TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA NÔNG LÂM NGHIỆP
----------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU SỰ PHÂN BỐ CỦA CÂY GÕ ĐỎ
(Afzelia xylocarpa (Kurz) Craib.)
TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN EA SÔ
Sinh viên: HỒ ANH TUẤN
Chuyên ngành: Lâm Sinh
Khóa học: 2011 - 2015
ĐẮK LẮK, 5/2015
i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA NÔNG LÂM NGHIỆP
----------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU SỰ PHÂN BỐ CỦA CÂY GÕ ĐỎ
(Afzelia xylocarpa (Kurz) Craib.)
TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN EA SÔ
Sinh viên: HỒ ANH TUẤN
Chuyên ngành: Lâm Sinh
Người hướng dẫn
ThS. NGÔ THẾ SƠN
3.1.3. Xác định các nhân tố sinh thái chủ đạo ảnh hưởng đến phân bố Gõ đỏ 20
3.2. Phương pháp nghiên cứu................................................................................ 20
3.2.1. Phương pháp luận................................................................................... 20
3.2.2. Phương pháp cụ thể ................................................................................ 21
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................ 29
4.1. Bản đồ phân bố, sinh thái của loài cây gõ đỏ tại KBTTN Ea Sô ................ 29
4.2. Mật độ phân bố, trữ lượng của loài Gõ đỏ tại KBTTN Ea Sô .................... 30
4.3. Xác định các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến mật độ phân bố và tái
sinh của Gõ đỏ ........................................................................................................ 31
4.3.1. Mối quan hệ loài Gõ đỏ với các loài trong lâm phần............................. 31
4.3.2 Các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến mật độ phân bố và tái sinh loài
Gõ đỏ ........................................................................................................................ 34
4.4. Giải pháp bảo tồn loài Gõ đỏ ở KBTTN Ea Sô ............................................ 37
KẾT LUẬN- KIẾN NGHỊ ..................................................................................... 39
1.
Kết luận ........................................................................................................... 39
2.
Tồn tại.............................................................................................................. 39
1.
Kiến nghị: ........................................................................................................ 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 41
ii
Geography Information System: Hệ thống thông tin địa lý
KBTTN
Khu bảo tồn thiên nhiên
KBT
Khu bảo tồn
OTC
Ô tiêu chuẩn
PTNT
Phát triển nông thôn
UBND
Ủy ban nhân dân
iv
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tính cấp thiết của vấn đề
đẹp, ít cong vênh, được sử dụng để làm đề gỗ cao cấp, ngoài ra hạt cây Gõ đỏ
còn được sử dụng để hút độc rắn khi bị rắn cắn.
Nhờ có nhiều giá trị nên gỗ gõ đỏ đang được khai thác một cách tràn lan và
bất hợp pháp làm cho số lượng cây gõ đỏ đang giảm nhanh chóng trong cả nước
và tại Khu bảo tồn Ea Sô cũng không ngoại lệ. Vì vậy việc bảo tồn cây gõ đỏ ở
cả nước nói chung và tại khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô nói riêng sẽ có ý nghĩa
rất lớn trong việc phục hồi số lượng cá thể gõ đỏ trong tự nhiên.
Ngoài ra các tài liệu nghiên cứu về sự phân bố của loài gõ đỏ tại khu bảo
tồn thiên nhiên Ea Sô rất ít. Do đó, để góp phần thêm những hiểu biết khoa học
nhằm bảo vệ số lượng cá thể Gõ đỏ ngoài tự nhiên, cũng như gìn giữ được các
giá trị của loài trong tương lai thì việc nghiên cứu về phân bố, sinh thái để bảo
tồn loài trong tự nhiên là vô cùng cấp thiết. Vấn đề được đặt ra là: Sự phân bố
của Gõ đỏ trong khu bảo tồn, số lượng còn lại của Gõ đỏ, Sinh trưởng phát triển
thuận lợi trong điều kiện nào, những yếu tố sinh thái chi phối quá trình phát triển
của loài... Từ những thực tiễn đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Phân bố
nhiên cứu sự phân bố của cây Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa (Kurz)Craib) tại khu
bảo tồn thiên nhiên Ea Sô.
Đề tài này sẽ góp phần thiết thực vào công việc cung cấp những thông tin
cơ bản về đặc điểm phân bố của loài gõ đỏ từ đó đưa ra nhưng giải pháp bảo tồn
số lượng cá thể Gõ đỏ trong Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô.
Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được phân bố của loài Gõ đỏ trong khu bảo tồn thiên nhiên Ea
Sô.
- Ước lượng được mật độ, trữ lượng loài Gõ đỏ trong khu bảo tồn.
- Tìm ra được quy luật phân bố của loài trong khu bảo tồn
- Phát hiện được các nhân tố sinh thái chủ đạo ảnh hưởng đến phân bố Gõ
vật nuôi, ở Trung Quốc người ta dùng hạt sắc nước xoa ngâm chữa đau răng.
1.1. Tổng quan về Gõ đỏ ở Việt Nam
1.1.1. Phân loại, hình thái, một số tính chất gỗ và giá trị sử dụng
Gõ đỏ, các tên gọi khác như hổ bì, cà te (danh pháp 2 phần: Afzelia
xylocarpa (Kurz)Craib), là loài thực vật thuộc họ Đậu (Fabaceae).
Gõ đỏ là loài cây gỗ lớn, vỏ màu xám trắng, sần sùi nhiều. Phân cành thấp.
Lá kép lông chim chẵn, phiến lá chét hình trái xoan, đầu có mũi lồi tù, đuôi gần
tròn. Hoa tự hình chùm, hoa lưỡng tính, tràng hoa màu trắng, có 1 cánh, hình
tròn có móng dài. Quả đậu hình bao kính, vỏ quả khi chín hoá gỗ màu đen, hạt
hình trụ có cạnh, vỏ hạt cứng màu đen, dây rốn cứng màu vàng nhạt.
Cây sinh trưởng chậm, ưa sáng, phân bố trong rừng thường xanh hoặc rừng
nửa rụng lá, mọc trên đất bằng hoặc sườn thoát nước, tầng đất sâu, thành phần
cơ giới của đất trung bình.
Cây gỗ cao tới 20-30m, vỏ nhẵn, ánh bạc, gỗ màu nâu vàng. Lá do 3-5 cặp
lá chét hình trái xoan, nhọn, không cân ở gốc chẵn, màu mốc ở dưới, dài 5-6cm,
rộng 4-5 cm. Hoa xam xám thành cụm hoa dài 10-12cm, có lớp lông mềm xám,
vượt qua lá. Quả đậu dày, tù, gần như không cuống, dài 15cm, rộng 6-9cm, dày
2-3cm, hóa gỗ cứng. Quả có 7-8 hạt, dạng trứng, dày 25-30mm, dày 18-24mm,
có áo hạt màu da cam hình bốn góc tạo thành đấu cạn, dài khoảng 1,5cm. Cây ra
hoa tháng 1-3, quả tháng 10-11.
Gỗ gõ đỏ tốt làm đồ mĩ nghệ đồ gỗ trang trí và dùng trong xây dựng, hạt
non ăn được. Hạt giải được các loại độc.
1.1.2. Phân bố, sinh thái và cấu trúc quần thể
Ở nước ta, Gõ đỏ thường gặp trong các rừng hỗn giao rụng lá và rừng khô
thường xanh, ở độ cao thấp, dưới 900m từ Khánh Hòa đến Đồng Nai, Tây Ninh.
Như: Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai (An Khê, Chư Prông),
4
NPK đảm bảo cho Gõ đỏsống sót và sinh trưởng tốt trong 6 tháng đầu ởvườn
ươm là 6% – 7% (kết hợp với 74% đất + 15% phân chuồng hoai + 5% xơdừa) so
với trọng lượng ruột bầu. 140
(4) Gõ đỏlà loài cây cần nhiều phân hữu cơ đểsinh trưởng và phát triển.
Khi gieo ươm Gõ đỏtrên nền đất xám phù sa cổ ở Đồng Nai, hỗn hợp ruột bầu
cần được bổsung từ32% - 53% phân chuồng hoai, tối ưu 42% so với trọng lượng
ruột bầu.
(5) Khi gieo ươm Gõ đỏ trên nền đất xám phù sa cổ ở Đồng Nai, ruột bầu
có thể được cấu tạo từ20% phân chuồng hoai kết hợp với 1% super lân so với
trọng lượng ruột bầu.
(6) Khi gieo ươm Gõ đỏtrên nền đất xám phù sa cổ ở Đồng Nai, ruột bầu
có thể được cấu tạo từ15% - 20% phân chuồng hoai kết hợp với 3%-4% NPK so
với trọng lượng ruột bầu.
(7) Loại đất khác nhau chỉcó ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng đường kính
thân cây và sinh khối (tươi và khô) Gõ đỏ. Khi gieo ươm Gõ đỏ, bầu đất được
làm từ đất nâu đỏ phát triển trên đá bazan và đất feralít đỏvàng phát triển trên đá
phiến sét tốt hơn so với đất xám trên phù sa cổ.
(8) Ba kích thước bầu 10*18 cm, 15*22 cm và 20*27 cm đưa lại hiệu quả
khác nhau trong sinh trưởng của Gõ đỏ. Đểtạo thuận lợi cho sinh trưởng của Gõ
đỏ ởvườn ươm từ 6 đến 12 tháng tuổi, đồng thời hạ thấp giá thành gieo ươm và
trồng rừng, việc sử dụng kích thước bầu 15*22 cm là thích hợp.
1.1.4. Nhu cầu bảo tồn Gõ đỏ ở KBTTN Ea Sô.
Gõ đỏ là loài cây có giá trịnh kinh tế cao đồng thời thời gian sinh trưởng và
phát triển kéo dài nên nguy cơ tuyệt chủng trong môi trường tự nhiên hiện nay là
rất cao.
Mối đe doạ chính đối với Gõ đỏ là việc khai thác quá mức để lấy gỗ trên
toàn bộ vùng phân bố của loài. Ở Việt Nam Gõ đỏ còn bị đe doạ tuyệt chủng do
các khu rừng bị chia cắt, lửa rừng và do chuyển đổi nơi sống của cây thành đất
tiến hành với mong muốn góp thêm một phần cơ sở dữ liệu, thông tin khoa học
về một loài cây có giá trị ở Việt Nam.
7
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN
CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các quần xã thực vật có phân bố Gõ đỏ và loài
nghiên cứu là Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa (Kurz) Craib) tại KBTTN Ea Sô,
huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.
2.1.2. Chỉ tiêu nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu 4 nhóm nhân tố sinh thái theo Thái Văn Trừng
[1] có ảnh hưởng đến phân bố, tái sinh tự nhiên loài nghiên cứu:
- Nhóm nhân tố liên quan đến rừng (nhân tố khu hệ thực vật): Kiểu rừng
(khộp, ½ rụng lá, thường xanh, hỗn giao gỗ - tre nứa), trạng thái, ưu hợp
tầng cây gỗ chính, độ tàn che, G (m2/ha), số tầng rừng, loài le tre, loài
thực bì chính, loài cây gỗ tái sinh chủ yếu (2 – 3 loài).
- Nhóm nhân tố đất đai: màu đất, pH đất, kết cấu (xốp, hơi chặt, chặt, rất
chặt), mức độ ngập nước (không, nhập nhẹ, ngập có mặt nước), đá nổi
%, kết von bề mặt %, độ sâu tầng đất (<30cm, 30-50cm, >50cm).
- Nhóm nhân tố địa hình – địa lý: Tọa độ UTM, độ cao, vị trí (thung lũng,
bằng, chân, sườn, đỉnh), độ dốc, hướng phơi (hướng Bắc).
- Nhóm tác nhân (sinh vật – con người): loại hình tác động (không, sau
nương rẫy, khai thác chọn), mức độ lửa rừng (không, vài năm, hàng
năm).
2.2. Đặc điểm khu vực nghiên cứu
và 1 tháng hạn, lương mưa bình quân rất thấp khoảng 10 - 15 mm/tháng.
- Chế độ ẩm: Độ ẩm bình quân năm khoảng 80%. Độ ẩm bình quân vào
mưa khoảng 85 - 92%, vào mùa khô 30 - 50%.
- Chế độ gió: Hàng năm có 2 hướng gió chính thịnh hành, gió mùa Đông
Bắc thịnh hành trong các tháng mùa khô và gió mùa Tây Nam thịnh hành trong
các tháng mùa mưa.
Chế độ khí hậu trong vùng mang tính chuyển tiếp giữa hai vùng Bắc
Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ, kết hợp với sự đa dạng về địa
9
hình, đất đai đã tạo nên cho Ea Sô đa dạng về các kiểu thảm thực vật rừng và
là nơi cư trú của nhiều loài động thực quý hiếm. Tuy nhiên, trong những
tháng khô hạn nắng nóng, lượng nước bốc hơi cao đã gây ra tình trạng khô
nóng khắc nghiệt ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng, phát triển của khu hệ
động thực vật, nhất là tình trạng thiếu nguồn nước cho các loài thú móng
guốc ở đây sinh trưởng và phát triển.
Thủy văn
Trong KBT có hai hệ thống sông, suối chính như sau:
- Sông Ea Krông Năng chảy qua ranh giới phía Nam và phía Đông của
KBT sau đó chảy vào tỉnh Phú Yên, mô đun dòng chảy trung bình khoảng 40
- 70 l/s/km2. Trong đó có các nhánh suối lớn chảy trong địa phận KBT như
Ea Dăh, Ea Gbou...
- Suối Ea Puich là hệ thống suối chính trong KBT, đầu nguồn hệ thống
suối này đều bắt nguồn từ các đỉnh núi ở phía Bắc, phía Đông của KBT rồi
chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc đi qua trung tâm, chia đôi KBT làm 2
phần sau đó nhập vào sông Ea Krông Năng. Mạng lưới các nhánh suối đầu
nguồn chảy vào suối chính Ea Puich, gồm các suối Ea Puk, Ea Hmlay, Ea
Knel, Ea keb... đều nằm trọn trong địa phận KBT. Suối Ea Puich chảy qua
nhiều kiểu địa hình nên ở một số đoạn lòng suối hẹp, độ dốc lớn đã tạo ra
Bắc của KBT, chiếm khoảng 30% diện tích tự nhiên của KBT. Độ cao tuyệt
đối từ 300 - 1.046 m, mức độ chia cắt địa hình tương đối mạnh, độ dốc bình
quân từ 20 - 25. Kiểu địa hình này, là nơi phân bố chủ yếu của kiểu thảm
thực vật rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới, hệ động vật rừng phân bố
trong sinh cảnh của kiểu rừng này, khá đa dạng, trong đó có nhiều loài có
nguồn gen quý hiếm là đối tượng bảo tồn như Khỉ, Vượn, Chà vá, Bò tót... và
các loài chim quý hiếm thuộc họ Hồng hoàng, họ Chim lam...
b) Địa hình đồi: Được hình thành và tạo ra chủ yếu bởi các dãy đồi lượn sóng và
một số đồi độc lập. Phân bố xen kẽ giữa kiểu địa hình núi và địa hình vùng
bằng, chiếm khoảng 20% diện tích tự nhiên của KBT. Mức độ chia cắt địa
hình không lớn, độ dốc bình quân từ 7 đến 10. Kiểu địa hình này, là nơi
phân bố chủ yếu của kiểu thảm thực vật rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt
đới xen kẽ với các trảng cỏ, trảng cây bụi, đây là nơi trú ngụ chủ yếu của các
loài động vật cỡ lớn, có nguồn gen quý hiếm, có giá trị cao về bảo tồn như
Bò rừng, Bò tót, Nai... và các loài thú ăn thịt như Mèo rừng, Mèo gấm...
c) Địa hình vùng bằng: Là kiểu địa hình chính, chiếm khoảng 50% diện tích tự
nhiên của KBT. Độ cao tuyệt đối trung bình từ 200 - 300 m, địa hình đơn
giản, hầu như không bị chia cắt. Kiểu địa hình này, có thảm thực vật chủ yếu
là các trảng cỏ, cây bụi, cây gỗ rải rác hay trảng cỏ, cây bụi phân bố xen kẽ
với các giải rừng kín lá rộng nửa rụng lá ven sông, suối. Đây là sinh cảnh
hiếm, độc đáo của Ea Sô; một trong những hệ sinh thái đặc trưng của dãy
Trường Sơn được xếp hạng ưu tiên bảo tồn và là nơi cung cấp nguồn thức ăn
quan trọng cho các loài thú móng guốc, có nguồn gen quý hiếm là đối tượng
bảo tồn chính của Ea Sô như Bò rừng, Bò tót...
- Đất đai
Theo kết quả phân loại của Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp
phối hợp với Đaị học Leuven Vương quốc Bỉ thực hiện đã công bố năm 1999
11
12
(4) Rừng trồng (kiểu phụ rừng nhân tạo): Diện tích 217,9 ha, chiếm
khoảng 0,81% diện tích tự nhiên của KBT. Loài cây rừng: Cây phù trợ là các
loài Keo (Acacia sp); cây bản địa gồm các loài như Muồng đen (Cassia
siamea), Căm xe (Xylya xylocarpa), Giáng hương (Peterocarpus
macrocarpus)…
(5) Trảng cỏ, cây bụi và cây gỗ rải rác: Kiểu thảm thực vật này chiếm
diện tích lớn thứ hai trong các kiểu thảm thực vật trong KBT, diện tích
5.651,6 ha, chiếm 20,99% diện tích tự nhiên của KBT. Phân bố chủ yếu ở
những khu vực có địa hình bằng phẳng, độ cao khoảng 300m.
Về tổ thành loài cây, ở các trảng cỏ chủ yếu gặp các loại cỏ như Cỏ tranh
(Imperata crydrica), Cỏ mật (Eriochlia sp), Cỏ lồng vực (Echinochloa sp), Cỏ
chỉ (Cynodon dactylon)… Ở một số trảng cỏ có cây thân gỗ mọc rải rác chủ
yếu gặp các loài tái sinh như Gáo, Vừng, Cóc rừng, Giáng hương, Cẩm lai…
và loài cây ưa sáng như Thầu tấu, Me rừng, Thành nghạnh…
Tên khoa học của loài phải in nghiêng
- Hệ thực vật rừng.
Theo các tài liệu khoa học đã công bố và kết quả điều tra khu hệ thực vật
cho thấy, hệ thực vật rừng của KBT Ea Sô khá đa dạng và phong phú, là nơi
hội tụ ba luồng thực vật chính sau:
- Luồng thực vật Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa (yếu tố bản địa), gồm
các loài tiêu biểu thuộc họ Long não (Lauraceae), họ Đậu (Fabaceae), họ
Xoan (Meliaceae)…
- Luồng thực vật Mã Lai - Inđônêxia (yếu tố di cư), gồm các loài cây đại
diện thuộc họ Dầu (Dipterocapaceae).
- Luồng thực vật Ấn Độ - Myanmar (yếu tố di cư), gồm các loài cây đại
diện thuộc họ Bàng (Combretaceae), họ Săng lẻ (Lythraceae).
Thành phần hệ thực vật: Đến nay đã ghi nhận được trong KBT có 714 loài
714
(Nguồn: Website - Cục kiểm lâm)
Nguồn: được căn bên phải, ing nghiêng
Trong số đó có khá nhiều loài có nguồn gen đặc hữu, quý hiếm cần bảo
tồn:
+ Các loài đặc hữu: Có 3 loài thực vật đặc hữu chiếm 0,4% tổng số loài,
gồm: Trắc (Dalbergia cochinchinensis), Cẩm lai Bà Rịa (Dalbergia
bariaensis), Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa).
+ Các loài quý hiếm: Có 18 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam. Tình
trạng các loài trên được ghi trong sách đỏ như sau:
Sẽ nguy cấp (V) 7 loài: Tuế lá xẻ (Cycasmicholitsii), Cẩm lai vú
(Dalbergia mammosa), Trắc (Dalbergia cochinchinensis), Cẩm lai bà rịa
(Dalbergia bariaensis), Kơ nia (Irvingia malayana), Gõ đỏ (Afzelia
xylocarpa).
Cà te (Afzelia xylocarpa), Thổ phục linh (Smilax glabra),
(Bổ sung thêm phần thiếu)
Hiếm (R) 3 loài: Ý thảo (Dendrobium gratiosissimum), Kỳ nam kiến
(Hydnophytum formicarum), Xưng da (Siphonodon celastrineus),
Bị đe doạ (T) 3 loài: Gáo vàng (Adina cordifolia), Ba gạc (Rauvolfia
cambodiana), Sừng dê (Strophanthus divaricatus),
Biết không chính xác (K) 5 loài: Cẩu tích Cibotium barometz), Giáng
hương (Pterocarpus macrocarpus), Gõ mật (Sindora siamensis), Chiêu liêu
nghệ (Terminalia nigrovenulosa), Cây Tung (Tetrameles nudiflora).
+ Về giá trị sử dụng: Theo số liệu thống kê trong số 714 loài thực vật đã
nghi nhận trong KBT, trong đó: nhóm cây cho lấy gỗ có 235 loài: Gồm một
14
số loài cho gỗ có trị kinh tế cao như Sao đen, Cẩm liên, Bằng lăng, Căm xe...
(Lophura diardi), Gà tiền mặt đỏ (Polyplectron germaini), Hồng hoàng
(Buceros bicornis).
+ Khu hệ Lưỡng cư và Bò sát: Trong tổng số 42 loài Lưỡng cư và Bò
sát được ghi nhận trong khu Bảo tồn, có 15 loài được ghi trong sách đỏ của
Việt Nam và Thế Giới, chiếm 35,7% tổng số loài.
Trong đó có 3 loài đang bị đe doạ ở mức độ (CR) rất nguy cấp, 8 loài
đang bị đe doạ ở cấp (EN) nguy cấp và có 2 loài bị đe dọa ở cấp (VU) sắp
nguy cấp.
2.2.2. Điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa khu vực nghiên cứu
Sau số tiểu mục, phải có dấu chấm. VD: 2.2. Điều kiện…
Theo dự án vùng đệm của KBT, xây dựng năm 2006 và kết quả điều tra
về dân sinh, kinh tế xã hội cho thấy sức ép từ phía người dân sinh sống trong
khu vực đến các nguồn tài nguyên rừng của KBT, chủ yếu xuất phát từ người
dân ở 2 xã Ea Sô, huyện Ea Kar và xã Cư Prao, huyện M’Drăk.
Số liệu này đã quá cũ
Số liệu điều tra dân sinh, kinh tế xã hội của hai xã vùng đệm cho thấy:
a) Dân số, dân tộc và lao động
- Tổng dân số trong vùng đệm có 8.868 nhân khẩu, 2.133 hộ gia đình,
bình quân một hộ gia đình có khoảng 4 - 5 người. Toàn bộ dân số nói trên
sống tập trung thành 19 thôn, bản nằm bên ngoài ranh giới quy hoạch cho
KBT.
- Mật độ dân số trong vùng tương đối thấp, dao động từ 12 – 41
người/km2, trung bình là 27 người/km2, chỉ bằng 1/5 so với mật độ dân số
trung bình của tỉnh Đăk Lăk (135 người/km2). Dân số 2 xã trong vùng là xã
vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, dân tộc phía bắc nhập cư, thuộc
diện khó khăn của tỉnh Đăk Lăk. (Đắk Lắk)
- Dân số phân theo thành phần dân tộc: Cộng đồng dân cư sinh sống
trong vùng đệm, gồm có 6 thành phần dân tộc chủ yếu sau: Nhóm các dân
như: Lúa rẫy, Ngô, Sắn, Mía, Bông... nhưng năng suất đạt được rất thấp,
chăn nuôi trong vùng chủ yếu ở quy mô hộ gia đình.
Nguồn thu nhập thấp, đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn, hiện
nay bình quân lương thực trên đầu người trong vùng đạt khoảng 500
17
kg/người/năm, tổng thu nhập bình quân trên đầu người đạt khoảng 4.500.000
đồng/người/năm. (Tỷ lệ hộ nghèo là bao nhiêu)
Hiện trạng cơ sở hạ tầng: trên địa bàn xã Ea Sô có tuyến đường quốc lộ
26B từ Phú Yên đi Đắk Lắk chạy qua, mặt đường nhiều đoạn đã được trải
nhựa đi lại khá dễ dàng (đoạn chạy qua địa phận của KBT dài khoảng 28
km).
Các công trình: Điện, đường (đường giao thông liên thôn, liên xã), trường,
trạm... còn lạc hậu.
Trụ sở Ban quản lý KBT đến nay vẫn chưa có điện lưới quốc gia, phải
sử dụng bằng điện máy nổ.
- Văn hoá xã hội: Hiện nay, trên địa bàn cả hai xã đã được đầu tư xây
dựng bưu điện văn hoá, chợ phục vụ công tác thông tin liên lạc, mua bán trao
đổi và tiêu thụ các hàng hoá nông sản
c) Hoạt động lâm nghiệp
Diện tích đất lâm nghiệp tại 2 xã là khá hạn chế: Xã Ea Sô còn 21,7 ha đất
lâm nghiệp trên đồi mồ côi, hiện đang giao cho xã quản lý.
Xã Cư Prao có diện tích đất lâm nghiệp khoảng 360 ha, một số trong đó
đã được giao cho cộng đồng thôn buôn để quản lý, kinh doanh lâu dài. Tuy
nhiên, sau nhiều năm nhận đất lâm nghiệp, hầu hết các cộng đồng của xã chưa
có điều kiện để thực hiện các giải pháp kỹ thuật lâm sinh như khoanh nuôi tái
sinh, trồng rừng, nuôi dưỡng rừng non... trên đất rừng của mình đã nhận, lý do là
hoạt động đầu tư kinh doanh rừng là việc làm rất mới đối với cộng đồng và