Công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm trồng cây thuốc phiện của lực lượng cảnh sát nhân dân ở tỉnh yên bái - Pdf 35

LUẬN VĂN:
Công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội
phạm trồng cây thuốc phiện của lực lượng
Cảnh sát nhân dân ở tỉnh Yên Bái


mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới việc trồng cây thuốc phiện và các cây khác có chứa chất ma túy tập
trung chủ yếu ở ba vùng (Tam giác vàng, Lưỡi liềm vàng và vùng Trung á thuộc Liên Xô
cũ), trong đó cây thuốc phiện được trồng phổ biến ở vùng Tam giác vàng, Lưỡi liềm
vàng. Mặc dù Liên Hiệp Quốc đã tập trung mọi nỗ lực cùng các quốc gia có trồng cây
thuốc phiện, phá bỏ cây thuốc phiện nhưng hiện tượng tái trồng vẫn diễn ra ở nhiều quốc
gia; sản lượng thuốc phiện hàng năm trên thế giới khoảng 750 tấn, trị giá hàng tỷ USD.
ở nước ta, việc trồng cây thuốc phiện tập trung chủ yếu ở vùng núi phía Bắc, với
số lượng tuy không nhiều, nhưng việc tái trồng còn diễn ra phổ biến bằng nhiều hình thức
khác nhau. Trong pháp luật hình sự hành vi trồng cây thuốc phiện là hành vị bị coi là tội
phạm; trồng cây thuốc phiện có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện chính sách kinh tế
- xã hội ở địa phương. Trồng cây thuốc phiện là hành vi vi phạm các công ước quốc tế
mà Việt Nam tham gia ký kết và cũng là hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật
hình sự nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Trong nhiều năm qua Chính phủ và ngành
Công an đã đề ra chương trình và đề án xóa bỏ cây thuốc phiện. Tỉnh Yên Bái trong
nhiều năm qua đã tập trung chỉ đạo nhằm giải quyết dứt điểm tình trạng trồng và tái trồng
cây thuốc phiện ở các xã vùng cao của tỉnh, hạn chế tiến tới xóa bỏ nguồn cung cấp thuốc
phiện ra thị trường và từng bước ổn định đời sống của đồng bào vùng dân tộc góp phần
đảm bảo vững chắc tình hình an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn tỉnh.
Trong những năm qua lực lượng CSND cùng với các lực lượng, các ngành, các
cấp đã có nhiều biện pháp đấu tranh với các hành vi phạm tội này. Tuy nhiên, cho đến
nay tình trạng trồng và tái trồng cây thuốc phiện vẫn diễn ra: Mùa vụ năm 1996-1997 đã
phát hiện và xóa bỏ 70 ha diện tích tái trồng cây thuốc phiện; mùa vụ năm 2001-2002

Làm sáng tỏ thêm vấn đề lý luận cơ bản về tội trồng cây thuốc phiện và công tác
phòng, chống tội phạm này.
- Đánh giá thực trạng tình hình trồng cây thuốc phiện ở tỉnh Yên Bái. Chỉ ra được
những đặc trưng, hình thức, phương thức thủ đoạn… cụ thể và mối quan hệ giữa hoạt


động trồng cây thuốc phiện với các loại tội phạm cụ thể khác. Đề xuất giải pháp phù hợp
góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trồng cây thuốc
phiện ở địa bàn tỉnh Yên Bái.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về tội trồng cây thuốc phiện và các loại cây
có chứa chất ma túy khác và công tác phòng, chống tội phạm này của lực lượng CSND.
- Khảo sát đánh giá tình hình trồng cây thuốc phiện, thực trạng phòng ngừa, đấu
tranh xóa bỏ cây thuốc phiện của lực lượng CSND ở Tỉnh Yên Bái trong những năm qua.
- Xác định những tồn tại, khó khăn vướng mắc và những nguyên nhân của nó
trong phòng ngừa và đấu tranh chống trồng cây thuốc phiện ở địa bàn tỉnh Yên Bái, trên cơ
sở đó đưa ra được những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng
chống tội phạm trồng cây thuốc phiện ở tỉnh Yên Bái.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Lý luận về tội trồng cây thuốc phiện và các loại cây có chứa chất ma túy khác
và công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm này của lực lượng CSND tỉnh Yên
Bái.
- Đặc điểm về đối tượng, thủ đoạn, nguyên nhân, điều kiện phát sinh, tồn tại loại
tội phạm trồng và tái trồng cây thuốc phiện.
- Công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trồng cây thuốc phiện của
lực lượng Cảnh sát nhân dân Công an tỉnh Yên Bái thời gian từ 1999-2006.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
- Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở, phương pháp luận chủ nghĩa Mác-Lênin,
những quan điểm cơ bản của Đảng, Nhà nước ta trong phòng ngừa, đấu tranh phòng,

Cây thuốc phiện là một loại cây thân thảo, mọc hàng năm, cao từ 0,7 đến 1,5m, ít
phân nhánh, thân mọc thẳng. Lá mọc cách, hình trứng, dài từ 6 đến 50 cm, rộng từ 3,5
đến 30 cm; lá ở phía dưới có cuống ngắn, lá ở phía trên không có cuống, đầu trên nhọn,
mọc ôm vào thân cây, gân lá nổi rõ ở mặt dưới, mép lá hình răng cưa.
Hoa thuốc phiện to, đơn độc mọc ở đầu thân cây hoặc đầu cành, có cuống dài 12
đến 14 cm; đài hoa gồm hai lá đài màu xanh sớm rụng khi hoa nở, lá đài dài 1,5 đến 2
cm. Tràng hoa có 4 cánh dài 5 đến 7 cm màu trắng hồng hoặc tím hồng.
Quả thuốc phiện có hình trứng hoặc hình cầu dài từ 4 đến 7 cm, đường kính từ 3
đến 6 cm, ở đỉnh có núm, quả có cuống phình ra ở chỗ nối. Quả chín có màu vàng xám.
Hạt nhỏ và nhiều, hơi giống hình thận, dài 0,5 đến 1mm, trên mặt có vân hình
mạng, màu xám hay vàng nhạt hoặc xám đen.
Toàn thân cây, quả bấm vào chỗ nào cũng có nhựa màu trắng, để lâu biến thành
màu nâu đen.
Thuốc phiện là cây được trồng từ lâu đời. Căn cứ vào màu sắc của hoa và hạt
hoặc hình dáng và kích thước của quả, người ta phân biệt ra các loại sau:


+ Cây thuốc phiện trắng: hoa trắng, quả hình trứng màu vàng nhạt. Đây là loại
thuốc phiện truyền thống được trồng tại ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran để sản xuất nhựa thuốc
phiện.
+ Cây thuốc phiện nhẵn: hoa đỏ tím, quả hình cầu rộng, hạt đen tím, được trồng
ở Thổ Nhĩ Kỳ.
+ Cây thuốc phiện đen: có hoa tím, quả hình cầu ở phía dưới, mở lỗ trên mép đầu
nhụy, hạt màu xám được trồng ở Châu Âu để sản xuất dầu hạt thuốc phiện và các loại
Ancaloit.
+ Thuốc phiện lông cứng: hoa tím, cuống hoa và lá phủ đầy lông cứng, mọc bán
hoang dại ở phía nam Châu Âu.
Trong các loại này, cây thuốc phiện trắng là loại quan trọng nhất, được trồng để
lấy nhựa, cây thuốc phiện đen được trồng để lấy dầu. Trên thực tế, người ta chích lấy
nhựa từ quả chưa chín của 2 loại này.

khoảng 11,7%, số dân nông thôn chiếm khoảng 88,3%. So với các vùng khác, vùng trồng
cây thuốc phiện là nơi dân cư nghèo khó nhất, điều kiện sinh hoạt khó khăn nhất.
Sản lượng nhựa tùy thuộc vào điều kiện khí hậu và những yếu tố ảnh hưởng khác
và đạt được trong khoảng 5-7 kg nhựa cho mỗi hecta. Năng suất trung bình ở Việt Nam
thường đạt 4 kg nhựa/ 1 ha. Hàm lượng morphin trong nhựa thường từ 5-13%. Hiện nay,
do áp dụng kỹ thuật mới vào thu hoạch thuốc phiện (trích nhựa từ lá và thân cây) nên
năng suất thuốc phiện đã tăng lên đáng kể và không cần phải đợi đến mùa quả để thu
hoạch. Thuốc phiện có hai loại:
- Thuốc phiện sống: Là nhựa thuốc phiện được phơi khô rồi đóng gói. Thuốc
phiện này ở dạng đặc, dẻo màu nâu đen, có mùi ngái đặc trưng, ít tan trong nước.
- Thuốc phiện chín: Được bào chế từ thuốc phiện sống bằng cách dùng nước
nóng hòa tan thuốc phiện sống, lọc qua vải nhiều lần và sấy khô dịch lọc rồi đóng bánh
có khối lượng, hình dạng và kích thước khác nhau. Thuốc phiện chín có màu nâu đen,
đen sẫm, mùi thơm hơn thuốc phiện sống.


Hoạt chất của thuốc phiện là các Alcaloid, trong đó có nhiều nhất là morphin,
thebain và narcotin. Thuốc phiện sống chiếm từ 5-7% morphin; thuốc phiện chín có từ 713% morphin, có loại có thể có tới 20%.
Từ nhựa thuốc phiện, người ta điều chế được morphin, codein, heroin và nhiều
chất gây nghiện bán tổng hợp nguy hiểm khác.
- Việc trồng cây thuốc phiện gây hậu quả tác hại trên nhiều phương diện: kinh tế,
chính trị môi trường và xã hội. Vấn đề ma túy nói chung, trồng cây thuốc phiện nói riêng
có tác hại đến nhiều mặt của đời sống xã hội như: đạo đức, sức khỏe, nội gián, an ninh,
trật tự, thậm chí đến sự tồn tại của một quốc gia, một chế độ chính trị. Từ việc trồng cây
thuốc phiện với mục đích sản xuất (lấy nhựa thuốc phiện) sẽ làm gia tăng tội phạm và tệ
nạn về ma túy, là nguyên nhân phát sinh và gia tăng các loại tội phạm và tệ nạn xã hội
khác. Có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác đảm bảo an ninh - trật tự xã hội ở địa phương,
nhất là đối với các địa bàn vùng cao Tây Bắc luôn được xác định là địa bàn trọng yếu,
chiến lược cần được triển khai nhiều biện pháp, nhằm đảm bảo ổn định vững chắc về an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

mọc theo năm tháng. Đến đầu thế kỷ XIX, tệ nghiện hút thuốc phiện tràn lan do bị ảnh
hưởng của cuộc chiến tranh nha phiến giữa Trung Quốc và Anh. Trước tình hình đó,
Triều đình nhà Nguyễn đã phải ban bố những chính sách cứng rắn để ngăn ngừa hiểm họa
thuốc phiện, đó là thực hiện chủ trương triệt phá cây thuốc phiện, xử tội nặng những kẻ
chứa chấp, mua bán thuốc phiện. Năm Minh Mạng thứ nhất (1820) quy định "Kẻ nào
mua, bán thuốc phiện thì bị xử phạt 60 trượng, tù 1 năm, tịch thu toàn bộ tang vật; chủ
chứa bàn đèn thuốc phiện phạt 100 trượng, tù 3 năm".
Năm Tự Đức thứ 3 (1840) quy định: "Thuyền buôn nào chứa, giấu thuốc phiện
hoặc thuê mướn thuyền khác vận chuyển thì chủ thuyền chịu tội tử hình; thuyền của Nhà
nước cử đi nước ngoài có ai mua trộm thuốc phiện đem về dưới 1 cân thì phạt giam, trên
1 cân thì chém lập tức". Năm 1850 bổ sung thêm quy định: "Quan lại, quân nhân hút
thuốc phiện hoặc chứa giấu thuốc phiện bị bắt quả tang, không kể số lượng bao nhiêu,
không kể chính phạm hay tòng phạm đều bị xử tội giam hậu, tịch thu tài sản, cha anh
phạm nhân bị phạt 100 trượng, nếu có quan tước thì bị cách chức".


Tuy vậy, cuộc đấu tranh bài trừ thuốc phiện dưới triều Nguyễn thu được kết quả
rất hạn chế.
Đến thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, để ru ngủ, đầu độc nhân dân ta và buôn bán lấy
lời, chúng khuyến khích dân ta trồng và sử dụng thuốc phiện, chúng đã lập nên các xứ
Thái và xứ Mèo tự trị để trồng và sản xuất thuốc phiện. Bọn thực dân Pháp đã cho thành
lập "Công quản nha phiến" để thâu tóm trong tay toàn bộ việc trồng và tiêu thụ thuốc
phiện. Trong kỳ này, việc trồng và hút thuốc phiện không chỉ phổ biến ở Việt Nam mà đã
được khuyến khích lan tràn trên toàn Đông Dương.
Ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước ta đã coi thuốc
phiện là thuốc độc và có chủ trương xóa bỏ việc sản xuất thuốc phiện, vận động người
nghiện từ bỏ thuốc phiện và đã mở nhiều cuộc vận động nhân dân bỏ trồng cây thuốc
phiện. Chính sách của Nhà nước ta đối với việc trồng cây thuốc phiện và sử dụng thuốc
phiện được đề cập ở từng giai đoạn lịch sử, cụ thể là:
- Giai đoạn từ 1945-1970:

cây thuốc phiện diễn ra hết sức khả quan.
- Giai đoạn từ 1970-1987:
Những năm 1970, nước ta tổ chức ra công ty biệt dược (Công ty một cây - cây
thuốc phiện) để đạt kế hoạch gieo trồng thuốc phiện ở một số nơi và thu mua nhựa cung
cấp cho Hội đồng tương trợ kinh tế (trong hội đồng tương trợ kinh tế - COMECON, Việt
Nam được phân công trồng cây thuốc phiện cung cấp làm nguyên liệu sản xuất thuốc tân
dược). Vào đầu những năm 1980, công ty này bị giải thể. Từ đó, Nhà nước thôi không
thu mua thuốc phiện nữa, lượng thuốc phiện tồn đọng không tiêu thụ hết tại nơi trồng
chuyển qua thị trường bất hợp pháp.
- Giai đoạn từ năm 1987 đến nay:


Ngày 30/8/1987 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 13/CT-TW yêu cầu tổ
chức vận động nhân dân không trồng cây thuốc phiện, không chích hút và ngăn chặn việc
mua bán sản phẩm cây thuốc phiện.
Ngày 28/12/1989, Quốc hội đã bổ sung sửa đổi Bộ luật hình sự, đã tách riêng
điều 96a quy định về tội sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép các chất ma
túy, với hình phạt cao nhất tới mức án tử hình.
Ngày 8/4/1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) đã ra
Chỉ thị 99/CT về việc vận động nhân dân không trồng cây anh túc (cây thuốc phiện). Chỉ
thị này cũng nghiêm cấm việc mua bán, chế biến, vận chuyển, tàng trữ và tổ chức tiêm
chích, nghiện hút thuốc phiện. Chỉ thị yêu cầu các cấp, các ngành liên quan phối hợp chỉ
đạo hướng dẫn thực hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Tinh thần Chỉ thị 99/CT
chỉ rõ: Tích cực tuyên truyền cho nhân dân thấy rõ tác hại về xã hội, kinh tế và sức khỏe
đối với việc sử dụng các sản phẩm cây anh túc. Kiên trì vận động, thuyết phục đồng bào
không trồng cây thuốc phiện, bỏ hút, chích và không sử dụng các sản phẩm từ cây thuốc
phiện. Phải lấy biện pháp kiên trì thuyết phục để dân hiểu và tự giác thực hiện chủ trương
của Nhà nước.
Các Bộ, ngành có liên quan sớm có quy hoạch, kế hoạch hướng dẫn đồng bào
chuyển sang trồng các loại cây trồng khác có lợi hơn, phù hợp với chương trình phát triển

* Để cụ thể hóa các hoạt động của CTQG.06/CP ngày 14/11/1995 Thủ tướng
Chính phủ đã ra Quyết định số 743/TTg về việc phê duyệt kế hoạch tổng thể phòng,
chống và kiểm soát ma túy, bao gồm các nội dung chính sau:
- Mục tiêu tổng quát của kế hoạch này là:
+ Từng bước giảm lạm dụng ma túy, phòng ngừa nguy hại lạm dụng ma túy dẫn
đến lây nhiễm HIV/AIDS giảm dần, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn việc trồng cây thuốc phiện.
+ Kiểm soát chặt chẽ nhằm ngăn chặn việc sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng
trữ, sử dụng ma túy bất hợp pháp.
+ Quản lý chặt chẽ sản xuất, kinh doanh hợp pháp các loại hóa chất, dược phẩm
có chứa chất ma túy.


+ Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kiểm soát ma túy.
* Chương trình hành động trong giai đoạn 1996-2000:
- Tăng cường chỉ đạo và quản lý thực hiện CTQG-06/CP
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống và kiểm soát ma túy; tham gia
các Công ước Quốc tế về ma túy.
- Kiểm soát các nguồn cung cấp ma túy
- Đẩy mạnh các biện pháp phòng, chống buôn lậu ma túy
- Phòng, chống lạm dụng ma túy, đẩy mạnh hoạt động điều trị và phục hồi chức
năng người nghiện.
- Tăng cường hợp tác quốc tế về kiểm soát ma túy
* Ngày 30/11/1996, BCHTW Đảng cộng sản Việt Nam đã ra Chỉ thị số 06/CTTW về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy. Bộ
Chính trị yêu cầu:
Các cấp ủy Đảng phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác
phòng, chống và kiểm soát ma túy, phải coi đây là nhiệm vụ thường xuyên
nhằm từng bước ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng sử dụng ma túy trong nhân
dân. Cần có những biện pháp đặc biệt để chặn đứng ngay việc thanh, thiếu
niên nghiện hút, hít và tiêm chích ma túy; quản lý nghiêm ngặt việc sản xuất,
kinh doanh xuất, nhập khẩu các chất ma túy và dược phẩm có chứa chất ma

- Quán triệt phương châm phòng ngừa là chính, nâng cao ý thức tự giác của nhân
dân tạo ra phong trào quần chúng rộng rãi, chú trọng vai trò của gia đình trong việc
phòng, chống ma túy; tổ chức cai nghiện có hiệu quả; chặn đứng phát sinh mới tệ nạn
nghiện ma túy, giảm dần (không thấp hơn 50% số nghiện hiện có); đến năm 2000 xóa bỏ
về cơ bản tệ nghiện hút ma túy, đặc biệt là trong học sinh, sinh viên và trẻ em vị thành
niên.
- Không để tái trồng cây thuốc phiện, cây cần sa; đến năm 2000 xóa bỏ cơ bản
diện tích cây thuốc phiện, cây cần sa còn lại ở Việt Nam.


- Ngăn chặn có hiệu quả việc buôn bán, vận chuyển trái phép các chất ma túy,
quản lý và kiểm soát chặt chẽ các tiền chất; điều tra, khám phá, truy tố, xét xử nghiêm
các tội phạm về ma túy. Xóa bỏ cơ bản các tụ điểm sử dụng trái phép các chất ma túy.
Các giải pháp chủ yếu trong giai đoạn 1998-2000 là:
- Đẩy mạnh công tác giáo dục tuyên truyền: Tuyên truyền rộng rãi trên các
phương tiện thông tin đại chúng làm chuyển biến nhận thức của nhân dân về tác hại của
ma túy, tạo ra phong trào toàn dân lên án tệ nạn này. Thành lập các đội tuyên truyền xung
kích do Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh chủ trì kết hợp với Công an
và các ngành có liên quan đến tuyên truyền phòng, chống ma túy, đặc biệt là tuyên truyền
trong thanh thiếu niên. Củng cố các trạm, hệ thống truyền thanh ở xã, phường, nông lâm
trường, xí nghiệp, đơn vị để tuyên truyền sâu rộng các chủ trương, chính sách pháp luật
về phòng, chống ma túy.
- Quản lý và kiểm soát chặt chẽ các tiền chất và xóa bỏ trồng cây có chức chất
ma túy; tiếp tục vận động, thuyết phục đồng bào các dân tộc vùng cao đẩy mạnh phát
triển kinh tế - xã hội, thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển hướng sản xuất, lồng
ghép với các chương trình kinh tế, xã hội và các dự án khác trên cùng địa bàn để thay thế
cây thuốc phiện.
- Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống các tội phạm về ma túy.
- Tăng cường nâng cao hiệu quả công tác cai nghiện ma túy
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống ma túy.

chức… Ngoài ra triều đình cũng đã có lệnh cấm các thuyền buôn từ Tân Châu (Trung
Quốc) vào Việt Nam và khám xét tất cả các thuyền buôn nước ngoài vào các cảng dọc
theo bờ biển nước ta.
- Thời kỳ Việt Nam là thuộc địa của Pháp: Ngày 31/8/1858 thực dân Pháp bắt
đầu xâm chiếm Việt Nam, chúng đã ban hành hệ thống pháp luật ở toàn cõi Đông Dương.
Để thực hiện chính sách ngu dân và vơ vét tài nguyên, tiền của ở Đông dương,
thực dân Pháp đã cho công khai phát triển trồng cây thuốc phiện, thành lập các cửa hàng
bán thuốc phiện tự do dưới sự quản lý của "công quản nha phiến", diện tích trồng cây


thuốc phiện tăng nhanh, người hút thuốc phiện được tự do, từ đó việc trồng, buôn bán và sử
dụng thuốc phiện phát triển rất nhanh.
- Pháp luật quy định tội phạm về ma túy từ sau khi BLHS ra đời đến năm 1999:
Những năm 1980, tình hình tái trồng cây thuốc phiện, hút và tiêm chích thuốc phiện ngày
càng gia tăng, đồng thời xuất hiện một số chất ma túy khác, buôn bán thuốc phiện và các
chất ma túy khác phát triển mạnh, đặc biệt là buôn bán qua biên giới. Khi BLHS năm
1985 ra đời, thuật ngữ "Ma túy" được quy định trong các tội có liên quan đến ma túy tại
các điều:
Điều 97: Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới.
Điều 166: Tội buôn bán hàng cấm.
Điều 203: Tội tổ chức dùng chất ma túy.
Đặc biệt, năm 1992 lần đầu tiên việc cấm ma túy đã được quy định trong Hiến
pháp của nước cộng hòa XHCN Việt Nam: "Nghiêm cấm sản xuất, vận chuyển, buôn
bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma túy khác. Nhà nước quy định
chế độ bắt buộc cai nghiện và chữa các bệnh xã hội nguy hiểm" (Điều 61).
Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn cuộc đấu tranh phòng, chống ma túy, ngày
10/5/1997 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của BLHS, trong đó quy định các tội phạm về ma túy thành một chương riêng, bổ sung
một số tội danh mới, định lượng các chất ma túy trong từng khung hình phạt, tăng nặng mức
hình phạt, nâng cao hình thức phạt tiền và tịch thu tài sản, quy định thêm một số hình phạt

phiện chặt chẽ hơn. Các điều luật cụ thể đã quy định rõ: Những đối tượng đã được Nhà
nước hỗ trợ ổn định cuộc sống được giáo dục mà còn tái trồng cây thuốc phiện thì bị xử
phạt hành chính, nếu tiếp tục tái trồng thì áp dụng mức phạt tù theo Luật hình sự quy
định.
1.1.3. Đặc điểm pháp lý của tội trồng cây thuốc phiện
Theo Điều 192 - BLHS hiện hành thì:


- Khách thể của tội phạm: Tội phạm xâm phạm vào chính sách của Nhà nước ta
về việc cấm trồng cây thuốc phiện và các loại cây khác có chứa chất ma túy.
- Mặt khách quan của tội phạm: mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi
trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy như chuẩn bị cây giống,
làm đất, gieo trồng, bón phân, vun xới… Địa điểm trồng có thể ở rừng, ở vườn, đồi…
người làm thuê trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy cho
người khác thì là đồng phạm về tội này.
Người trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy đã bị xử
phạt hành chính, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính mới bị truy cứu
trách nhiệm vụ hình sự về tội này (một năm kể từ ngày thi hành xong quyết định). Xử
phạt hành chính là trường hợp cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng các hình thức
xử phạt theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính như: Cảnh cáo, phạt tiền, yêu cầu nhổ
bỏ cây thuốc phiện hoặc các loại cây trồng khác có chất ma túy… về hành vi tái trồng các
loại cây này đối với người vi phạm.
- Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi
trở lên.
- Mặt chủ quan của tội phạm: tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Mục
đích, động cơ phạm tội có thể trồng để bán, sử dụng hay chữa bệnh không có ý nghĩa
trong việc định tội.
1.2. Nhận thức cơ bản về công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm
trồng cây thuốc phiện
1.2.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về đấu tranh chống tội phạm trồng

định hợp tác phòng, chống ma túy cấp Chính phủ, hiệp định hợp tác phòng, chống ma túy
cấp Bộ trưởng. Từ tháng 4/1999 lực lượng CSND Việt Nam đã chính thức tham gia hệ
thống thông tin tội phạm ma túy quốc tế của CS các nước ASEAN.
Chương trình hành động phòng, chống ma túy giai đoạn 1998-2000 của Chính
phủ đã đề ra một số mục tiêu để định hướng công tác phòng, chống ma túy trong giai
đoạn này là:


- Quán triệt phương châm phòng ngừa là chính, nâng cao ý thức tự giác của nhân
dân, tạo ra phong trào quần chúng rộng rãi, chú trọng vai trò của gia đình trong việc
phòng, chống ma túy; Tổ chức cai nghiện có hiệu quả; chặn đứng phát sinh mới tệ nghiện
ma túy; giảm dần số nghiện hiện có.
- Không để tái trồng cây thuốc phiện, cây cần sa.
- Ngăn chặn có hiệu quả việc buôn bán, vận chuyển trái phép các chất ma túy,
quản lý và kiểm soát chặt chẽ các tiền chất; điều tra, khám phá, truy tố, xét xử nghiêm
các tội phạm về ma túy.
Trên cơ sở những mục tiêu trên, chương trình hành động của Chính phủ cũng đã đề
ra một số nhiệm vụ là: Đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền; quản lý chặt chẽ các
tiền chất, xóa bỏ trồng cây có chất ma túy; Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống các tội
phạm về ma túy; tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác cai nghiện ma túy; xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống ma túy; tăng cường hợp tác quốc tế về
phòng, chống ma túy.
Nghị quyết số 06 ngày 19/01/1993 của Chính phủ về tăng cường chỉ đạo công tác
phòng chống và kiểm soát ma túy đã xác định các chủ trương, biện pháp cơ bản, trong đó
có: Kiểm soát nghiêm ngặt việc vận chuyển, lưu thông các loại ma túy trên lãnh thổ,
trước hết là ở các vùng trồng thuốc phiện, vùng biên giới, các cửa khẩu, hải cảng, sân bay
quốc tế; đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống mọi hành vi sản xuất, vận chuyển, tàng trữ, buôn
bán các chất ma túy. Tiêu hủy các sản phẩm là thuốc phiện và các chất ma túy khác thu
được.
ở tỉnh Yên Bái, lãnh đạo các cấp, các ngành và nhân dân toàn tỉnh nhìn chung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status