LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Những nội dung trong báo cáo này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của
Th.S Nguyễn Thị Hải Yến.
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong báo cáo này là trung thực và chưa từng
sử dụng bảo vệ môn học nào.
Mọi tham khảo trong báo cáo này được trích dẫn rõ ràng.
Mọi sao chép không hợp lệ vi phạm quy chế đào tạo hay gian trá tôi xin hoàn
toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 15 tháng 06 năm 2013
Sinh viên
Phạm Hồng Hạnh
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi
trường Hà Nội, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy cô
giáo trong trường đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa Quản lý đất đai. Các thầy cô đã
trang bị cho em những kiến thức cơ bản về chuyên ngành làm hành trang cho em
vững bước về sau. Với lòng cảm ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn Ban Giám
hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Quản lý đất đai, các thầy cô đã giảng dạy,
hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập tại trường.
Đặc biệt để hoàn thành tốt báo cáo tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản
thân, em còn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của cô giáo – Th.S Nguyễn
Thị Hải Yến; sự giúp đỡ của các thầy cô trong Khoa Quản lý đất đai. Sự động viên
của gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện để em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này.
Do tính chất phức tạp của đất đai và điều kiện khó khăn thực tế trên địa bàn
Thanh Trì. Do trình độ và năng lực có hạn nên báo cáo này không tránh khỏi thiếu
Bộ Tài nguyên và Môi rường
BT&GPMB
Bồi thường và giải phóng mặt bằng
CP
Chính phủ
ĐKĐĐ
Đăng ký đất đai
ĐKQSDĐ
Đăng ký quyền sử dụng đất
ĐKTK
Đăng ký thống kê
GCN
Giấy chứng nhận
GCNQSDĐ
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
1.1.2.1 Thời kỳ trước năm 1945..............................................................................5
1.1.2.2 Thời kỳ Mỹ Nguỵ tạm chiếm miền Nam (1954 – 1975).............................6
1.1.2.3 Quan hệ đất đai của Nhà nước Cách mạng từ năm 1945 đến nay...........7
3.1.1.1 Vị trí địa lý.................................................................................................23
3.2.1 Tình hình quản lý đất đai ............................................................................36
3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất đai huyện Thanh Trì............................................41
1624......................................................................................................................... 56
99,27........................................................................................................................ 56
2450......................................................................................................................... 56
98,63........................................................................................................................ 56
Hình 3.1 Sơ đồ vị trí địa lý huyện Thanh Trì....Error: Reference source not found
Biểu đồ 3.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế..............Error: Reference source not found
Biểu đồ 3.2 Cơ cấu sử dụng đất năm 2012................................................................42
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản
xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn
phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc
phòng, đất đai luôn là đối tượng khai thác của con người trong quá trình sinh tồn.
Cùng với đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cũng có vị trí hết sức
quan trọng đối với đời sống con người, là tài sản của Nhà nước, của mỗi gia đình,
phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội và mức sống của mỗi quốc gia, mỗi dân
tộc.
Ngày nay, do quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá diễn ra mạnh mẽ vấn đề
sử dụng đất đai, nhà ở càng trở nên quan trọng và có giá trị thực tiễn. Nó trở thành
với đất giúp cho người dân yên tâm sản xuất và đầu tư phát triển trên mảnh đất đó.
Bên cạnh đó Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất còn là tài sản để người sử dụng thực hiện các giao dich bất
động sản như: chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, cho thuê, cho thuê lại, cầm cố, thế
chấp, bảo lãnh… Một vấn đề quan trọng của việc cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là giúp cho nhà nước có cơ sở pháp lý trong
việc thu thuế sử dụng đất, thuế tài sản, thuế chuyển quyền sử dụng đất…tăng cường
nguồn nhân sách cho nhà nước.
Tuy nhiên trên thực tế việc đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của nước ta nói chung và các
địa phương cũng như của huyện Thanh Trì nói riêng còn gặp nhiều khó khăn cần
được giải quyết. Huyện Thanh Trì có diện tích lớn, địa hình bằng phẳng, có vị trí
khá thuận lợi trong phát triển kinh tế - xã hội, cách trung tâm Hà Nội 10km. Trong
những năm gần đây, trước sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế và quá trình đô thị
hóa nhanh chóng đã gây ra áp lực lớn với đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất. Các hiện tượng tranh chấp đất đai và tài sản trên đất xảy ra ngày càng nhiều,
vấn đề giao đất, cho thuê đất, lấn chiếm đất đai, sử dụng đất không có giấy chứng
nhận đang diễn ra trên hầu hết các địa phương của huyện Thanh Trì. Điều đó cho
thấy còn nhiều thiếu sót trong công tác đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Để khắc phục tình
trạng trên cần có sự phối hợp của các tổ chức, công dân đặc biệt là vai trò của các
3
cơ quan quản lý nhà nước về đất đai mà quan trọng là thực hiện một cách nghiêm
túc và triệt để vấn đề đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Xuất phát từ thực tiễn khách quan trên, được sự phân công của khoa Quản lý
đất đai – Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, dưới sự hướng dẫn của
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
1.1.1 Tình hình đăng ký đai đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của một
số nước trên thế giới
Trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội loài người, quan hệ sở hữu đất
đai và hình thức sở hữu đất đai tuỳ thuộc vào bản chất Nhà nước và lợi ích của giai
cấp thống trị, nên quan hệ sở hữu đất đai và các biện pháp để quản lý đất đai của
mỗi quốc gia là khác nhau.
* Tại Mỹ: Mỹ là một quốc gia phát triển, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do
Nhà nước thống nhất quản lý. Đến nay, họ đã hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và hoàn thiện hồ sơ địa chính. Nước Mỹ đã xây dựng một hệ
thống thông tin về đất đai và đưa vào lưu trữ trong máy tính, qua đó có khả năng cập
nhật các thông tin và biến động đất đai một cách nhanh chóng và đầy đủ đến từng
thửa đất. Công tác cấp GCNQSDĐ tại Mỹ sớm hoàn thiện, đó cũng là một trong các
điều kiện để thị trường bất động sản tại Mỹ phát triển ổn định.
* Tại Pháp: Hầu hết đất đai tại Pháp thuộc sở hữu toàn dân do Nước Pháp đã
thiết lập được hệ thống thông tin hoá học, được nối mạng truy cập từ trung ương
đến địa phương. Đó là một hệ thống tin học hoàn chỉnh (phục vụ trong quản lý đất
đai). Nhờ hệ thống thông tin này mà họ có thể cập nhật các thông tin về biến động
đất đai một cách nhanh chóng, thường xuyên, phù hợp và cũng có thể cung cấp
thông tin chính xác kịp thời đến từng khu vực, từng thửa đất.
Tuy nhiên, nước Pháp không tiến hành cấp GCNQSDĐ mà họ tiến hành
quản lý đất đai bằng tư liệu đã được tin học hoá và tư liệu trên giấy bao gồm: các
chứng thư bất động sản và sổ địa chính. Ngoài ra, mỗi chủ sử dụng được cấp một
trích lục địa chính cho phép chứng thư chính xác của tư liệu địa chính đối với bất
kỳ một bất động sản nào cần đăng ký.
* Tại Ôtrâylia: Đây là một nước rộng lớn, bốn bề là biển, tỷ lệ diện tích trên
đầu người cao, 90% quỹ đất tự nhiên là do tư nhân sở hữu. Khi Nhà nước muốn sử
5
6
- Thời kỳ Minh Mạng: Triều đình cử một quan khâm sai lo việc bộ điền sau
đổi thành địa bộ tại Nam Kỳ. Sổ địa bạ tiến bộ hơn thời kỳ Gia Long và được lập
theo từng làng xã. Sổ này được lập trên cơ sở đạc điền với sự chứng kiến của các
chức sắc trong làng. Viên chức trong làng lập sổ mô tả thửa đất, kèm theo sổ địa bạ
có ghi diện tích loại đất.
- Thời kỳ Pháp thuộc: Thực dân Pháp chia nước ta thành 3 xứ Bắc Kỳ, Trung
Kỳ, Nam Kỳ.
+ Chế độ thổ điền tại Nam Kỳ: Bản đồ giải thửa được đo đạc chính xác và
lập sổ điền thổ. Mỗi trang sổ chỉ sử dụng ghi một lô đất của chủ sử dụng trong đó
ghi diện tích, địa danh, giáp danh, biến động tăng, giảm, tên chủ sở hữu, vấn đề liên
quan đến chủ sở hữu.
+ Chế độ quản thủ địa chính tại Trung Kỳ: Đất đai được quản lý thông qua
đo đạc bản đồ giải thửa, lập sổ địa bộ, sổ điền chủ.
+ Chế độ điền thổ và quản thủ địa chính tại Bắc Kỳ: Đất đai được quản lý
qua việc tiến hành đo đạc tuy nhiên mới đo được lược đồ đơn giản. Thời kỳ này đã
lập được hệ thống sổ địa chính và được lập theo thứ tự thửa, ghi dịên tích, loại đất,
tên chủ sử dụng.[20]
1.1.2.2 Thời kỳ Mỹ Nguỵ tạm chiếm miền Nam (1954 – 1975)
Thời kỳ này tồn tại hai chính sách ruộng đất: Một là của chính quyền cách
mạng và một là chính quyền Mỹ Nguỵ. Chính quyền Mỹ Nguỵ đã áp dụng một số
chính sách:
- Tân chế độ điền thổ: Đây là chế độ được đánh giá là chặt chẽ. Hệ thống hồ
sơ được thiết lập theo chế độ này bao gồm: Bản đồ giải thửa, sổ điền thổ được lập
theo lô đất ghi rõ diện tích nơi toạ lạc, giáp ranh, biến động tăng giảm, tên chủ sở
hữu. Sổ mục kê lập theo tên chủ ghi số hiệu tất cả các thửa đất thuộc mỗi chủ. Toàn
bộ tài liệu này được lưu thành 2 bộ, mỗi chủ lô đất được cấp một bằng khoán điền
56/QĐ-ĐKTK quy định hệ thống hồ sơ trong quá trình đăng ký thống kê ruộng đất.
+ Giai đoạn từ năm 1988 đến nay: Sau khi có Luật đất đai 1988 công tác
đăng ký thống kê được triển khai thực hiện theo tinh thần Chỉ thị 299/TTg. Tổng
Cục Địa Chính ban hành quyết định 201/QĐ-ĐKTK ngày 24/07/1989 về thực hiện
đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tổng Cục Địa Chính
ban hành Thông tư 302/TT-ĐKTK ngày 29/10/1989 hướng dẫn thi hành Quyết định
201/ĐKTK.
8
Luật đất đai 1993 ra đời để đáp ứng nhu cầu mới của đất nước. Sau khi Luật
đất đai được ban hành, Chính phủ đã ban hành các văn bản pháp luật để triển khai
công tác quản lý đất đai .
Thông tư 346/TT-TCĐC ngày 16/03/1998 hướng dẫn các thủ tục đăng ký đất
đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính.
Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính Phủ quy định về việc giao đất
nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản
xuất nông nghiệp và cấp GCNQSD đất.
Nghị định số 60/CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà ở và
quyền sử dụng đất ở tại đô thị. Cùng ngày, Chính phủ ban hành Nghị định 61/CP về
mua bán và kinh doanh nhà.
Tổng Cục đất đai ban hành Thông tư 1990/2001/TT-TCĐC ngày 20/11/2001
hướng dẫn các thủ tục đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và
lập hồ sơ địa chính trong cả nước.
Trên cơ sở đó Luật đất đai 2003 ra đời và đã từng bước đi vào thực tiễn.
Sau khi có Luật đất đai ra đời, hàng loạt các văn bản dưới luật được ban hành
để cụ thể hoá Luật đất đai.
Ngày 29/10/2004 Chính phủ ban hành Nghị định 181/2004/NĐ-CP về hướng
dẫn thi dẫn thi hành Luật đất đai.
trong không gian. Giá trị sử dụng của tài nguyên tốt hay xấu phụ thuộc vào tình hình
sử dụng và quản lý của con người.
Đất đai thường có quan hệ gắn bó (không thể tách rời) với các loại tài sản cố
định trên đất như : nhà cửa và các loại công trình trên đất, cây lâu năm,...Các loại tài
sản này cùng với đất đai hình thành trên đơn vị bất động sản.
Trong những năm gần đây, sự phát triển của quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước làm cho nhu cầu đất đai tăng, vấn đề sử dụng đất của nhiều ngành,
nhiều địa phương có nhiều biến động.
Vì thế công tác quản lý, sử dụng đất được Nhà nước ta quan tâm một cách
đúng mức. Trong 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai quy đinh tại điều 6, Luật
đất đai 2003 ( sửa đổi bổ sung năm 2009, 2010) thì công tác đăng ký đất đai, cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất giữ vai trò quan trọng.
Thông qua công tác đăng ký đất đai, Nhà nước nắm bắt được tình hình sử
dụng đất và quản lý chặt chẽ mọi biến động đất đai theo đúng pháp luật. Đây thực
10
chất là thủ tục hành chính nhằm thiết lập hệ thống hồ sơ địa chính đầy đủ và cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ sử dụng đất hợp pháp nhằm xác lập
mối quan hệ pháp lý đầy đủ giữa Nhà nước với người sử dụng đất làm cơ sở để
quản chặt, nắm chắc toàn bộ đất đai theo pháp luật. Đăng ký đất đai có hai loại, đó
là đăng ký ban đầu và đăng ký biến động quyền sử dụng đất.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất là chứng thư pháp lý chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất cho người sử dụng đất, sở hữu nhà ở,
sở hữu tài sản khác gắn liền với đất để tạo điều kiện cho họ yên tâm đầu tư, cải tạo
và nâng cao hiệu quả sử dụng. Mẫu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban
tài chính và Tổng cục địa chính hướng dẫn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
theo chỉ thị 18/1999/CT-TTg.
- Nghị định số 04/2000/NĐ-CP ngày 11/01/2000 của Chính phủ về quy
định điều kiện được cấp xét và không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất.
Luật đất đai 2003 ra đời tiếp tục khẳng định: " Đất đai thuộc sở hữu toàn dân
do nhà nước đại diện chủ sở hữu".
- Tiếp theo đó nhiều văn bản luật, thông tư, nghị định hướng dẫn thực hiện
Luật 2003 ra đời.
+ Nghị định 181/NĐ-CP của Chính phủ bổ sung một số điều của Luật đất đai
2003.
+ Chỉ thị số 05/2004/CT-TTg ngày 29/02/2004 của Thủ tướng chính phủ về
việc các địa phương phải hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
trong năm 2005.
+ Quyết định số 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Sau hai năm thực hiện nhận thấy còn một số hạn chế ngày 21/07/2006 Bộ
Tài nguyên và Môi trường ban hành Quyết định số 08/2006/QĐ-BTNMT quy định
về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thay thế cho quyết định số 24/2004/QĐBTNMT ngày 01/11/2004.
+ Nghị định số 84/NĐ-CP ngày 25/07/2007 của Chính phủ quy định bổ sung
về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử
dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
và giải quyết khiếu nại về đất đai.
- Mới đây nhất năm 2009, năm 2010 với việc sửa đổi, bổ sung Luật đất đai
2003 và các luật khác có liên quan đến cấp GCN theo hướng thống nhất cấp một
13
loại GCN cả quyền sử dụng đất cùng với quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
1.3 Khái quát về đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
Đăng ký, cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất là thủ tục hành chính do cơ quan Nhà nước thực hiện đối với đối tượng là các tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất (gọi chung là người sử dụng đất); chủ sở hữu
nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất nhằm xác lập mối quan hệ pháp lý đầy đủ giữa
Nhà nước với người sử dụng đất; chủ sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất
làm cơ sở để Nhà nước quản lý chặt chẽ toàn bộ đất đai theo pháp luật và bảo vệ
quyền lợi hợp pháp của người sử dụng.
1.3.1 Đăng ký đất đai và tài sản gắn liền với đất
“Đăng ký đất đai là việc ghi nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với một
thửa đất xác định vào hồ địa chính nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của người sử
dụng đất”.[9]
Đăng ký quyền sử dụng đất đai: thực chất là thủ tục hành chính, nhằm thiết
lập HSĐC đầy đủ và cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất cho những chủ sử dụng đất hợp pháp nhằm xác lập mối quan hệ pháp lý đầy
đủ giữa Nhà nước với người sử dụng đất và đây cũng là cơ sở để Nhà nước nắm
chắc, quản chặt toàn bộ đất đai theo pháp luật.[10]
Đăng ký đất đai là thủ tục hành chính bắt buộc do cơ quan hành chính Nhà
nước thực hiện với tất cả tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Riêng nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất thì việc đăng ký là nhu cầu của người có quyền sở hữu tài sản. Các
trường hợp đăng ký mà đủ điều kiện thì được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận.
Trường hợp không đủ điều kiện thì người đang sử dụng đất được tạm thời sử dụng
đất cho đến khi Nhà nước có quyết định xử lý theo quy định của pháp luật.
Như vậy, đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là việc ghi
nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với một thửa đất xác định, quyền sở hữu nhà
ở và tài khác gắn liền với đất vào hồ sơ địa chính nhằm xác lập quyền và nhiệm vụ
của người sử dụng đất, người sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
năm 2003) bao gồm:
+ Các tổ chức trong nước.
+ Hộ gia đình, cá nhân trong nước.
+ Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất (đối với đất nông nghiệp và công
trình tín ngưỡng).
16
+ Cơ sở tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động.
+ Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao.
+ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua nhà ở gắn liền với quyền
sử dụng đất ở.
+ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức các nhân nước ngoài đầu
tư vào Việt Nam (ĐK theo tổ chức kinh tế là pháp nhân Việt Nam).
- Các đối tượng sử dụng đất này thực hiện đăng ký trong các trường hợp.
+ Người đang sử dụng đất chưa được cấp GCN.
+ Người sử dụng đất thực hiện quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế,
tặng cho, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn
bằng quyền sử dụng đất.
+ Người nhận chuyển quyền sử dụng đất.
+ Người sử dụng đất đã có GCN được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho
phép đổi tên, chuyển mục đích sử dụng đất, thay đổi thời hạn sử dụng đất hoặc có
thay đổi đường ranh giới thửa đât.
+ Người được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân,
quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất
đai của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành.
Riêng đối với trường hợp: Người thuê đất nông nghiệp dành cho mục đích
công ích, đất nhận khoán của các tổ chức, thuê hoặc mượn đất của người khác để sử
dụng và trường hợp tổ chức, cộng đồng dân cư được giao đất để quản lý thì không
pháp giữa Nhà nước với người sử dụng .[10]
* Trình tự thủ tục cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất được thực hiện theo quy định tại Nghị định 88/2009/NĐ - CP ngày
19/10/2009 và Thông tư 17/2009/TT - BTNMT ngày 21/10/2009.
* Nguyên tắc cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất được thực hiện theo Điều 3 - Nghị định số 88/2009/NĐ - CP ngày
19/10/2009 của Chính phủ.
- Giấy chứng nhận được cấp cho người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất theo từng thửa đất. Trường hợp người sử
dụng đất đang sử dụng nhiều thửa đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, đất nuôi
trồng thủy sản, đất làm muối tại cùng một xã, phường, thị trấn mà có yêu cầu thì
được cấp một Giấy chứng nhận chung cho các thửa đất đó.
18
- Thửa đất có nhiều người sử dụng đất, nhiều chủ sở hữu nhà ở, tài sản khác
gắn liền với đất thì Giấy chứng nhận được cấp cho từng người sử dụng đất, từng
chủ sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất.
- Giấy chứng nhận được cấp cho người đề nghị cấp sau khi đã hoàn thành
nghĩa vụ tài chính liên quan đến cấp Giấy chứng nhận, trừ trường hợp không
phải nộp hoặc được miễn hoặc được ghi nợ theo quy định của pháp luật, trường
hợp Nhà nước cho thuê đất thì Giấy chứng nhận được cấp sau khi người sử dụng
đất đã ký hợp đồng thuê đất và đã thực hiện nghĩa vụ tài chính theo hợp đồng đã
ký.
* Giấy chứng nhận hiện nay đang tồn tại 4 mẫu:
- Mẫu thứ nhất: GCNQSDĐ được cấp theo Luật Đất đai 1988 do Tổng cục
Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi Trường) phát hành , mẫu giấy có màu đỏ
được lập theo mẫu Quyết định 201/QĐ/ĐKTK ngày 14/07/1989 của Tổng cục quản
lý ruộng đất để cấp cho đất nông nghiệp, lâm nghiệp và đất ở nông thôn.
với đất: quy định tại điều 52 Luật Đất đai 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, năm
2010), cụ thể :
- UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp GCNQSDĐ, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt
Nam định cư ở nước ngoài được giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư; tổ
chức, cá nhân nước ngoài.
- UBND huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc Tỉnh cấp GCNQSDĐ, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân
cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất
ở.
* Điều kiện được ủy quyền cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất: được quy định tại Điều 5 - Nghị định 88/2009/NĐ-CP quy định
như sau:
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ủy quyền Sở TN&MT việc cấp
GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho tổ chức trong
nước, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá
nhân nước ngoài và đóng dấu của Sở TN&MT khi có các điều kiện sau:
- Đã thành lập Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc Sở
TN&MT.
- Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất có bộ máy, cán bộ chuyên môn và
cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ cấp Giấy
chứng nhận.
20
1.4 Kết quả thực hiện công tác ĐK, cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất trên địa bàn cả nước
Công tác cấp giấy chứng nhận được đẩy mạnh hơn từ sau khi Luật Đất đai
2003 có hiệu lực. Đến cuối năm 2012 cả nước đã cấp được gần 3,8 triệu giấy chứng