối với đoạn thẳng cần xác định và quản lý toạ độ hai
điểm đầu và cuối, từ toạ độ có thể tính ra chiều dài và phương vị của đoạn
thẳng. Đối với đường gấp khúc cần quản lý toạ độ các điểm đặc trưng của nó.
Các đường cong có dạng hình học cơ bản có thể quản lý các yếu tố đặc trưng.
Tuy nhiên trên thực tế đo đạc nói chung và đo đạc địa chính nói riêng thường
xác định đường cong bằng cách chia nhỏ đường cong tới mức các đoạn nhỏ
của nó có thể coi là đoạn thẳng và nó được quản lý như một đường khấp
1.2.2. Nội dung của bản đồ địa chính [8]
Bản đồ địa chính là tài liệu chủ yếu trong bộ hồ sơ địa chính, vì vậy
trên bản đồ cần thể hiện đầy đủ các yếu tố đáp ứng yêu cầu quản lý đất đai.
Điểm khống chế toạ độ và độ cao: Trên bản đồ cần thể hiện đầy đủ các
điểm khống chế toạ độ và độ cao nhà nước các cấp, lưới toạ độ địa chính cơ
sở, lưới toạ độ địa chính cấp 1, cấp 2 cũ, lưới địa chính và các điểm khống
chế đo vẽ có chôn mốc để sử dụng lâu dài. Đây là yếu tố dạng điểm cần thể
hiện chính xác đến 0.2 mm trên bản đồ.
Địa giới hành chính các cấp: Để thể hiện chính xác đường địa giới
quốc gia, địa giới hành chính các cấp tỉnh, huyện, xã, các mốc giới hành
chính, các điểm đặc trưng của địa giới. Khi đường địa giới hành chính cấp
thấp trùng với đường địa giới cấp cao hơn thì biểu thị đường địa giới cấp cao.
Các đường địa giới phải phù hợp với hồ sơ địa giới đang được lưu trữ trong
các cơ quan quản lý nhà nước.
Ranh giới thửa đất: Thửa đất là yếu tố cơ bản của bản đồ địa chính.
Ranh giới thửa đất được thể hiện trên bản đồ bằng đường viền khép kín dạng
đường gấp khúc hoặc đường cong. Để xác định vị trí thửa đất cần đo vẽ chính
xác các điểm đặc trưng trên đường ranh giới của nó như điểm góc thửa, điểm
12
ngoặt, điểm đường cong của đường biên. Ngoài ra trên mỗi thửa đất còn thể
hiện đầy đủ ba yếu tố: số thửa, diện tích và phân loại đất theo mục đích sử
dụng.
Loại đất: Tiến hành phân loại đất và thể hiện năm loại đất chính là đất
nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất ở và đất chưa sử dụng.
Trên bản đồ địa chính cần phải phân loại đến từng thửa đất, từng loại đất chi
tiết.
Công trình xây dựng trên đất: Khi đo vẽ bản đồ tỷ lệ lớn ở vùng đất
Dáng đất: Khi đo vẽ bản đồ ở vùng địa hình có chênh cao lớn phải thể
hiện dáng đất bằng các đường đồng mức hoặc ghi chú độ cao.
Ghi chú thuyết minh: Trên bản đồ địa chính phải dùng hình thức ghi
chú thuyết minh để thực hiện định tính, định lượng của các yếu tố nội dung
như: địa danh, độ cao, diện tích, số thửa đất, loại đất...
Tất cả các ghi chú phải dùng chữ viết phổ thông hoặc phiên âm sang
tiếng Việt (nếu là tiếng dân tộc ít người) ghi chú đầy đủ các yếu tố khung bản
đồ như giới hạn, vị trí tiếp.
Ghi chú ngoài khung tên bản đồ, lãnh thổ cấp quản lý, thời gian đo vẽ,
người đo vẽ, người kiểm tra, ngày tháng năm sản xuất.
Đối với thửa đất có diện tích nhỏ, không đủ chỗ để ghi số thứ tự thửa
và diện tích thửa thì cần ghi chú số thửa còn các nội dung khác thì sẽ lập
thành bảng phụ lục riêng đặt vào khu vực trống của tờ bản đồ hoặc ghi ra
ngoài thửa và dùng mũi tên chỉ vào thửa đó.
Trong trường hợp một thửa nằm ở hai hoặc ba, bốn mảnh bản đồ tiếp
giáp nhau thì ta đánh số thứ tự vào thửa có phần diện tích lớn nhất phần còn
lại của thửa thuộc vào các mảnh bản đồ khác.
Ký hiệu của bản đồ địa chính: Nội dung của bản đồ địa chính được
biểu thị bằng các ghi chú. Các ký hiệu được thiết kế phù hợp cho từng loại tỷ
lệ bản đồ và phù hợp với yêu cầu sử dụng bản đồ địa chính. Các ký hiệu phải
14
đảm bảo tính chất trực quan, dễ đọc, không làm lẫn lộn ký hiệu này với ký
hiệu khác. Các ký hiệu quy ước của bản đồ địa chính được chia làm ba loại:
ký hiệu theo tỷ lệ, ký hiệu không theo tỷ lệ, ký hiệu nửa tỷ lệ. [4]
- Các ký hiệu vẽ theo tỷ lệ dùng để thể hiện các đối tượng có diện tích
bề mặt tương đối lớn ta dùng ký hiệu theo tỷ lệ. Phải vẽ đúng kích thước của
địa vật theo tỷ lệ bản đồ. Đường viền của đối tượng có thể vẽ bằng nét liền,
khu vực đất ở chọn tỷ lệ đo vẽ bản đồ là 1:1000 hoặc 1:500 và phải được
quy định rõ trong thiết kế kỹ thuật - dự toán công trình.
2. Khu vực đất phi nông nghiệp mà chủ yếu là đất ở và đất chuyên dùng:
a) Các thành phố lớn, các khu vực có các thửa đất nhỏ hẹp, xây dựng
chưa theo quy hoạch, khu vực giá trị kinh tế sử dụng đất cao tỷ lệ đo vẽ cơ
bản là 1:200 hoặc 1:500.
b) Các thành phố, thị xã, thị trấn lớn, các khu dân cư có ý nghĩa kinh tế,
văn hoá quan trọng tỷ lệ đo vẽ cơ bản là 1:500 hoặc 1:1000.
c) Các khu dân cư nông thôn tỷ lệ đo vẽ cơ bản là 1:1000 hoặc 1:2000.
3. Khu vực đất lâm nghiệp, đất trồng cây công nghiệp tỷ lệ đo vẽ cơ
bản là 1:5000 hoặc 1:10000.
4. Khu vực đất chưa sử dụng: thường nằm xen kẽ giữa các loại đất trên
nên được đo vẽ và biểu thị trên bản đồ địa chính đo vẽ cùng tỷ lệ. Khu vực
đất đồi, núi, khu duyên hải có diện tích đất chưa sử dụng lớn tỷ lệ đo vẽ cơ
bản là 1:10000.
5. Khu vực đất chuyên dùng, đất tôn giáo, tín ngưỡng, đất nghĩa trang,
nghĩa địa, đất sông, suối, đất có mặt nước chuyên dùng, đất phi nông nghiệp:
thường nằm xen kẽ giữa các loại đất trên nên được đo vẽ và biểu thị trên bản
đồ địa chính đo vẽ cùng tỷ lệ cho toàn khu vực.
Ngoài qui định chung về tỷ lệ cơ bản của bản đồ địa chính nêu trên,
trong mỗi đơn vị hành chính cấp xã khi thành lập bản đồ địa chính do có
những thửa đất nhỏ, hẹp xen kẽ có thể trích đo riêng từng thửa đất nhỏ hẹp đó
16
hoặc một cụm thửa hay một khu vực ở tỷ lệ lớn hơn.
Cở sở để chọn tỷ lệ đo vẽ cơ bản và tỷ lệ trích đo phải nêu chi tiết trong
thiết kế kỹ thuật - dự toán công trình (viết tắt là TKKT-DT) thành lập bản đồ
địa chính và hồ sơ địa chính của đơn vị hành chính hay khu vực (sau đây gọi
4. Làm cơ sở để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây
dựng các khu dân cư, đường giao thông, cấp thoát nước, thiết kế các công
trình dân dụng và làm cơ sở để đo vẽ các công trình ngầm.
5. Làm cơ sở để thanh tra tình hình sử dụng đất và giải quyết khiếu nại,
tố cáo, tranh chấp đất đai.
6. Làm cơ sở để thống kê và kiểm kê đất đai.
7. Làm cơ sở để xây dựng cở sở dữ liệu đất đai các cấp.
Hồ sơ địa chính là tài liệu cần thiết được lập ra nhằm thể hiện đầy đủ
các thông tin đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý nhà nước về đất đai. Theo
quan điểm kỹ thuật có thể chia các hồ sơ địa chính thành ba nhóm:
- Nhóm thứ nhất gồm các tài liệu cơ bản thể hiện tổng hợp các thông
tin phục vụ quản lý đất, chúng được sử dụng thường xuyên để quản lý biến
động đất ở các cấp. Tài liệu trong nhóm này gồm có:
+ Bản đồ địa chính hoặc các tài liệu đo đạc để xác định vị trí, hình
dạng, kích thước và diện tích thửa đất.
+ Sổ địa chính.
+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở.
- Nhóm thứ hai gồm các tài liệu phụ trợ kỹ thuật cho yêu cầu quản lý
đất, hồ sơ gồm:
+ Các tài liệu gốc về đo đạc.
+ Sổ mục kê đất.
+ Bảng biểu thống kê diện tích đất.
+ Bản đồ hiện trạng sử dụng đất.
+ Bản đồ quy hoạch sử dụng đất.
18
+ Tài liệu về đánh giá, phân loại đất, định giá đất.
+ Sổ theo dõi biến động đất đai.
thức. Trong hồ sơ kỹ thuật phải thể hiện toàn bộ số liệu liên quan đến thửa đất
như tên tờ bản đồ, số thửa, diện tích, loại ruộng đất, chủ sử dụng, kích thước
các cạnh, toạ độ góc thửa, các thửa tiếp giáp.[3]
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ)
Giấy chứng nhận QSDĐ là chứng thư pháp lý xác nhận mối quan hệ
hợp pháp giữa nhà nước và người sử dụng đất, nó là căn cứ pháp lý để giải
quyết mọi mối quan hệ về đất đai theo pháp luật. Trong thực tế việc quản lý
đất của nhà nước hiện nay đang lưu hành bốn loại giấy chứng nhận sau.
+ GCNQSDĐ cấp đến từng thửa đất nội thành, nội thị xã, thị trấn, đất ở
thuộc khu vực nông thôn, đất chuyên dùng của các tổ chức và cá nhân.
+ GCNQSDĐ cấp cho hộ gia đình, trong đó có ghi nhiều thửa đất, loại
này sử dụng chủ yếu cho đất nông nghiệp, lâm nghiệp.
+ GCNQSDĐ “ đồng sử dụng “, cấp cho loại đất mà một thửa đất có nhiều
chủ sử dụng.
+ GCNQSDĐ “ hạn chế “ dùng cho loại đất nông nghiệp, lâm nghiệp
chưa có bản đồ địa chính chính thức. [12]
- Sổ mục kê đất
Sổ được thiết lập nhằm mục đích liệt kê từng thửa đất trong phạm vi địa giới
hành chính mỗi xã, phường, thị trấn về các nội dung: Tên chủ sử dụng,
diện tích, loại đất để đáp ứng yêu cầu tổng hợp thống kê diện tích đất đai,
lập và tra cứu các loại tài liệu HSĐC một cách đầy đủ thuận tiện, chính
xác.
Sổ mục kê lập theo đơn vị hành chính cơ sở là xã, phường, thị trấn; được
Sở Tài nguyên và Môi trường phê duyệt.
Sổ mục kê lập thành ba bộ lưu ở xã (phường), huyện và tỉnh.
Sổ mục kê đất được lập ra từ bản đồ địa chính và các tài liệu điều
20
Có ba cấp hành chính lập sổ theo dõi cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất là xã, huyện và tỉnh.
Phần lớn đất đai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở lần
đăng ký ban đầu. Các giấy chứng nhận này được vào sổ quản lý cấp cơ sở xã,
phường. Cấp huyện và tỉnh chỉ vào sổ theo dõi của mình những GCN được
cấp do thẩm quyền của chính cấp đó. [13]
1.4. Cơ sở toán học của bản đồ địa chính [7]
Để đáp ứng yêu cầu quản lý đất đai, đặc biệt là khi sử dụng hệ thống
thông tin đất đai, bản đồ địa chính trên toàn lãnh thổ phải là một hệ thống
thống nhất về cơ sở toán học và độ chính xác. Muốn vậy phải xây dựng lưới
tọa độ thống nhất và chọn một hệ quy chiếu tối ưu và hợp lý để thể hiện bản
đồ. Trong khi lựa chọn hệ quy chiếu cần đặc biệt ưu tiên giảm nhỏ đến mức
có thể ảnh hưởng của biến dạng phép chiếu đến kết quả thể hiện yếu tố bản
đồ, Ta xem xét việc lựa chọn hệ qui chiếu theo các vấn đề sau:
Bản đồ địa chính phải được thể hiện trên mặt phẳng qua một phép
chiếu xác định. Phép chiếu cần được chọn sao cho độ biến dạng của các yếu
tố thể hiện trên bản đồ là nhỏ nhất, tức là ảnh hưởng biến dạng phép chiếu
đến độ chính xác các yếu tố đo đạc và cần quản lý thể hiện trên bản đồ là
không đáng kể.
Thực tế hiện nay có hai lưới chiếu đẳng góc có khả năng sử dụng cho
bản đồ địa chính Việt Nam đó là lưới chiếu Gauss và UTM. Sơ đồ múi chiếu
và đặc điểm biến dạng của hai phép chiếu Gauss và UTM được thể hiện trên
hình sau:
22