Chất lượng tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà nước ở đảng bộ tổng công ty xây dựng sài gòn hiện nay - Pdf 35

LUẬN VĂN:
Chất lượng tổ chức cơ sở Đảng trong các doanh
nghiệp nhà nước ở Đảng bộ Tổng Công ty Xây
dựng Sài Gòn hiện nay


MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Những năm qua, các tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp nhà nước đã
phát huy vai trò của mình trong việc lãnh đạo các doanh nghiệp hoàn thành nhiệm vụ.
Qua hoạt động sản xuất, kinh doanh trong cơ chế thị trường định hướng XHCN, nhiều
tổ chức cơ sở đảng cũng như cán bộ, đảng viên đã trưởng thành vượt bậc về mọi mặt,
tỏ rõ tính tiên phong trong mặt trận kinh tế.
Trải qua gần 20 năm đổi mới đất nước, Đảng đã đề ra và lãnh đạo thực hiện
nhiều chủ trương, biện pháp nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các
doanh nghiệp nhà nước. Nhờ vậy các doanh nghiệp nhà nước đã vượt qua nhiều thử
thách, đứng vững và không ngừng phát triển, đã góp phần quan trọng vào thành tựu to
lớn của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước. Doanh nghiệp nhà nước chủ yếu là
các cơ sở sản xuất công nghiệp, hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ, đồng thời có
vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng, nâng cao chất lượng giai cấp công nhân
Việt Nam.
Hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước đang quản lý và sử dụng một khối lượng
tài sản to lớn của nhân dân, chi phối các ngành, các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.
Doanh nghiệp nhà nước ngày càng thích ứng với cơ chế thị trường định hướng XHCN,
năng lực sản xuất tiếp tục được tăng cường, cơ cấu ngày càng hợp lý hơn, trình độ
công nghệ và quản lý có nhiều tiến bộ, hiệu quả cạnh tranh từng bước nâng lên, bảo
đảm việc làm và đời sống cho hàng triệu người lao động.
Tuy nhiên, doanh nghiệp nhà nước cũng còn những hạn chế, yếu kém như : quy
mô còn nhỏ, cơ cấu còn nhiều bất hợp lý, chưa thật sự tập trung vào những ngành, lĩnh
vực then chốt... kết quả kinh doanh chưa tương xứng với nguồn lực đã có, hiệu quả và

lượng tổ chức cơ sở Đảng trong các doanh nghiệp nhà nước ở Đảng bộ Tổng Công
ty Xây dựng Sài Gòn hiện nay - Thực trạng và giải pháp" làm luận văn thạc sĩ
chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Đảng ta đã đề ra Nghị quyết Trung ương 3 khóa VII (tháng 6-1992), Nghị quyết
Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII (ngày 2/2/1999) về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, Nghị
quyết Trung ương 3 – khóa IX (ngày 24/9/2001) về tiếp tục sắp xếp đổi mới, phát triển
nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Các đồng chí lãnh đạo Đảng có những bài
viết và bài phát biểu mang tính định hướng và chỉ đạo rất quan trọng trong việc xây
dựng tổ chức cơ sở đảng nói chung và tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp nhà
nước nói riêng. Nhiều nhà nghiên cứu, nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu chung quanh
vấn đề nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng như :
- "Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng nông thôn ở đồng bằng sông Hồng"; luận
án tiến sĩ Lịch sử chuyên ngành Xây dựng Đảng của tác giả Đỗ Ngọc Ninh – Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1995.
- “Khắc phục sự thoái hóa biến chất của đảng viên trong công cuộc đổi mới ở
nước ta hiện nay”, luận án tiến sĩ Lịch sử chuyên ngành Xây dựng Đảng của tác giả
Ngô Kim Ngân, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1996.


-“Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng cấp xã ở tỉnh Vĩnh Long hiện nay”,
luận văn thạc sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng của Nguyễn Văn Bé Tư, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2002.
-“Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng ở các
đơn vị sản xuất kinh doanh (không có vốn đầu tư nước ngoài) thuộc Tổng Công ty dầu
khí Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực
trạng và giải pháp”, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng của Hà Huy Dĩnh,
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2003.
-“ Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp nhà nước ở khu
công nghiệp Biên Hòa I trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, luận văn thạc sĩ

nhà nước, làm cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn, tiếp tục góp phần thắng
lợi cho sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới.
- Nêu lên và phân tích thực trạng, chất lượng của các đảng bộ, chi bộ cơ sở trong
doanh nghiệp ở Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn, xác định rõ nguyên nhân của mặt
mạnh, của những thiếu sót trong hoạt động lãnh đạo của đảng bộ, chi bộ cơ sở của
Tổng Công ty từ năm 2000 đến năm 2004.
- Làm rõ những yêu cầu mới về nâng cao chất lượng của các tổ chức cơ sở đảng,
trên cơ sở đó nêu lên phương hướng và đề xuất một số giải pháp chủ yếu để giải quyết
một số vấn đề cấp thiết đang đặt ra nhằm nâng cao chất lượng các đảng bộ, chi bộ cơ
sở tại các doanh nghiệp ở Đảng bộ Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn hiện nay.
3.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các đảng bộ, chi bộ cơ sở trong doanh nghiệp nhà nước ở Đảng bộ Tổng Công ty
Xây dựng Sài Gòn; phạm vi thời gian nghiên cứu, khảo sát thực tế là từ năm 2000 đến
nay.
4. CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam về xây dựng tổ chức cơ sở đảng.
- Các quan điểm của Đảng thể hiện trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt
Nam, của Đảng bộ TP.Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng nói chung và tổ chức cơ sở
đảng nói riêng.
- Các báo cáo tổng kết chuyên đề, đề tài khoa học.
- Thực tiễn xây dựng các tổ chức cơ sở đảng trong doanh nghiệp nhà nước nói
chung và các doanh nghiệp nhà nước ở Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn nói riêng từ
năm 2000 đến nay.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp chặt chẽ phương pháp lịch sử với phương pháp lôgíc, phương pháp điều tra,
khảo sát thực tế, xử lý số liệu thống kê, tổng hợp, kết hợp giữa lý luận với thực tiễn, đặc biệt
coi trọng phương pháp tổng kết thực tiễn.
5. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN

SÀI GÒN - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. VỊ TRÍ, VAI TRÒ, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC
TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG TRONG TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG SÀI GÒN
1.1.1. Giới thiệu khái quát về Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn
1.1.1.1. Lịch sử hình thành
Trước 30/12/1996, Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn có 11 đơn vị trực thuộc,
trong đó có 3 nhà máy:
- Nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng NAVIFICO chuyên sản xuất tấm lợp, vách
ngăn Fibro xi măng.
- Nhà máy sản xuất gạch ngói Long Bình chuyên sản xuất các loại gạch 4 lỗ,
gạch đinh, gạch block và một số sản phẩm khác thuộc ngành sứ nung cao cấp.
- Nhà máy sản xuất xi măng P2000 và vữa xây tô, cùng một số cơ sở xí nghiệp
nằm ở huyện Thủ Đức.
Xét về công nghệ sản xuất, cả 3 nhà máy này đều tiếp thu từ ngày giải phóng,
không đầu tư để nâng cấp và sửa chữa kịp thời các hư hao nên hiệu quả sản xuất thấp.
Một số đơn vị khác của Tổng Công ty là những Công ty mà hoạt động chủ yếu là
thiết kế công trình, thi công xây lắp, đó là :
- Công ty xây dựng số I (COFICO), có trụ sở chính ở số 108 Cao Thắng, Quận 3,
thành phố Hồ Chí Minh.
- Công ty xây dựng số III (COSECO), có trụ sở chính ở số 553 Xô Viết – Nghệ
Tĩnh, Quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.
- Công ty xây dựng Sài Gòn (COSACO), có trụ sở chính ở số 5, Nguyễn Siêu,
Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.
- Công ty Xây lắp Dầu khí (PECCO), có trụ sở chính tại số105/7 C Điện Biên
Phủ, Quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.
- Công ty Sài Gòn Trang trí và xây dựng (SAPECO), có trụ sở chính tại số 40 Lý
Chính Thắng, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.
- Công ty Cơ khí Xây dựng (COMECO), có trụ sở chính tại số 447, Điện Biên
Phủ, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.
- Công ty Xây dựng Điện (SECMC), có trụ sở số 62 Nguyễn Đình Chiểu, Quận I.

Đứng trước tình hình cạnh tranh gay gắt và quyết liệt buộc cán bộ quản lý của
Tổng Công ty nói riêng, các đơn vị thành viên trong Tổng Công ty nói chung phải
nhanh chóng đổi mới cách làm ăn, suy nghĩ phải năng động để thích nghi với thị
trường mới, phải thực sự là cán bộ hiểu biết và giỏi về năng lực chuyên môn, vững về
chính trị.
Các cán bộ quản lý của Tổng Công ty tự hào rằng : Công ty là một doanh nghiệp
nhà nước. Phải khẳng định vị trí của Tổng Công ty trong thành phố là một doanh
nghiệp nhà nước về xây dựng, nó thực hiện vai trò chủ đạo, để thực hiện tất cả các
công tác về xây dựng của thành phố nói riêng, cả nước nói chung. Khi nó thể hiện
đúng vai trò của mình, điều đó có nghĩa là bảo đảm cho sự lãnh đạo của Thành ủy


thành phố Hồ Chí Minh và của Đảng ủy Tổng Công ty được tốt hơn. Ngoài sự nỗ lực
bản thân của cán bộ quản lý Tổng Công ty, thì lãnh đạo của UBND thành phố cũng
phải quan tâm sâu sát đến tổ chức của Tổng Công ty, phải xem Tổng Công ty Xây
dựng Sài Gòn là “con ruột” của mình. Thành phố phải củng cổ, ổn định về mặt tổ
chức, để vực dậy và đưa Tổng Công ty phát triển ổn định, lâu dài.
Nhằm đáp ứng yêu cầu bức bách đó, ngày 30/12/1996 Tổng Công ty Xây dựng
Sài Gòn “mới” ra đời.
1.1.1.2. Quá trình hoạt động từ 30/12/1996 đến nay
Vào ngày 30/12/1996, UBND thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định số :
6211/QĐ-UB-K7 thành lập Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn (căn cứ Quyết định số
90/TTg ngày 09/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ, về việc tiếp tục sắp xếp lại doanh
nghiệp nhà nước, nên còn gọi là “Tổng Công ty 90”.
Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn có tên giao dịch đối ngoại là Saigon General
Construction Company (viết tắt là SAGECO).
Với tổng nguồn vốn Nhà nước giao (tại thời điểm 31/12/1995 là 126 tỷ 934 triệu
đồng Việt Nam, (trong đó vốn đưa vào tham gia liên doanh là 68 tỷ 234 triệu đồng
Việt Nam). Trong đó :
Vốn cố định : 84 tỷ 38 triệu đồng Việt Nam.

ngành theo quy định của pháp luật.
Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn có các đơn vị thành viên là doanh nghiệp nhà
nước hạch toán độc lập, doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc, các đơn vị thành viên có
đủ tư cách pháp nhân, có con dấu, có trụ sở được mở tài khoản tại Ngân hàng phù hợp
với phương thức hạch toán được quy định tại Điều lệ Tổng Công ty và điều lệ riêng
của mỗi Công ty. Các đơn vị thuộc Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn theo Quyết định
6211/QĐ-UB-K7 gồm có 20 đơn vị, đó là :
1. Công ty Xây dựng số 1 (COFICO).
2. Công ty Xây dựng số 2 (COSECO).
3. Công ty Xây dựng số 3 (CONARCO)
4. Công ty xây lắp dầu khí (PECCO)
5. Công ty Sài Gòn Xây dựng (COSACO)
6. Công ty Xây dựng Điện (SECM) (sau này đổi thành Công ty xây dựng số 4).
7. Công ty san nền và xây dựng hạ tầng.
8. Xí nghiệp Sài Gòn trang trí xây dựng (SADECO)
9. Công ty gạch ngói Long Bình (SATIC)
10. Công ty xây lắp công nghiệp (SA&E).
11. Công ty xây lắp nông nghiệp (EXPLABCO).
12. Công ty tư vấn kiến trúc và xây dựng (ACCCO)
13. Công ty xây dựng và trang trí nội thất (CODECO)
14. Công ty xây dựng và phát triển kinh tế Quận 6 (SICEDCO)
15. Công ty kỹ thuật xây dựng Quận Phú Nhuận (PHUNHUAN TECO)
16. Xí nghiệp dịch vụ trang trí nội thất Sài Gòn (ZSASCIDDE)
17. Công ty tư vấn quy hoạch xây dựng và dịch vụ phát triển đô thị (CPCCO).
18. Công ty xây dựng dân dụng và công nghiệp (ICC).
19. Công ty cơ khí xây dựng (COMECO).


20. Trung tâm tư vấn dịch vụ xây dựng.
Như vậy, trên nền tảng kế thừa của Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn cũ có một tổ

- Giá trị sản lượng : Thực hiện được trong năm 800 tỷ 531 triệu đồng.
+ Trong đó xây lắp
: 594 tỷ 643 triệu đồng
+ Đầu tư phát triển
: 144 tỷ 152 triệu đồng
+ Sản xuất công nghiệp vật liệu xây dựng : 37 tỷ 288 triệu đồng
+ Thiết kế tư vấn
: 19 tỷ 308 triệu đồng


- Và tại thời điểm đầu năm 2000, số vốn toàn Tổng Công ty do tự cân đối và huy
động, sáp nhập đã nâng lên 268 tỷ 379 triệu đồng, trong đó:
+ Vốn sản xuất kinh doanh
: 252 tỷ 379 triệu đồng
+ Vốn lưu động
: 32 tỷ 478 triệu đồng
+ Vốn đầu tư xây dựng cơ bản
: 4 tỷ 542 triệu đồng
- Quỹ phát triển kinh doanh
: 9 tỷ 842 triệu đồng.
- Quỹ dự phòng
: 2 tỷ đồng
+ Trong đó tổng lợi nhuận từ sản xuất kinh doanh : 11 tỷ đồng
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu đạt
: 1,65%
- Các khoản thuế nộp cho Nhà nước
: 33 tỷ 674 triệu đồng.
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa IX và Nghị quyết 02/NQ-TU ngày
16/10/2001 của Thành ủy về tiếp tục sắp xếp đổi mới nâng cao hiệu quả doanh nghiệp
nhà nước, UBND thành phố Hồ Chí Minh có đề án kế hoạch số 1416/UB-CNV

15/- Công ty Vật tư xây dựng (CMC)
16/- Công ty Cơ khí và khai thác cát, đá, sỏi.
17/- Xí nghiệp cấu kiện lắp sẵn (NHATICO)
18/- Công ty XD và sản xuất vật liệu xây dựng.
19/- Công ty Xây lắp công nghiệp (SA&E)
20/- Công ty cổ phần sản xuất - thương mại - xây dựng Long Bình (cổ phần)
21/- Công ty Cổ phần Xi măng Sài Gòn (cổ phần)
22/- Công ty Cổ phần Nam Việt (cổ phần)
23/- Công ty Cổ phần Sài Gòn đầu tư kỹ thuật - xây dựng (cổ phần)
24/- Công ty Khách sạn GRAND IMPERIAL
25/- Công ty Liên doanh khí đốt Sài Gòn
26/- Công ty liên doanh bình khí đốt
27/- Công ty Xây dựng CAMPENON SAIGON TNHH
28/- Công ty liên doanh cao ốc Sài Gòn
29/- Công ty liên doanh Thuận Việt
30/- Công ty phát triển căn hộ hướng công viên
1.1.2. Vị trí, vai trò của các tổ chức cơ sở Đảng trong doanh nghiệp nhà
nước ở Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn
C.Mác. Ph.Ănghen là những người đầu tiên đưa ra tư tưởng, quan điểm về vị trí,
vai trò của tổ chức cơ sở đảng. Trong “Điều lệ của Liên đoàn những người Cộng sản”
có nêu: Các chi bộ của “Liên đoàn” được thành lập dưới hình thức các hội bí mật trong
các hiệp hội công nhân. “Chi bộ gồm ít nhất là 03 và nhiều nhất là 20 hội viên [29,
tr.733]. Về cơ cấu – Liên đoàn bao gồm những chi bộ, khu bộ, tổng khu bộ Ban chấp
hành Trung ương và Đại hội. Như vậy, tổ chức cơ sở đảng là một bộ phận cấu thành nên
Đảng, không có tổ chức cơ sở đảng thì không có Đảng, sự vững chắc từ nền tảng của
Đảng là đảm bảo cho sự vững chắc của toàn Đảng.
Trong điều kiện “Liên đoàn những người cộng sản” chuyển từ hoạt động bí mật
sang hoạt động công khai, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát triển tư tưởng của mình về
vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở, chỉ rõ sự mơ hồ của phần lớn đảng viên trong bước
chuyển đổi ấy. Nhiệm vụ mà hai ông đề ra lúc này là phải tổ chức lại “Liên đoàn” làm

lao động, là một nhân tố chính trị của tập thể lao động, giáo dục và dẫn dắt quần chúng
thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng.
Những tư tưởng, quan điểm của học thuyết Mác-Lênin về xây dựng Đảng được
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta vận dụng, phát triển, đặc biệt là về xây dựng tổ chức
cơ sở đảng trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta đã
khẳng định :“Căn bản tổ chức của Đảng là chi bộ “ [8, tr.211]. Tại thời điểm 1930,
Đảng đã chỉ đạo “Các chi bộ công xưởng và xưởng chế tạo là cơ sở của Đảng trong các
thành phố và trung tâm công nghiệp. Không có những chi bộ đó làm cơ sở thì chúng ta
không thể tiến lên về mặt tổ chức hay giành được quần chúng, điều đó có nghĩa là chúng
ta không thể mảy may tổ chức và lãnh đạo cách mạng” [8, tr.225]. Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ III của Đảng đã khẳng định : “Tổ chức cơ sở đảng là nền tảng của Đảng”
[7, tr.140]. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người sáng lập, tổ chức, giáo dục và rèn luyện


Đảng ta đã khẳng định :“Chi bộ nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt”
[36, tr.210]. Người còn dạy rằng :“Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng
mạnh là do chi bộ tốt, chi bộ tốt là do đảng viên đều tốt” [52, tr.92]. Người luôn nhắc
nhở rằng phải :“Xây dựng chi bộ cho tốt, cho vững mạnh là một việc vô cùng quan
trọng” [36, tr.77]. Luận điểm đó của Người đã trở thành phương châm hành động của
mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng trong lãnh đạo và xây dựng nội bộ.
Điều lệ Đảng được thông qua tại Đại hội lần thứ IX của Đảng khẳng định :“Tổ
chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân
chính trị ở cơ sở “[15, tr.31]. Sự khẳng định này mang ý nghĩa vừa là vị trí, vai trò,
vừa là chức năng của tổ chức cơ sở đảng, là sự khái quát hóa trong cả quá trình nhận
thức về lý luận và thực tiễn. Quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tổ chức
cơ sở đảng, Đảng ta còn khẳng định : Tổ chức cơ sở đảng là khâu nối liền giữa Đảng
vơí nhân dân, là nơi trực tiếp đưa đường lối, chính sách của Đảng vào quần chúng,
tuyên truyền, vận động, tập hợp, giáo dục, thuyết phục quần chúng thấu hiểu sự đúng đắn
của đường lối, chính sách ấy. Chủ động tìm giải pháp lãnh đạo, tổ chức quần chúng thực
hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chủ trương kế hoạch

trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, với sự phát triển của đất nước theo định
hướng XHCN. Tuy nhiên, để các đơn vị này xứng đáng làm tốt vai trò ấy chỉ khi
được các cấp ủy Đảng lãnh đạo, đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn phát triển
kinh tế-xã hội của đất nước và tổ chức thực hiện đường lối ấy trong đó có chủ
trương, giải pháp xây dựng và phát triển các đơn vị của ngành mình, đơn vị mình.
Sự lãnh đạo của các đảng bộ, chi bộ là đảm bảo cho mọi hoạt động của đơn vị từ
hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoạt động xây dựng doanh nghiệp, xây dựng đội
ngũ cán bộ, công nhân viên chức đến các hoạt động của đoàn thể quần chúng trong
đơn vị theo đúng đường lối, quan điểm của Đảng; Đảng bộ, chi bộ trong các đơn vị
thuộc Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn là hạt nhân lãnh đạo mọi hoạt động của
doanh nghiệp. Tuy nhiên, không can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh
cũng như các hoạt động khác của doanh nghiệp, song đảng bộ, chi bộ phải định
hướng chính trị cho các hoạt động đo theo đúng đường lối quan điểm của Đảng và
phải kiểm tra uốn nắn kịp thời những lệch lạc. Mọi hoạt động của đơn vị mà trái
với đường lối của Đảng thì trước hết đảng bộ, chi bộ phải chịu trách nhiệm trước
Đảng.
Là hạt nhân chính trị lãnh đạo tất cả các hoạt động trong doanh nghiệp nhà nước
ở Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn, đảng bộ, chi bộ trong các doanh nghiệp cùng với
việc lãnh đạo thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cần
đặc biệt coi trọng làm cho doanh nghiệp góp phần phát huy vai trò chủ đạo của nền
kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường XHCN và nâng cao đời sống công nhân
– viên chức, xây dựng, rèn luyện đội ngũ công nhân-viên chức-lao động phát huy vai
trò tích cực, sáng tạo trong mọi hoạt động của đơn vị.
1.1.3. Chức năng, nhiệm vụ của các Đảng bộ, chi bộ cơ sở doanh nghiệp
thuộc Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn
Đảng ta xác định có nhiều loại hình tổ chức cơ sở đảng khác nhau, nhưng các tổ
chức cơ sở đảng nói chung đều thực hiện chức năng chủ yếu là hạt nhân lãnh đạo
chính trị ở cơ sở và tiến hành các hoạt động xây dựng nội bộ Đảng. Chức năng, nhiệm



nhuận, trả lương, trả thưởng một cách công bằng, hợp lý; thực hiện công bằng xã hội.
- Lãnh đạo đảng viên và quần chúng, người lao động, giám sát mọi hoạt động của
doanh nghiệp theo đúng chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
- Lãnh đạo xây dựng và thực hiện nhiệm vụ quốc phòng toàn dân, xây dựng lực
lượng tự vệ tại doanh nghiệp vững mạnh, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn
xã hội, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, bảo vệ nội bộ, bảo vệ tài sản của Nhà
nước và của doanh nghiệp.
2. Lãnh đạo công tác tư tưởng:


- Thường xuyên giáo dục bồi dưỡng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh cho cán bộ, đảng viên và người lao động trong doanh nghiệp, phát huy truyền
thống yêu nước, yêu CNXH, xây dựng tinh thần làm chủ, ý thức cần kiệm và tình đoàn
kết, hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau trong công nhân viên chức. Kịp thời nắm bắt tâm tư,
nguyện vọng của người lao động để giải quyết và báo cáo lên cấp trên.
- Tuyên truyền, giáo dục và vận động cán bộ, đảng viên và người lao động hiểu
và chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và
các nhiệm vụ của doanh nghiệp, động viên cán bộ và người lao động trong doanh
nghiệp tích cực học tập nâng cao trình độ về mọi mặt, rèn luyện bản lĩnh chính trị
vững vàng, kiên định lập trường giai cấp công nhân, có ý thức tổ chức kỷ luật và tác
phong công nghiệp.
- Lãnh đạo đảng viên và quần chúng đấu tranh chống các quan điểm sai trái, tư
tưởng cơ hội, thực dụng, cục bộ, bản vị, những hành vi nói, viết và làm sai đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, những biểu hiện mất dân chủ, gia
trưởng, độc đoán, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, phòng chống sự suy thoái về đạo đức, lối
sống của cán bộ đảng viên.
3. Lãnh đạo thực hiện tốt công tác tổ chức - cán bộ bao gồm:
- Đề ra chủ trương, nghị quyết và lãnh đạo thực hiện công tác tổ chức cán bộ, bảo
đảm đúng tiêu chuẩn, quy trình và thẩm quyền trong việc sắp xếp bộ máy quản lý, đào
tạo, bồi dưỡng, đề đạt, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ thuộc

khen thưởng, kỷ luật đảng viên, biểu dương, khen thưởng kịp thời những cán bộ, đảng
viên có thành tích xuất sắc, xử lý nghiêm, kịp thời những cán bộ, đảng viên vi phạm
Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước.
- Làm tốt công tác tạo nguồn phát triển đảng viên, bảo đảm tiêu chuẩn và quy
trình, chú trọng đối tượng là đoàn viên thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, những quần
chúng ưu tú, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ.
- Xây dựng cấp ủy có đủ phẩm chất, năng lực, hoạt động có hiệu quả, được đảng
viên và quần chúng tín nhiệm. Nói chung, bí thư cấp ủy phải là cán bộ lãnh đạo của
doanh nghiệp, tiêu biểu cho đảng bộ, chi bộ, đoàn kết, tập hợp được cán bộ, đảng viên
và quần chúng.
- Cấp ủy thường xuyên kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên chấp hành điều lệ,
nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy định của Bộ
chính trị về những điều đảng viên không được làm. Định kỳ hàng năm, cấp ủy tổ chức
để quần chúng tham gia góp ý về sự lãnh đạo của tổ chức đảng, vai trò tiền phong,
gương mẫu của đảng viên.
1.1.4. Đặc điểm của tổ chức cơ sở Đảng trong doanh nghiệp nhà nước ở
Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn
Sau ngày 30/4/1975, một số nhà thầu xây dựng và cơ sở Công ty sản xuất vật liệu
xây dựng vừa và nhỏ ở Sài Gòn quốc hữu hóa để thành lập các Xí nghiệp quốc doanh
xây lắp và sản xuất vật liệu xây dựng do Sở Xây dựng quản lý. Lực lượng nòng cốt ở
các xí nghiệp quốc doanh này là cán bộ tập kết và bộ đội chuyển ngành. Những cán bộ
là đảng viên được các cơ quan, đơn vị giới thiệu về làm ở cơ sở để thành lập các chi bộ
Đảng.
Tháng 9/1983 Đảng bộ Sở Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh được thành lập,
trực thuộc Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh. Ban chấp hành lâm thời gồm 15 đồng
chí, Ban thường vụ 5 đồng chí. Các cơ sở đảng trực thuộc gồm 19 chi bộ cơ sở (18 chi


bộ cơ sở sản xuất, kinh doanh, 1 chi bộ cơ quan với 320 đảng viên). Các chi bộ cơ sở
mới được thành lập phần lớn có từ 3 đến 5 đồng chí trực thuộc các Quận và Huyện ủy.

13 đảng viên
9/- Chi bộ Công ty cơ khí xây dựng
:
14 đảng viên
10/- Chi bộ nhà máy tấm lợp
:
15 đảng viên
11/- Chi bộ công ty gạch ngói Long Bình :
15 đảng viên
12/- Công ty san nền và xây dựng hạ tầng :
05 đảng viên
Các chi bộ cơ sở hoạt động trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được quy định tại
Quyết định 49/QĐ-TW. Đảng bộ cấp trên cơ sở Tổng Công hoạt động theo Quy định
496/QĐ-TU của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh.
Thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo Quyết định 90/QĐ-TTg
ngày 07/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ, UBND thành phố Hồ Chí Minh quyết định
thành lập Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn theo nội dung Quyết định 90/QĐ-TTg (QĐ
6211/QĐ-UB-KT ngày 31/12/1996) đồng thời bãi bỏ Quyết định 79/QĐ-UB ngày
28/02/1989. Sau khi Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn (mới) được sắp xếp tổ chức,
Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh quyết định giải thể Đảng bộ cấp trên cơ sở Tổng
Công ty Xây dựng Sài Gòn trước đây thành lập theo Quyết định 50/QĐ-TU ngày
21/4/1989 để thành lập Đảng bộ cấp trên Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn (mới) trực
thuộc Thành ủy gồm 19 cơ sở đảng.
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa
IX ngày 24/9/2001, Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Đảng bộ thành phố Hồ Chí
Minh khóa VII về việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả


doanh nghiệp nhà nước, ngày 07/8/2002 UBND thành phố Hồ Chí Minh quyết định
sáp nhập Tổng Công ty Vật liệu Xây dựng vào Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn

của các tổ chức cơ sở đảng.
Năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng là khả năng chủ quan và điều kiện
khách quan của tổ chức cơ sở đảng để thực hiện việc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ
chính trị ở cơ sở. Năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng phải được thể hiện ở


phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ lý luận, trình độ văn hóa, chuyên
môn nghiệp vụ, có vốn sống thực tiễn phong phú, có điều kiện cần và đủ để đáp ứng
yêu cầu lãnh đạo khi cách mạng chuyển sang giai đoạn mới mà tổ chức cơ sở đảng đã
đáp ứng được nhiệm vụ lãnh đạo của mình. Quan niệm năng lực lãnh đạo của tổ chức
cơ sở đảng trong doanh nghiệp nhà nước bao gồm :
- Khả năng nắm vững lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh với
tư cách là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng, và vận dụng hệ tư
tưởng và cơ sở lý luận đó vào các điều kiện cụ thể của cơ sở. Đây chính là năng lực
chủ quan, là sức mạnh tinh thần, là điểm xuất phát của năng lực lãnh đạo của tổ chức
cơ sở đảng.
- Chất lượng của tổ chức và cán bộ, là điều kiện chủ quan thứ hai có ý nghĩa
quyết định và là yếu tố vật chất của năng lực lãnh đạo, nhất là vai trò của công tác cán
bộ vừa là chủ thể, vừa là khách thể của bộ máy quản lý, điều hành.
- Khả năng đề ra chủ trương, biện pháp đúng đắn để thực hiện đường lối, chủ
trương của Đảng, của cấp trên một cách phù hợp với điều kiện thực tiễn ở cơ sở. Đó
chính là đề ra được các chủ trương, giải pháp đúng đắn trong lãnh đạo nhiệm vụ sản
xuất, kinh doanh, thúc đẩy, nâng cao hiệu quả và phát triển sản xuất kinh doanh.
- Khả năng tổ chức thực hiện chủ trương giải pháp đã đề ra, thông qua các mặt
công tác tư tưởng, công tác tổ chức, công tác kiểm tra và lãnh đạo các đoàn thể quần
chúng trong doanh nghiệp nhà nước.
- Sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng : là khả năng giải quyết mâu thuẫn, khắc
phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ với hiệu quả cao nhất, giải quyết mâu thuẫn
chính là khả năng phát hiện, làm rõ, xử lý mâu thuẫn phát sinh trong tư tưởng, tổ chức
và trong quá trình thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Khả năng phân tích làm rõ

Hướng dẫn số 18 ngày 02/9/2003 của Ban Tổ chức Trung ương, Hướng dẫn số
09/HD/TU ngày 31/10/2003 của Ban Tổ chức Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh về
việc “Hướng dẫn đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng” và tình hình thực tiễn ở
Đảng bộ Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn, có thể nêu một số tiêu chí như sau :
Một là, lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị.
Đơn vị chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng đường lối, chủ trương, chính
sách, Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, lãnh đạo thực hiện Luật Doanh
nghiệp nhà nước, Luật Lao động, hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ phát
triển sản xuất, kinh doanh, bảo toàn và phát triển nguồn vốn, nâng cao chất lượng sản
phẩm, làm tốt công tác kiểm tra tài chính. Hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước,
chương trình kế hoạch công tác của đảng bộ, chi bộ và của cấp trên giao.
Bảo đảm việc làm và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của
người lao động, bảo vệ môi trường, an toàn vệ sinh lao động.
Thực hiện nhiệm vụ quốc phòng toàn dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội, đề cao tinh thần cảnh giác, bảo vệ nội bộ, bảo vệ tài sản của doanh nghiệp,
đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực khác, nhất là trong khâu liên
doanh, liên kết, xây dựng cơ bản, mua sắm máy móc, thiết bị, vật tư.
Hai là, lãnh đạo tốt công tác chính trị tư tưởng.


Phổ biến, quán triệt kịp thời đường lối, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các chủ trương, nhiệm vụ của doanh nghiệp
đến cán bộ, đảng viên và người lao động.
Nâng cao chất lượng công tác chính trị tư tưởng, ngăn ngừa đấu tranh có hiệu
quả với các biểu hiện về tư tưởng và hành động (nói, viết, làm…) trái quan điểm,
đường lối, nghị quyết, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Lãnh đạo đảm bảo nâng cao trình độ kiến thức, nghiệp vụ và tay nghề cho người lao
động, có biện pháp giải quyết kịp thời những vấn đề thuộc trách nhiệm của cơ sở hoặc báo
cáo để cấp trên giải quyết theo thẩm quyền.
Ba là, lãnh đạo xây dựng các đoàn thể chính trị - xã hội vững mạnh.

NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM
1.3.1. Thực trạng chất lượng các tổ chức cơ sở Đảng ở Đảng bộ Tổng Công
ty Xây dựng Sài Gòn
Bước vào thời kỳ đổi mới, Đại hội VI của Đảng như một cái mốc quan trọng
đánh dấu thời kỳ đổi mới kinh tế. Đặc biệt, thực hiện Nghị quyết Trung ương 3
(khóa VII) về đổi mới và chỉnh đốn Đảng, Quy định 49 của Ban bí thư Trung ương
khóa VII. Về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ trong các doanh nghiệp nhà
nước, các tổ chức cơ sở đảng thuộc Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn đã nhất quán
quan điểm phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt.
Một số đảng bộ, chi bộ trong các doanh nghiệp đã xác lập và củng cố được vai trò
hạt nhân chính trị trong định hướng lãnh đạo; quan tâm đầu tư chiều sâu, đổi mới
thiết bị công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh
trên thị trường, bảo toàn và phát triển nguồn vốn của doanh nghiệp, sản xuất và
kinh doanh có hiệu quả, góp phần tạo nên sự tăng trưởng chung ở thành phố, ổn
định và cải thiện đời sống của cán bộ, công nhân viên chức… Tuy nhiên, sự lãnh
đạo của tổ chức đảng trong doanh nghiệp nhà nước còn nhiều bất cập, vai trò hạt
nhân lãnh đạo của tổ chức đảng chưa thể hiện rõ, công tác lãnh đạo, kiểm tra thực
hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, quản lý sử dụng tài chính còn lỏng lẻo, công
tác đấu tranh chống tham nhũng tiêu cực, chống lãng phí yếu và còn nhiều thiếu
sót.
Nhìn lại quá trình phát triển của tổ chức cơ sở đảng trong các doanh nghiệp
nhà nước thuộc Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn càng thấy rõ sự đúng đắn của
đường lối, quan điểm của Đảng, sự nỗ lực cố gắng của toàn Đảng nhất là các tổ
chức cơ sở đảng ở doanh nghiệp nhà nước. Qua thời gian phấn đấu và trưởng thành
chất lượng các tổ chức cơ sở đảng đã được nâng lên, thể hiện ở những điểm chủ
yếu sau đây :
1.3.1.1. Chất lượng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị
Khi nền kinh tế nước ta chuyển từ cơ chế quản lý tập trung bao cấp sang cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước, nhiều doanh nghiệp nhà nước họat động không
ổn định, một số doanh nghiệp phải ngừng sản xuất, lao động thiếu việc làm nghiêm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status