Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số dòng đậu tương nhập nội tại huyện lục yên tỉnh yên bái năm 2008 2009 - Pdf 35

TĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

------------o0o------------

PHẠM HẢI THOẠI

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ
PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ DÒNG ĐẬU TƯƠNG
NHẬP NỘI TẠI HUYỆN LỤC YÊN TỈNH YÊN BÁI
NĂM 2008 -2009

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH : TRỒNG TRỌT
MÃ SỐ : 60. 62. 01

Người hướng dẫn : PGS.TS. Luân Thị Đẹp
Th.S. Trần Văn Điền

Thái Nguyên, năm 2009


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu và những số liệu trình bày
trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng để bảo vệ
một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đều đã được cảm ơn.
Các thông tin, tài liệu trích dẫn trình bày trong luận văn này đều đã được ghi
rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 9 năm 2009
Người viết cam đoan

Đối chứng

TGST

Thời gian sinh trưởng

NSLT

Năng suất lý thuyết

NSTT

Năng suất thực thu

STT

Số thứ tự

TB

Trung bình

PGS.TS

Phó giáo sư, tiến sỹ

CS

Cộng sự




6

MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................ 1
2. Mục đích của đề tài ................................................................................... 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU .............................................................. 4
1.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài .................................................. 4
1.1.1. Cơ sở khoa học của đề tài ............................................................... 4
1.1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài................................................................ 4
1.2. Tình hình sản xuất, chọn tạo giống đậu tương trên thế giới và Việt
Nam ............................................................................................................... 5
1.2.2. Tình hình sản xuất và chọn tạo giống đậu tương ở Việt Nam ...... 19
Chương 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU33
2.1. Vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu.............................................. 33
2.2. Nội dung và phương pháp nghiên cứu................................................. 33
2.2.1. Nội dung nghiên cứu..................................................................... 33
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu............................................................... 34
2.3. Mô hình trình diễn................................................................................ 37
2.4. Đánh giá lựa chọn dòng ....................................................................... 38
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN........................... 39
3.1. Một số đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các dòng đậu tương thí
nghiệm......................................................................................................... 39
3.1.1. Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các dòng đậu tương. 39
3.1.2. Đặc điểm thực vật học của các dòng đậu tương thí nghiệm năm
2008......................................................................................................... 43
3.1.3. Đặc điểm hình thái của các dòng đậu tương thí nghiệm vụ xuân và
vụ đông năm 2008................................................................................... 46

cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng là đòi hỏi cấp thiết của nông
nghiệp nước ta, đồng thời chúng ta phải xây dựng cho được chiến lược phát
triển nền nông nghiệp hiện đại có tính bền vững cao .
Cây đậu tương của Việt Nam đứng sau cây lúa , ngô, khoai. Khi nhu cầu
lương thực được thoả mãn thì đậu tương trở thành một trong những cây trồng
mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước.
Cây đậu tương (tên khoa học Glycine max. L) thuộc cây họ đậu, là cây
công nghiệp ngắn ngày. Nó được xem là “cây thần diệu”, còn được ví là
“vàng mọc từ đất”... sở dĩ cây đậu tương được đánh giá cao như vậy là do giá
trị kinh tế của nó. Giá trị kinh tế chủ yếu của cây đậu tương được quyết định
bởi các thành phần dinh dưỡng quan trọng chứa trong hạt đậu tương bao gồm
Protein chiếm khoảng 40%, lipít 18- 25%, gluxit 10-15%. Trong hạt đậu
tương có chứa đầy đủ và cân đối các loại axít amin, đặc biệt là các axit amin
không thể thay thế cần thiết cho cơ thể con người như Triptophan, leuxin,
Izolơxin, valin, lizin, methiomin. Ngoài ra còn có các muối khoáng như: Ca,
Fe, Mg, Na, P, K…, các vitamin B1, B2, D, K, E…. Protein của đậu tương có
phẩm chất rất tốt, có thể thay thế hoàn toàn đạm động vật trong khẩu phần ăn
hàng ngày của con người, vì nó chứa một lượng đáng kể các amino acid
không thay thế cần thiết cho cơ thể . Đậu tương còn được chế biến thành 600
loại thực phẩm khác nhau, bao gồm các loại thức ăn cổ truyền: đậu phụ,
tương chao, sữa đậu nành... tới các loại thực phẩm, chế phẩm hiện đại như:


2

Kẹo, bánh đậu tương, bacon đậu tương, hotdogs đậu tương, đậu hũ cheese,
các loại thịt nhân tạo... (Trần Đình Long, 2000) [20] tất cả các loại sản phẩm
đều thơm ngon và có giá trị dinh dưỡng cao.
Kết quả nghiên cứu của Bùi Tường Hạnh -1997 [11] cho thấy trong hạt
đậu tương có chất IZOFLAVONE có tác dụng làm giảm đáng kể lượng

dụng sản phẩm từ đậu tương trong nước ngày càng tăng. Cho nên, Đảng và
Nhà nước ta rất quan tâm tới việc phát triển cây đậu tương theo hướng tăng
cả về diện tích và năng suất. Trong đó tăng năng suất là vấn đề cốt lõi, năng
suất có tăng thì mới giảm được chi phí và hạ giá thành sản phẩm. Vì vậy, cần
nhanh chóng đi sâu nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
công tác giống, nhằm tạo ra các giống có năng suất cao, phẩm chất tốt, có khả
năng thích ứng rộng.
Hiện nay ở huyện Lục Yên đang gieo trồng rất nhiều giống đậu tương
khác nhau kể cả giống có nguồn gốc từ Trung Quốc song vẫn chưa có được
những giống cho năng suất cao như mong muốn của người sản xuất.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số dòng đậu
tương nhập nội tại huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái năm 2008- 2009”.
2. Mục đích của đề tài
Tìm ra được những dòng đậu tương có khả năng sinh trưởng, phát
triển tốt, cho năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với vụ xuân và vụ
đông nhằm bổ sung vào cơ cấu giống của tỉnh Yên Bái nói chung và
huyện Lục Yên nói riêng.


4

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
1.1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Để đáp ứng nguồn lương thực, thực phẩm cho nhân loại toàn cầu trong
bối cảnh khí hậu, môi trường sống ngày càng nhiều biến đổi phức tạp, chúng
ta cần xây dựng cho được một nền sản xuất tiên tiến. Sản xuất dựa trên cơ sở

dân, cải thiện đời sống cộng đồng.
1.2. Tình hình sản xuất, chọn tạo giống đậu tương trên thế giới và
Việt Nam
Cây đậu tương có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế, bởi giá trị kinh
tế, dinh dưỡng và giá trị cải tạo đất. Xuất phát từ giá trị đó mà cây đậu tương
được nhiều nước trên thế giới quan tâm, đầu tư sản xuất, nên diện tích, năng
suất và sản lượng cũng đựơc tăng dần qua các năm. Tình hình sản xuất đậu
tương trên thế giới trong nhữmg năm gần đây được trình bày ở bảng 1.1
Bảng 1.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 5 năm gần đây
Năm

diện tích (ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (tấn)

2003

83.651.800

22,804

190.766.963

2004

91.606.264

22,431

11 triệu ha so với năm 2003, tương tự thì sản lượng cũng tăng trên 25,3 triệu
tấn vào năm 2007. Điều này càng khẳng định vị trí vai trò của cây đậu tương
trong sản xuất nông nghiệp. Các nước sản xuất đậu tương lớn gồm có Mỹ,
Brazil, Argentina, Trung Quốc, Ấn Độ, Tây Ban Nha, Úc…


6

Tuy cây đậu tương có xuất xứ từ vùng Mãn Châu-Trung Quốc, sau đó
được đưa sang trồng ở Triều Tiên, Nhật Bản và được đưa sang trồng ở Mỹ
năm 1954, nhưng do có sự thích nghi cao với điều kiện thời tiết, khí hậu và
đất đai, mà cây đậu tương đã được phát triển rất nhanh và Mỹ đã trở thành
một trong những nước sản xuất đậu tương đứng đầu thế giới, cả về diện tích
lẫn sản lượng.
Năm 2000, Mỹ đã sản xuất được 75 triệu tấn hạt. Phần lớn sản lượng đậu
tương được dùng cho chăn nuôi và xuất khẩu, mặc dù nhu cầu tiêu thụ đậu
tương đang tăng lên, tại Mỹ lượng dầu ăn có tới 80% được chế biến từ hạt đậu
tương. Hiện nay, đậu tương đã được trồng ở nhiều quốc gia và các khu vực
trên thế giới, qua khảo sát cho thấy sản xuất đậu tương ở khu vực Bắc Mỹ đã
vượt xa vùng Viễn Đông nơi khởi nguồn của cây đậu tương.
Cây đậu tương là một trong 5 cây thực phẩm quan trọng ở Hoa Kỳ, công
nghệ sinh học đang tập trung vào cây đậu tương, theo số liệu thống kê của Bộ
Nông nghiệp Hoa Kỳ thì năm 2008 diện tích trồng cây đậu tương chuyển gen
của nước này chiếm 92% tổng diện tích trồng cây đậu tương cả nước.
Hiện nay, Mỹ là nước đứng đầu trên thế giới về sản xuất đậu tương, diện
tích trung bình đạt khoảng 30 triệu ha với sản lượng khoảng 87 triệu tấn, vào
năm 2006, chiếm 32 % diện tích và chiếm khoảng 40% sản lượng đậu tương
trên thế giới. Hiện tại, diện tích trồng đậu tương ở Mỹ đứng thứ 3 sau lúa mỳ,
ngô. Đậu tương được coi là mặt hàng có giá trị chiến lược trong xuất khẩu và
thu đổi ngoại tệ.


66.777.820

2004

29.930.060

28,403

85.012.800

2005

28.834.570

28,912

83.367.650

2006

30.190.680

29,038

87.669.860

2007

30.562.400


18.524.769

28,027

51.919.440

2004

21.538.990

23,004

49.549.941

2005

22.948.874

22,302

51.182.074

2006

22.047.349

23,796

52.464.640

9

Hiện nay diện tích trồng đậu tương đang được chính phủ mở rộng, diện
tích trồng mới sẽ được lấy từ đất canh tác ngũ cốc, đặc biệt là đất ở các vùng
Zona Nucleo, trung tâm Achentina ( WAP, Tune 2005).
Tình hình sản xuất đậu tương của Achentina được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.4. Tình hình sản xuất đậu tương của Achentina 5 năm gần đây
Năm

Diện tích (ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (tấn)

2003

12.421.000

28,017

34.800.000

2004

14.320.000

21,997

31.500.000

Đức, Anh, Pháp, Hà Lan, Bỉ...,. Cho tới sau chiến tranh thế giới thứ hai thì
Mỹ và Trung Quốc vẫn là hai Quốc gia đứng đầu về xuất khẩu đậu tương.
Tuy nhiên, do dân số của Trung Quốc gia tăng mạnh nên từ một Quốc
gia xuất khẩu nhất nhì thế giới mà Trung Quốc lại dần trở thành Quốc gia
nhập khẩu lớn nhất thế giới để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước. Mỗi
năm Trung Quốc cần 25 - 30 triệu tấn, trong khi đó sản xuất trong nước mới
đạt 15 - 17 triệu tấn (Lê Hưng Quốc, 2006) [26].
Diện tích trồng đậu tương của Trung Quốc đứng thứ 4 thế giới sau Mỹ,
Brazil và Argentina và đứng thứ nhất châu Á. Tình hình sản xuất đậu tương ở
Trung Quốc được trình bày ở bảng 1.5.


10

Bảng 1.5. Tình hình sản xuất đậu tương của Trung Qu c 5 năm gần đây.
Năm

Diện tích (ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (tấn)

2003

9.312.715

16,529

15.393.341


15.600.200

Nguồn: FAOSTAT Database,2009
Trong vòng 5 năm từ 2003- 2007 diện tích sản xuất đậu tương của Trung
Quốc tương đối ổn định, tới năm 2007 diện tích trồng giảm đi so với những
năm trước trên 200.000 ha, song năng suất thì vẫn ổn định ở ngưỡng trên 17
tạ/ha, nên sản lượng vẫn tương đương như những năm trước đó. Năng suất
đậu tương của Trung Quốc thấp hơn so với năng suất bình quân chung của thế
giới khoảng 5 tạ/ha.
1.2.1.2. Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương trên thế giới
Nhận thức được tầm quan trọng của cây đậu tương, cũng như nhu cầu sử
dụng các sản phẩm được chế biến từ đậu tương ngày một gia tăng mà nhiều
Quốc gia trên thế giới đã đầu tư lớn cho việc chọn tạo giống, và thâm canh
tăng năng suất. Diện tích gieo trồng không phải là vô hạn, do vậy đòi hỏi các
nhà khoa học trong lĩnh vực chọn tạo giống đậu tương là bằng các kỹ thuật
như lai tạo, nhập nội, chọn lọc hoặc dùng các tác nhân vật lý, hoá học để tạo
giống mới có năng suất cao, khả năng chống chịu tốt khả năng thích ứng rộng
để thường xuyên bổ sung giống mới cho sản xuất.
Thông qua con đường nhập nội, chọn lọc, lai tạo và gây đột biến mà
quốc gia sản xuất đậu tương hàng đầu thế giới là Mỹ đã tạo ra được nhiều
giống đậu tương mới. Các dòng nhập nội có năng suất cao đều được sử dụng
làm dòng, giống gốc trong các chương trình lai tạo và chọn lọc. Vào năm
1804, Mỹ đã tiến hành thí nghiệm đầu tiên tại bang Pelecibuahina đến năm


11

1893 thì Mỹ đã có trên 10.000 mẫu giống đậu tương thu thập từ các nơi trên
thế giới. Từ năm 1928- 1932 tính trung bình hàng năm nước Mỹ nhập nội trên


ba môi trường nghiên cứu, thì phương sai di truyền được xác định là cao hơn
so với phương sai môi trường.
Theo Plaznic (1987) [43] các yếu tố di truyền và sinh thái có ảnh hưởng
rõ rệt đến chiều cao cây, độ cao đóng quả thấp, số đốt hữu hiệu, chiều dài đốt,
số quả và số hạt trên cây.
Một trong những hướng cơ bản của việc nghiên cứu sự biến dị và di
truyền ở đậu tương là xác định hệ số di truyền của các tính trạng khác nhau.
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đã dùng các phương pháp xác định hệ số di
truyền khác nhau, các đối tượng nghiên cứu khác nhau và thực hiện ở các
điều kiện gieo trồng khác nhau nên kết quả thu được không đồng nhất.
Bằng phương pháp hồi qui của giá trị trung bình các dòng F3 trên sự
biểu hiện của từng cá thể F2 đã xác định được hệ số di truyền về năng suất và
ngày chín tương ứng là 15,66% và 85%.
Khi nghiên cứu về hệ số di truyền Liu.X.H (1990) [41] cho rằng năng
suất hạt có hệ số di truyền thấp nhất và kích thước hạt có hệ số di truyền cao
nhất. Còn Dencescu (1983) [33] lại cho rằng cả hai tính trạng về năng suất và
kích thước hạt đều có hệ số di truyền thấp nhất.
Theo Alams và cộng tác viên (1983) [29] đã xác định được hệ số di
truyền có giá trị cao đối với số hạt/quả và thời gian sinh trưởng.
Đánh giá hệ số tương quan di truyền và kiểu hình trên cây đậu tương của
tất cả các dạng kết hợp có thể của bảy tính trạng ở ba quần thể đậu tương thế
hệ F2, cho thấy năng suất hạt có mối tương quan thuận chắc chắn với thời
gian sinh trưởng và khối lượng hạt. Khi nghiên cứu hệ số tương quan kiểu
hình và di truyền của mười một tính trạng số lượng ở ba tổ hợp lai đậu tương
cũng cho thấy, năng suất hạt có mối quan hệ với thời gian sinh trưởng, số
cành/cây, số quả/cây, số hạt/quả và hàm lượng dầu trong hạt, số đốt/cây có hệ
số tương quan di truyền thuận với năng suất hạt. Ở kết quả nghiên cứu khác,
năng suất có tương quan thuận với số quả/cây (0,72); Khối lượng 1000 hạt
(0,255) và thời gian sinh trưởng (0,16) –Banadjanegara và Umar (1998) [30].

1945 thì A. Kosenco đã xác định được hiệu quả đột biến cao nhất của các liều
lượng chiếu xạ đối với hạt đậu tương khô là 5 kr, còn với mầm non và cây
đang nở hoa là 2 kr. Enken, 1957 bằng gây đột biến phóng xạ đã tạo ra được


14

các dạng chín sớm, năng suất cao, có hàm lượng Protein cao, chịu rét khá.
Theo nghiên cứu của Masenco (1955- 1956) khi tiến hành xử lý tia gamma và
hoá chất Ethylenimin (EI), Diethylsunphat (DES) sẽ tạo ra các giống chín
sớm hơn giống khởi đầu từ 8- 12 ngày, một số giống khác lại có năng suất
vượt giống khởi đầu từ 23- 24%, (Cơ cấu mùa vụ đậu tương ở đồng bằng
trung du bắc bộ) [4].
Từ năm 1984- 1986 tại Bungari khi xử lý tia gamma ở liều lượng 5- 30
kv cùng với hoá chất EMS (nồng độ 0,1- 0,4%) trên các giống đậu tương tác
giả C.Nikolov đã thu được các dạng đột biến chín sớm hơn từ 10- 20 ngày so
với giống ban đầu, hơn nữa số lượng nốt sần lại nhiều hơn. Tác giả Goranova
lai tạo được các dòng có hàm lượng dầu vượt giống ban đầu từ 6- 13%, (Cơ
cấu mùa vụ đậu tương ở đồng bằng trung du Bắc Bộ) [4].
Như vậy, việc nghiên cứu nhằm đánh giá sự ổn định và khả năng thích
ứng có ý nghĩa to lớn trong công tác chọn tạo giống đậu tương, cho phép chọn
ra những dòng, giống đậu tương có năng suất cao, ổn định, thích hợp với các
vùng sinh thái khác nhau.
Ngoài nghiên cứu, chọn tạo giống đậu tương có năng suất cao, phẩm
chất tốt, thì việc nghiên cứu, chọn tạo được các giống có sức đề kháng đa
hiệu, kháng được nhiều loại sâu , bệnh hại và các điều kiện ngoại cảnh bất
thuận cũng là một vấn đề rất quan trọng được các nhà chọn tạo giống trên thế
giới đặc biệt quan tâm. Nhất là vấn đề tạo giống kháng bệnh..., ở một số
nước có nền khoa học nông nghiệp phát triển như: Mỹ, Úc đã sử dụng công
nghệ tế bào phân tử để xác định các gen kiểm soát về sâu, bệnh hại, tuyến

dạng mới có khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh và cỏ dại, phù hợp với các
tiểu vùng khí hậu, các giống điển hình như: CN001, CN002, HTF 18, YAT 12
đều cho năng suất bình quân đạt 34- 42 tạ/ha ở diện tích sản xuất đại trà tại
nhiều tỉnh (FAO, 2003).
Tại viện hàn lâm khoa học Tilin– Trung Quốc, Liu X.H (1990) [41] khi
phân tích khả năng kết hợp và di truyền của hàm lượng Protein, dầu và thành
phần của chúng ở F2. Ông thấy có 3 giống từ Trung Quốc và 5 giống từ Mỹ
đã được nghiên cứu sử dụng cho 11 đặc tính gồm: năng suất hạt và Protein
tổng số/đơn vị diện tích và sản lượng dầu tổng số..., với các giống Trung


16

Quốc và trong 5 đặc tính cho các giống của Mỹ như: Protein, axit oleic và axit
Linolenic... bởi giá trị khả năng kết hợp chung và giá trị di truyền cho Protein,
dầu, axit oleic và axit Linolenic, Protein tổng số và sản lượng dầu tổng số/đơn
vị diện tích là cao, chọn những điểm đó sẽ đạt được ở thế hệ F2.
Viện khoa học Nông nghiệp Đài Loan đã bắt đầu chương trình chọn tạo
giống từ năm 1961 và đưa vào sản xuất các giống Kaohsing 3, Tainung 3, Tai
nung 4... các giống được xử lý Nơron và tia X cho các giống đột biến
Tainung. Tainung 1 và Tainung 2 có năng suất cao hơn giống khởi đầu và vỏ
quả không bị nứt. Các giống này (đặc biệt là Tainung 4) đã được dùng làm
nguồn gen kháng bệnh trong các chương trình lai tạo giống ở các cơ sở khác
nhau như Trạm thí nghiệm Marjo (Thái Lan), Trường đại học Philippin (Vũ
Tuyên Hoàng và cộng sự, 1995) [15].
Hiện nay, vùng Đông Nam Á cũng là một vùng trọng điểm của công
tác phát triển giống đậu tương và được ưu tiên hàng đầu trong hệ thống
nông nghiệp.
Tại Indonesia, các nhà nghiên cứu chọn tạo nhằm mục đích cải tiến
giống có năng suất cao trồng được ở vùng đất thấp sau vụ thu hoạch lúa, với

chọn lọc trực tiếp. Còn khi đưa thêm tính trạng chống đổ, hàm lượng dầu và
đạm vào chỉ số trên thì hiệu quả chọn lọc tăng lên tương đối rõ rệt. Hiệu quả
chọn lọc tương đối theo chỉ số gồm năng suất, thời gian đậu quả, khối lượng
nghìn hạt, tính chống đổ, hàm lượng dầu và hàm lượng đạm đạt 140,8% ở
quần thể I và 126,1% ở quần thể II.
Sự tương tác giữa giống và môi trường có vai trò quan trọng trong quá
trình cải lương giống cây trồng nông nghiệp nói chung và cây đậu tương nói
riêng. Đối với cây đậu tương đã có một số kết quả nghiên cứu về sự tương tác
giữa các giống với môi trường khác nhau.
Jonson và cộng tác viên(1995 a)[38]; Byth và Weber (1968) [32] cho
thấy có sự tương tác cao giữa các giống với môi trường cho năng suất hạt và
sự tương tác rất thấp cho chiều cao cây, còn tương tác trung bình cho kích
thước hạt, sự đổ sớm, hàm lượng đạm và hàm lượng dầu.
Sự tương tác giữa giống và môi trường còn được một số tác giả phân tích
thành các thành phần tương tác tuyến tính và phi tuyến tính. Rohwal (1970)


18

[44]; Gopani và cộng tác viên, (1972) [34] đã xác định sự tương tác phi tuyến
tính có ý nghĩa với hầu hết các tính trạng nghiên cứu và điều đó có thể là
nguyên nhân của sự thích ứng có giới hạn của cây đậu tương.
Qua nghiên cứu Sanbuchi và Gotok, (1969)[45] đã xác định được hệ số
hồi qui cho 5 giống đậu tương ở Hohkaido – Nhật Bản từ số liệu lấy ở 7 nơi
trong sáu năm. Kết quả nghiên cứu cho thấy với giống có tính thích ứng rộng
về không gian thì lại nhạy cảm về mặt thời gian; còn một số giống có thích
ứng rộng cho thời vụ gieo trồng trong năm thì lại thích ứng hẹp cho nơi trồng.
Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa tính ổn định của các thành phần khác
nhau, một số kết quả cho thấy rằng sự thích ứng hạn chế của cây đậu tương
về năng suất chủ yếu là do yêu cầu về quang chu kỳ và cũng có thể là do cảm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status