ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------------
PHẠM THỊ THU HƢƠNG
TRUYỆN NGẮN TRẦN THÙY MAI
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------------------------
PHẠM THỊ THU HƢƠNG
TRUYỆN NGẮN TRẦN THÙY MAI
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Văn Đức
Hà Nội-2015
1.1.2 Văn học ............................................................................................. 18
1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học ................................................... 19
1.2.1 Văn học là sản phẩm và hiện thân của văn hóa ......................................19
1.2.2 Văn học là sự kiến tạo và kết tinh các giá trị văn hóa ............................22
1.3 Phƣơng pháp tiếp cận văn hóa học trong nghiên cứu văn học .............. 24
1.3.1 Các cách tiếp cận trong nghiên cứu văn học ..........................................24
1.3.2 Đặc điểm và ưu thế của phương pháp tiếp cận văn học dưới góc nhìn văn hóa ..26
1.3.3 Biểu hiện của văn hóa trong văn học ......................................................28
1.4 Hành trình sáng tác của nhà văn Trần Thùy Mai ................................. 29
1.4.1 Vài nét về cuộc đời – sự nghiệp nhà văn .................................................29
1.4.2 Quan điểm sáng tác của Trần Thùy Mai .................................................32
1.5 Tiểu kết ................................................................................................. 35
CHƢƠNG 2: NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA
TRẦN THÙY MAI .................................................................................................. 36
2.1 Không gian và thời gian ........................................................................ 36
2.1.1 Không gian văn hóa.................................................................................36
2.1.2 Thời gian văn hóa ....................................................................................44
2.2 Con ngƣời văn hóa ................................................................................ 46
2.2.1 Văn hóa ẩm thực ......................................................................................47
2.2.2 Văn hóa tâm linh .....................................................................................50
2.2.3 Văn hóa ứng xử........................................................................................58
2.4 Tiểu kết ................................................................................................. 77
CHƢƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA TRUYỆN NGẮN TRẦN
THÙY MAI TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA .............................................................. 79
3.1 Biểu tƣợng văn hóa ............................................................................... 79
3.1.1 Khái niệm về biểu tượng văn hóa ............................................................79
3.1.2 Một số biểu tượng văn hóa trong truyện ngắn Trần Thùy Mai ...............82
3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật .............................................................. 92
phá theo dòng chảy văn hóa – văn học.
Truyện ngắn Việt Nam hiện đại với sự xuất hiện của nhiều cây bút mới, đặc
biệt sau 1986 với sự lên ngôi của những cây bút nữ đã đem đến cho văn học những
làn gió mới. Đối tượng phản ánh của văn học được khám phá, soi chiếu ở nhiều
bình diện, tầng bậc. Giữa một rừng hoa nhiều hương sắc thì truyện ngắn của Trần
Thùy Mai là một đóa hoa riêng với sắc màu không sặc sỡ nhưng nhẹ nhàng, tinh tế
và lan tỏa. Xuất hiện trên văn đàn từ vai trò là một cô giáo, sau đó là một biên tập
viên, Trần Thùy Mai đã thấu cảm được những vấn đề xã hội đương đại, những khổ
1
đau của con người để rồi truyền tải vào những trang văn một phong cách riêng.
Truyện ngắn Trần Thùy Mai dưới sự soi rọi của cái nhìn văn hóa mang một vẻ đẹp riêng,
gợi mở những hướng tiếp cận sâu hơn về mặt nội dung và tư tưởng nghệ thuật.
Cho đến thời điểm hiện tại, những công trình nghiên cứu truyện ngắn Trần
Thùy Mai nói riêng và truyện ngắn nói chung từ góc nhìn văn hóa vẫn chưa nhiều
và cũng rất ít các công trình tiếp cận được sâu bản chất của vấn đề. Xuất phát từ
những yêu cầu cấp thiết trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Truyện ngắn
Trần Thùy Mai từ góc nhìn văn hóa”, hi vọng sẽ góp một cách nhìn mới, nhận ra
những giá trị văn hóa tiềm ẩn dưới những trang viết của Trần Thùy Mai.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Khoa nghiên cứu về văn hóa đã được hình thành và phát triển rất lâu trên
thế giới, hướng nghiên cứu văn hóa học nảy sinh từ những năm 50 ở Anh với
trường phái Birmingham (R. Williams, R.Hoggart), ở Đức với trường phái
Frankfurt (D. Kellner), những năm 70 ở Pháp với R.Barthes sau đó lan sang Úc,
Canada, Mĩ… sau đó là những nghiên cứu trọng tâm hơn của E.B. Tylor trong cuốn
Văn hóa nguyên thủy xuất bản tại London năm 1871 đến những nghiên cứu của
Kroeber và C.Kluckhohn năm 1952, đưa ra những quan điểm về văn hóa trong cuốn
sách: Văn hóa – tổng luận phê phán các quan điểm và định nghĩa (Culture: a
vào thực tiễn Việt Nam đến việc thực nghiệm trên một số tác phẩm của các tác gia
tiêu biểu, giới nghiên cứu đã tạo nên một bức tranh nghiên cứu văn hóa – văn học
dưới sự soi rọi của ánh sáng văn hóa. Năm 1985, trong công trình Tìm hiểu phong
cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, nhà văn hóa học – GS. Phan Ngọc đã sớm
nhận ra và vận dụng những yếu tố văn hóa xã hội để tìm ra những đặc trưng của
phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Năm 1994, trong cuốn sách Văn hóa
Việt Nam và cách tiếp cận mới, GS. Phan Ngọc cũng đã đưa ra những quan điểm về
văn hóa, cách tiếp cận văn hóa trong văn học, gợi mở nhiều hướng nghiên cứu khác
nhau cho các học giả sau này. Và khi một số công trình của M.Bakhtin được dịch và
giới thiệu ở Việt Nam thì hướng đi này càng được thuyết phục. Đến năm 1995, GS.
Trần Đình Hượu với công trình Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại nghiên
cứu văn học Việt Nam từ Nho giáo đã chỉ ra được đặc điểm của giai đoạn văn học
kể từ đầu Lê đến cuối Nguyễn, mối quan hệ giữa Nho giáo và văn học Việt Nam
trung đại và đưa ra những hình mẫu nhà nho (hành đạo, ẩn dật, tài tử) như là một
3
giả thuyết làm việc. Điều này, về sau, được GS.TS Trần Ngọc Vương cụ thể hóa
bằng một cái nhìn loại hình học trong Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam (1995).
Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy trong Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực đã thấy
được và lý giải những biểu tượng đa nghĩa, lấp lửng trong thơ Hồ Xuân Hương
bằng tín ngưỡng phồn thực, còn PGS.TS Trần Nho Thìn trong Văn học trung đại
Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa (2003) đã đi một bước tiến mới khi đưa ra quan
điểm nghiên cứu văn học trung đại từ những phạm trù cơ bản của văn hóa trung đại
để tránh hiện đại hóa văn học dân tộc. Như vậy, các tác giả như: GS. Đặng Thai
Mai, GS. Đào Duy Anh, GS. Nguyễn Văn Huyên, nhà phê bình văn học Hoài
Thanh, GS. Phan Ngọc, GS. Trần Đình Hượu, GS. Phạm Vĩnh Cư, GS. Trần Đình
Sử,… đã đặt những nền móng đầu tiên cho việc nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn
hóa khi xem tác phẩm như một cấu trúc văn hóa, kí hiệu văn hóa, văn bản của văn hóa
ngữ trong truyện Trần Thùy Mai; Đề tài Thế giới nghệ thuật truyện ngắn Trần Thùy
Mai, Luận văn Thạc sĩ, Phùng Thu Phương, Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010 đã nghiên cứu những đối tượng thẩm mĩ
chủ yếu trong truyện ngắn Trần Thùy Mai như: tình yêu, cảm hứng lịch sử, màu sắc
văn hóa Huế và phân tích sâu một số thủ pháp nghệ thuật trong truyện ngắn Trần
Thùy Mai như: thủ pháp xây dựng nhân vật, nghệ thuật xây dựng cốt truyện, ngôn
ngữ, giọng điệu; Luận văn cùng tên Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Trần
Thùy Mai, Luận văn Thạc sĩ, Lê Thị Thanh Hiệp, Trường Đại học Đà Nẵng, 2011
cũng đã có những nghiên cứu cơ bản về nghệ thuật trong truyện Trần Thùy Mai, từ
đó đưa ra được những đặc trưng khái quát về phong cách nghệ thuật của Trần Thùy
Mai; Đề tài gia đình trong truyện ngắn Trần Thùy Mai, Y Ban và Nguyễn Thị Thu
Huệ, Luận văn Thạc sĩ, Lê Thị Huệ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014 đã nghiên cứu một khía cạnh sâu hơn của vấn đề,
đề tài về gia đình cũng là một đề tài quen thuộc được khai thác nhiều và tác giả luận
văn đã biết lồng ghép, so sánh hết sức khéo léo đề tài gia đình trong truyện ngắn của
ba nhà văn nữ tiêu biểu; Đề tài Nhân vật nữ trong truyện ngắn Trần Thùy Mai,
Luận văn Thạc sĩ, Nguyễn Thị Trang Nhung, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2,
2014 đã đi sâu vào tìm hiểu một trong những hình tượng tiêu biểu của truyện ngắn
Trần Thùy Mai – đó là nhân vật người phụ nữ mang những đặc trưng của người phụ
5
nữ Huế dịu dàng – nhẹ nhàng cũng như những đức tính của người phụ nữ Việt
Nam;…
Về các bài viết trên các báo, tạp chí, đã có rất nhiều tác giả, nhà nghiên cứu
văn học đã dành những đánh giá sâu sắc cho nữ tác giả Trần Thùy Mai cũng như
truyện ngắn của Trần Thùy Mai:
Tác giả Hồ Thế Hà là người đã dành nhiều bài nghiên cứu về tác phẩm của
Trần Thùy Mai, tiêu biểu như bài viết Truyện ngắn Trần Thuỳ Mai - những giấc mơ
Mai trong bài viết nhan đề “Trần Thùy Mai và những giấc mơ hoang tưởng”, bên
cạnh việc khẳng định đề tài chủ đạo trong truyện ngắn Trần Thùy Mai là đề tài tình
yêu, tác giả đã đặc biệt quan tâm đến các thủ pháp nghệ thuật, từ cách xây dựng cốt
truyện đến xây dựng nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu, cách kể chuyện theo ngôi thứ
nhất.
Tác giả Minh Hiền trong bài viết nhan đề “Trần Thùy Mai và tác phẩm vượt
biên giới”, đăng trên Báo Thừa Thiên Huế ngày 27/1/2012 đã có những nhận định
xác đáng dành cho văn chương của nữ nhà văn đất Huế này:
“Giữa thời đại ồn ào náo nhiệt, vậy mà Trần Thùy Mai cũng như văn chương
của chị luôn giữ được sự tĩnh lặng, trong veo, nhiều khi rất buồn. Văn của chị
không ồn ào nhưng lại có sức lan tỏa. Không thu hút người đọc bằng những cốt
truyện lạ, không chạy theo thị hiếu, không những pha rượt đuổi gay cấn, truyện của
chị đầy ắp những chi tiết giản dị, cốt truyện đơn giản. Chị tập trung khai thác, thể
hiện thế giới nội tâm nhân vật. Đề tài quen thuộc trong truyện của chị là tình yêu và
lịch sử, đặc biệt là phần lịch sử gắn liền với kinh đô Huế xưa. Mỗi câu chuyện như
một lời kể nhẹ nhàng, chậm rãi, đầy tình cảm cứ chuyên chở vào hồn người những
trăn trở, nghĩ suy và day dứt. Trong nghệ thuật, Trần Thùy Mai chỉ có một tôn chỉ:
Sự chân thành. Chị không tỏ ra mình mới hay cũ, thời thượng hay không mà chỉ
muốn góp một dòng nước ngầm chảy sâu vào từng ngõ ngách của tâm hồn con
người”.
Tác giả Hoàng Thị Huế đã có những phân tích và đánh giá sâu sắc về sự quy
chiếu của văn hóa Huế trong truyện ngắn Trần Thùy Mai ở bài viết “Cảm thức văn
hóa Huế trong truyện ngắn Trần Thùy Mai” in trên Tạp chí sông Hương năm 2011:
“Dẫu viết về những vùng đất khác nhau hay về vùng đất Huế, cảm thức văn hóa
Huế vẫn in đậm trong những trang văn của Trần Thùy Mai, như một nét riêng, sức
7
mạnh làm nên tên tuổi của nhà văn. Văn hóa Huế thấm sâu sự lựa chọn từng chi tiết
Tập Quỷ trong trăng cũng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên
cứu. Tác giả Lê Mỹ Ý trong bài đăng trên Báo Lao động miền Trung với nhan đề
“Cuộc hành hương bên bờ xa vắng” đã nêu lên nhận xét: “Giữa mê lộ ám ảnh, giác
độ tình yêu được soi xét từ nhiều điểm chiếu. Dù ở điểm chiếu nào, truyện ngắn của
chị cũng hiện hữu một niềm say đắm miên man của ý niệm thuần khiết. Đấy là ý
niệm để tác giả vén lên một luồng sáng mong manh, đi sâu vào những ngóc ngách
nhỏ nhoi, tìm ra đời sống hơn là đời sống, nhận thức ra tia sáng hằng hữu, bất biến
trong tình yêu”. Sức hấp dẫn của tập truyện này còn được Lê Mỹ Ý đánh giá ở
giọng văn nhẹ nhàng với thứ ngôn ngữ tự nhiên. Tác giả Nguyễn Thị Kim Huệ với
bài viết Quỷ trong trăng và thế giới đậm cá tính phương Tây thì phát hiện ra: “Quỷ
trong trăng là một thế giới của nhân vật nữ đang tồn tại thật với bản ngã của chính
mình, dù họ phải trả bằng chính cuộc đời của họ. Thế nhưng, họ không nuối tiếc
hay hối hận cho những lựa chọn của mình, bởi họ là những phụ nữ phương Đông
dịu dàng bao dung nhưng lại tiềm tàng sự nổi loạn, tự do và bất chấp kể cả cái chết
cho tình yêu”. Và Nguyễn Thị Kim Huệ gọi đây là thế giới nữ đậm cá tính phương
Tây. Trên Báo Thanh niên (2001) và Quảng Nam chủ nhật (2002) các tác giả Ngô
Thị Kim Cúc và Bảo Anh cũng đã viết về những tư tưởng sâu kín đầy bao dung và
nhân ái, về cái phần quỷ - phần người trong Quỷ trong trăng...
Tập truyện Mưa ở Strabourg cũng đã được giới thiệu trên bài viết “Em ơi,
phía ấy mưa rơi” đăng trên tuanvietnam.vn với nhận định Trần Thùy Mai “táo bạo
trong việc thể hiện nững khoảng trống trong tâm hồn của người phụ nữ ngày nay, ẩn
chứa ở đó là những khát khao rất đời”. Bên cạnh việc tiếp tục khắc họa đậm nét số
phận người phụ nữ thì ở tập truyện này xuất hiện nhiều hơn những mặt trái ti tiện,
đớn hèn.
Như vậy, có thể thấy, dành nhiều ưu ái và những đánh giá cao cho truyện
ngắn Trần Thùy Mai, tuy nhiên cũng rất ít công trình nghiên cứu một cách cụ thể, đi
sâu về góc độ văn hóa trong truyện ngắn Trần Thùy Mai. Tuy nhiên, những công
trình nghiên cứu, bài viết về truyện ngắn Trần Thùy Mai là tư liệu gợi mở cho
10
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Ngoài những phương pháp luận nghiên cứu khoa học như quy nạp, diễn dịch,
thống kê, luận văn chủ yếu sử dụng những phương pháp nghiên cứu chuyên ngành
sau:
- Phương pháp tiếp cận văn hóa - văn học.
- Phương pháp loại hình học.
- Phương pháp phân tích tác phẩm văn học.
6. Ý nghĩa của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
- Luận văn đưa ra những luận điểm mang tính chất lí luận về văn hóa, văn học, mối
quan hệ giữa văn hóa – văn học và phương pháp tiếp cận văn học từ góc nhìn văn
hóa.
- Chứng minh những giá trị văn hóa phản ánh trong nội dung và nghệ thuật của tác
phẩm văn học.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn cung cấp cơ sở lí luận, là ví dụ điển hình cho việc nghiên cứu tác phẩm
văn học từ góc nhìn văn hóa. Từ đó luận văn là tư liệu tham khảo cho sinh viên
ngành văn học, cho các nhà nghiên cứu, gợi mở những hướng nghiên cứu tiếp theo
trong phương pháp tiếp cận tác phẩm văn học từ góc nhìn văn hóa.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn có cấu trúc với 03 chương như sau:
Chương 1: Mối quan hệ giữa văn học – văn hóa và hành trình sáng tác của nhà văn
Trần Thùy Mai
Chương 2: Những giá trị văn hóa trong truyện ngắn của Trần Thùy Mai
Chương 3: Đặc điểm nghệ thuật của truyện ngắn Trần Thùy Mai từ góc nhìn văn
hóa.
cultus với hai nghĩa: “(1) giữ gìn, chăm sóc, tạo dựng trong trồng trọt; (2) cầu cúng”
12
[78; 1]. Các nhà khoa học phương Tây đã dựa trên những cách tiếp cận khác nhau
để định nghĩa về văn hóa:
- Các tiếp cận theo phương pháp miêu tả: các nhà nghiên cứu theo phương
pháp miêu tả quan tâm định nghĩa văn hóa theo những gì mà nó bao hàm, điển hình
là định nghĩa của nhà nhân loại học Anh: Edward Burnett Tylor (1832 - 1917): “văn
hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp
gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ những
khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên
của xã hội” [78; 1].
- Cách tiếp cận theo phương pháp lịch sử: các nhà nghiên cứu văn hóa theo
phương pháp lịch sử chú trọng vào các quá trình kế thừa xã hội, truyền thống, tất cả
đều dựa trên quan điểm về tính ổn định của văn hóa. Một trong những định nghĩa
tiêu biểu cho cách tiếp cận này là của Edward Sapir (1884 - 1939) - nhà nhân loại
học, ngôn ngữ học người Mỹ: “văn hóa chính là bản thân con người, cho dù là
những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức
hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống” [78; 2].
- Cách tiếp cận giá trị: các nhà nghiên cứu văn hóa theo phương pháp tiếp
cận giá trị nhấn mạnh đến các quan niệm về giá trị, một ví dụ trong cách định nghĩa
về văn hóa theo tiếp cận giá trị là của William Isaac Thomas (1863 - 1947), nhà xã
hội học người Mỹ coi văn hóa là “các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm
người nào (các thiết chế, tập tục, phản ứng cư xử,...)” [78; 2].
- Cách tiếp cận theo phương pháp tâm lý học: cách tiếp cận này nhấn mạnh
vào quá trình thích nghi với môi trường, quá trình học hỏi, hình thành thói quen,
hành vi ứng xử của con người trong cuộc sống. William Graham Sumner (1840 1910), viện sỹ Mỹ, giáo sư Đại học Yale và Albert Galloway Keller, học trò và
cộng sự của ông đã có cách định nghĩa văn hóa theo phương pháp tâm lý học:
với cấp độ vật chất của đối tượng là định nghĩa mô tả văn hóa như thế giới các đồ
vật được con người sáng tạo và sử dụng trong quá trình lịch sử. Trong một công
trình nghiên cứu về văn hóa của mình, Iu.V.Brômlây và R.C.Pađôlưi đã khẳng định:
Văn hóa trong ý nghĩa rộng rãi nhất của từ này, đó là tất cả những cái đã và đang
được tạo ra bởi nhân loại” (dẫn theo Phạm Quang Tùng [73; 2]).
14
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa
nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất,
tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa
đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống
giá trị, truyền thống và đức tin” [53; 3].
Ở nước ta, khái niệm về văn hóa cũng đã xuất hiện từ rất lâu, hơn 600 năm
trước, Nguyễn Trãi đã dùng “văn hiến” để khẳng định độc lập, chủ quyền của dân
tộc trong bản tuyên ngôn độc lập “Bình Ngô đại cáo”: “Như nước Đại Việt ta từ
trước. Vốn xưng nền văn hiến đã lâu. Núi sông bờ cõi đã chia. Phong tục Bắc Nam
cũng khác”. Chính cái “nền văn hiến”, cái “phong tục” tự ngàn đời ấy là cơ sở đanh
thép, vững vàng để chúng ta khẳng định quyền tự chủ với quân cướp nước. Từ xa
xưa, văn hóa đã có một sức mạnh vô hình và là cơ sở tồn tại hết sức quan trọng với
mỗi một quốc gia, dân tộc. Các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu ở nước ta cũng đã
cố gắng đưa ra những khái niệm về văn hóa phù hợp với tiêu chí chung của nhân
loại và tiêu chí của quốc gia, dân tộc.
Trong công trình Xã hội học Văn hóa do Viện Văn hóa và Nhà xuất bản
(Nxb) Văn hóa - Thông tin, xuất bản năm 1997, Đoàn Văn Chúc định nghĩa rằng:
Văn hóa – vô sở bất tại: Văn hóa - không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất
cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa; nơi nào
có con người nơi đó có văn hóa [5; 18].
Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ
tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” [73; 3].
Theo định nghĩa này thì văn hóa là những cái gì đối lập với thiên nhiên và do con
người sáng tạo nên từ tư tưởng tình cảm đến ý thức tình cảm và sức đề kháng, sức
chiến đấu của mỗi người, mỗi dân tộc.
Trong tác phẩm Cơ sở văn hóa Việt Nam và Tìm về bản sắc văn hóa Việt
Nam, PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm đã định nghĩa: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ
các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình
hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã
hội [40, 24]. Như vậy với cách định nghĩa này thì nội hàm của khái niệm văn hóa
bao gồm: Thứ nhất, đó là những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo
16
ra nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người và vì con người. Thứ hai, những giá
trị mà con người sáng tạo ra đó phải mang tính nhân tính. Điều đó có nghĩa là có
những giá trị do con người sáng tạo ra nhưng nó không phải là giá trị văn hóa bởi vì
nó không mang tính người, nó hủy hoại cuộc sống của con người do đó không được
cộng đồng chấp nhận như: bom nguyên tử, các vũ khí giết người hay chủ nghĩa
khủng bố; một vấn đề nổi cộm trong giai đoạn hiện nay.
Có thể nói, khó có thể đưa một định nghĩa hay khái niệm về văn hóa. Dựa
trên những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau, dựa trên những cách tiếp cận khác nhau
phục vụ cho mục đích nghiên cứu của mình mà các nhà khoa học, nhà nghiên cứu
có thể lựa chọn một định nghĩa hay khái niệm có nội hàm gần nhất với vấn đề
nghiên cứu của mình. Tuy khác nhau nhưng các định nghĩa về văn hóa đều thống
nhất ở một điểm, coi văn hóa là cái do con người sáng tạo ra, cái đặc hữu của con người.
Mọi thứ văn hóa đều là văn hóa thuộc về con người, các thứ tự nhiên không thuộc về
khái niệm văn hóa. Văn hóa là đặc trưng căn bản, phân biệt con người với động vật, cũng
là tiêu chí căn bản để phân biệt sản phẩm nhân tạo và sản phẩm tự nhiên.
Tóm lại, văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát
nằm trong văn hóa, trở thành một phần quan trọng của văn hóa. Văn học được coi là
“một loại hình sáng tác, tái hiện những vấn đề của đời sống xã hội và con người.
Phương thức sáng tạo của văn học được thông qua sự hư cấu, cách thể hiện nội
dung các đề tài được biểu hiện qua ngôn ngữ” [81; 1]. Văn học là một hình thái ý
thức xã hội thẩm mĩ, nó bắt nguồn từ đời sống, phản ánh đời sống, bày tỏ một quan
điểm, lập trường đối với đời sống. Nhưng văn học không phản ánh hiện thực trong
ý nghĩa khách quan, phổ quát của chủng loại, của sự vật như cái giếng, con đường,
cái ao… mà nó quan tâm là một hệ người kết tinh trong sự vật. Ví dụ, nói đến mây,
văn học không phản ánh nó giống như một hiện tượng địa lí mà nói đến nó như một
bộ phận của cuộc sống con người, của thế giới người, mang nội dung quan hệ con
người. Vì mây cho núi lên trời/ Vì chưng gió thổi, hoa cười với trăng (Ca dao); Văn
học nói đến hoa không phải với tư cách 1 bộ phận sinh sản của cây mà nhìn hoa như
một con người, coi hoa là hiện thân của cái đẹp, của sự nảy nở tươi tắn: Hoa cười
ngọc thốt đoan trang (Truyện Kiều, Nguyễn Du)…
Nói đến chức năng của văn học là nói đến mục đích sáng tác của văn
chương, đến vấn đề viết để làm gì, đến ý nghĩa văn hóa - xã hội của nó. Văn học là
18
một hoạt động tinh thần không chỉ của người sáng tạo mà của cả người tiếp nhận,
thưởng thức. Nó mang những chức năng có ý nghĩa xã hội rộng lớn bởi "chức năng
là sự biểu hiện ra bên ngoài các đặc tính của một khách thể nào đó trong một hệ
thống các quan hệ nhất định" [82; 3]. Tác phẩm văn học là sự biểu hiện về năng lực,
trình độ, phẩm chất tinh thần của chủ thể trong sự sáng tạo, phản ánh hiện thực đời
sống khách quan, xã hội, con người, dựng nên "hình ảnh chủ quan của thế giới
khách quan". Vì vậy, văn học có chức năng phản ánh hiện thực. Văn học là biểu
hiện cái quan hệ mang tính người của con người trong quá trình chiếm lĩnh, đồng
hóa hiện thực bên ngoài và bên trong nó dưới hình thức nghệ thuật của ngôn từ. Cái
quan hệ người ấy trong cuộc sống nhân loại thật phong phú, nhiều cung bậc, hình
Không thể hiểu nó ngoài cái mạch nguyên vẹn của toàn bộ văn hóa của một thời đại
trong đó nó tồn tại”. Văn học được coi là sự “tự ý thức văn hóa” [54; 2], có nghĩa là
trong văn học, luôn bộc lộ rõ nét bản chất của văn hóa một đất nước, và những tác
phẩm văn học luôn mang trong mình những biểu hiện văn hóa đặc trưng của một
vùng quê, một đất nước, mặc dù người viết có hay không ý thức cần phải truyền tải
văn hóa vào sáng tác của mình. Bởi văn học là sự hiển đạt văn hóa một cách hiển
nhiên. Hay nói theo PGS.TS Trần Lê Bảo: “…nhà văn – chủ thể sáng tác phải là
con đẻ của một cộng đồng, thuộc về một cộng đồng nhất định, muốn hay không anh
ta cũng đã tiếp nhận những thành tố văn hóa của cộng đồng mình, những lối tư duy,
những mô thức ứng xử trong đó chứa đựng nội hàm văn hóa tâm lý riêng của thời
đại cũng như những ngưng tụ giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng. Vì vậy
nhà văn dù sáng tạo tới đâu, viết ra hay nói ra vấn đề gì thì cũng vẫn thể hiện tâm
thái văn hóa và những kết cấu tâm lý văn hóa độc đáo của dân tộc mình” [54; 4].
Cũng theo PGS.TS Trần Lê Bảo, “Văn học chẳng những là một bộ phận của văn
hóa, chịu sự chi phối ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa mà còn là một trong những
phương tiện tồn tại và bảo lưu văn hóa. Văn học chịu ảnh hưởng trực tiếp từ môi
trường văn hóa thời đại và truyền thống văn hóa độc đáo của một dân tộc, đồng thời
thể hiện cả nội hàm tâm lý văn hóa độc đáo của một thời đại và một cộng đồng dân
tộc. Cùng với hệ thống giá trị văn hóa là những mô thức văn hóa riêng của một cộng
đồng dân tộc, văn học đã tự giác tiếp nhận và thể hiện những giá trị và mô thức mà
cả cộng đồng tôn trọng và tuân thủ” [54; 5].
20