Tìm hiểu những quy định về hàng hóa nhập khẩu khi Việt Nam tham gia kí kết với WTO - Pdf 35

GV. Nguyễn Thị Tuyết Nhung

TIỂU LUẬN
Đề tài : Tìm hiểu những quy định về hàng hóa nhập khẩu khi
Việt Nam tham gia kí kết với WTO.

Hà Nội, năm 2015

LỜI MỞ ĐẦU


GV. Nguyễn Thị Tuyết Nhung

Bài thảo luận nhóm chúng em tìm hiểu đề “ Tìm hiểu những quy định về
hàng hóa nhập khẩu khi Việt Nam tham gia kí kết với WTO”

Kính mong cô đóng góp ý kiến để bài chúng em được hoàn thiện hơn.
Chúng em chân thành cảm ơn cô.

MỤC LỤC:


GV. Nguyễn Thị Tuyết Nhung
PHẦN 1....................................................................................................................1
TÌM HIỂU MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆT NAM VỚI WTO:.................................1
1.Tổng quan về WTO...............................................................................................1
1.1. Bản chất của WTO............................................................................................2
1.2.Chức năng của WTO..........................................................................................2
1.3.Những nguyên tắc cơ bản của GATT................................................................2
2.Mối quan hệ Việt Nam với WTO..........................................................................2
PHẦN 2:...................................................................................................................8

quan hải quan cửa khẩu là hoàn thành...................................................................15
.................................................................................................................................15
2.Đánh giá tình hình xuất nhập khẩu khi Việt Nam kí kết với WTO....................15
2.1. Cơ hội và thách thức hàng hóa xuất nhập khẩu khi Việt Nam tham gia vào
WTO.......................................................................................................................15
2.1.1.Về những cơ hội............................................................................................15
2.2.Đánh giá tình hình nhập khẩu Việt Nam sau 6 năm khi gia nhập WTO........22
KẾT LUẬN...........................................................................................................27
.................................................................................................................................27
TÀI LIỆU THAM KHẢO:....................................................................................28


GV. Nguyễn Thị Tuyết Nhung

PHẦN 1
TÌM HIỂU MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆT NAM VỚI WTO:
1.Tổng quan về WTO.
Tổ chức Thương mại Thế giới (tiếng Anh: World Trade Organization,
viết
Tây

tắt WTO ; tiếng
Ban

Nha:

Pháp: Organisation

Organización


Hiện nay tổ chức thương mại thế giới WTO là tổ chức quốc tế duy nhất
quản lý luật lệ giữa các quốc gia trong thương mại quốc tế và là một tổ chức
thương mại lớn nhất toàn cầu. Đó là những hiệp định đã và đang tiếp tục được
đàm phán và ký kết giữa các quốc gia hoặc lãnh thổ quan thuế thành viên.
1
Quản lý nhà nước về kinh tế đối ngoại


GV. Nguyễn Thị Tuyết Nhung

Tính đến tháng 2 năm 2013, WTO có 158 thành viên, bao gồm 76 thành viên
sáng lập và 82 nước thành viên tham gia.
Việt Nam gia nhập WTO vào ngày 7-11-2006, và được công nhận là
thành viên chính thức của tổ chức này vào ngày 11-1-2007. Việc gia nhập
WTO đã mở ra cơ hội lớn cho hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam với thị
trường rộng lớn, gồm 155 nước thành viên, chiếm 97% GDP toàn cầu.
1.1. Bản chất của WTO.
WTO coi việc không phân biệt đối xử, mở cửa thị trường và cạnh tranh
toàn cầu trong thương mại quốc tế sẽ thúc đẩy phúc lợi quốc gia tại tất cả các
nước là triết lý nền tảng của mình. Một lý do khiến WTO tồn tại là các hạn
chế về chính trị đã ngăn cản các Chính phủ áp dụng các chính sách thương
mại hiệu quả hơn, và thông qua sự trao đổi có đi có lại các cam kết tự do hóa,
các nước có thể vượt qua các hạn chế chính trị này.
1.2.Chức năng của WTO
- WTO có 4 chức năng chính:
+ Hỗ trợ và giám sát việc thực hiện các Hiệp định WTO;
+ Thúc đẩy tự do hoá thương mại và là diễn đàn cho các cuộc đàm
phán thương mại;
+ Giải quyết tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên;
+ Rà soát chính sách thương mại của các nước thành viên.

vực nói trên tạo ra bước hội nhập đầu tiên của Việt Nam vào hệ thống thương
mại để chuẩn bị cho việc trở thành Thành viên WTO.
Các mối quan hệ của Việt Nam với WTO được bắt đầu vào năm 1995 với
việc nộp yêu cầu gia nhập chính thức. Vào tháng 1 năm 1995, Đại hội đồng
của WTO đã thành lập Ban công tác để xem xét đơn xin gia nhập của Việt
Nam. Ban công tác đã tiến hành 14 cuộc họp trong giai đoạn gần 12 năm –
một quá trình đàm phán gia nhập khá dài. Các thành viên của Ban công tác
gồm Áchentina, Úc, Braxin, Brunây, Bungari, Campuchia, Canađa, Chilê,
Trung Quốc, Côlômbia, Croatia, Cuba, Cộng hòa Đôminíc, Ai Cập, En
Sanvađo, Liên minh châu Âu và các Thành viên của mình, Honđuras, Hồng
Kông, Ixơlen, Ấn Độ, Inđônêxia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Cộng hòa
Kyrgyzxtanxtan, Malaysia, Mêhicô, Marốc, Myanma, Niu Dilân, Na Uy,
Pakistan, Panama, Paraguay, Philíppin, Rumani, Singapo, Sri Lanka, Thụy
Sỹ, Đài Loan, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Hoa Kỳ và Uruguay (www.wto.org).
Việt Nam đã chuẩn bị bản Bị vong lục về chế độ ngoại thương của mình vào
năm 1996 nhưng phải tới tận năm 1998 thì kế hoạch cho các cuộc họp định kỳ
của Ban công tác mới được đưa ra. Các cuộc đàm phán diễn ra chậm chạp do
các lo ngại về chính trị, nhu cầu cần có những thay đổi hệ thống quan trọng
3
Quản lý nhà nước về kinh tế đối ngoại


GV. Nguyễn Thị Tuyết Nhung

trong nền kinh tế Việt Nam và các Thành viên WTO đặt ra yêu cầu Việt Nam
phải đưa ra các nhượng bộ lớn.
- Các mốc lớn trong quan hệ của Việt Nam với WTO
+ Năm 1994 Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam và
thiết lập quan hệ ngoại giao bình thường vào năm 1995. Điều này đã thúc đẩy
việc mở cửa nền kinh tế Việt Nam.



GV. Nguyễn Thị Tuyết Nhung

Việt Nam đưa ra chương trình hành động thực thi các cam kết gia nhập
WTO.Vào năm 2002, Việt Nam đưa ra Bản chào đầu tiên về mở cửa thị
trường hàng hóa và dịch vụ, sau đó Bản chào sửa đổi vào tháng 7 năm 2004
mang tính tham vọng hơn. Cả hai Bản chào đều được các Thành viên WTO
hoan nghênh. Sau một số vòng đàm phán, các đối tác thương mại của Việt
Nam đồng ý bắt đầu dự thảo Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia
nhập WTO và tiến hành các cuộc đàm phán song phương cần thiết để đạt được thỏa
thuận gia nhập giữa các bên.

Việt Nam tiến hành các cuộc đàm phán song phương với 28 Thành viên
WTO, bao gồm cả Liên minh châu Âu (tính là một Thành viên mặc dù Liên
minh này đại diện cho 25 nước), Hoa Kỳ và Trung Quốc. Thỏa thuận với Hoa
Kỳ ký vào tháng 5 năm 2006 là thỏa thuận song phương cuối cùng và có lẽ là
thỏa thuận song phương khó khăn nhất mà Việt Nam đã đàm phán. Việc ký
kết thỏa thuận này cho phép Tổng thống Hoa Kỳ có thẩm quyền cần thiết để
dành cho Việt Nam quy chế “quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn”
(PNTR) – đây là điều kiện tiên quyết cho phép Hoa Kỳ công nhận Việt Nam
là một Thành viên WTO.
Trọng tâm cải cách kinh tế và chính sách phát triển dựa vào xuất khẩu của
Việt Nam đã khiến cho quá trình gia nhập, vốn kéo dài và rất phức tạp, trở
nên đơn giản hơn. Việc ký kết Hiệp định Thương mại song phương với Hoa
Kỳ (BTA) và tham gia Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) rất hữu ích
trong bối cảnh này do các thỏa thuận này đã khởi động quá trình tự do hóa và
tiến trình “phi điều tiết hóa” (US Aid ,2007). Tuy nhiên, điều này không có
nghĩa rằng các cuộc đàm phán mở cửa thị trường là dễ dàng. Các bên đã phải
mất rất nhiều thời gian và đàm phán diễn ra rất căng thẳng trước khi đạt được

cơ quan Việt Nam đã đưa ra các bước đi để thực hiện mục tiêu này.
Trước hết, ngay trong giai đoạn gia nhập đầu tiên, Việt Nam đã dự đoán
được các cam kết đa dạng trong WTO sẽ đòi hỏi cải cách nền kinh tế trong
nước tới mức nào và những thay đổi đó sẽ đóng góp vào quá trình phát triển
theo cách nào. Việt Nam xác định dệt may, giầy dép, nông nghiệp, thủy sản
và du lịch là những ngành có thể được hưởng lợi ngay từ các chương trình cải
cách này và đã xây dựng ưu tiên đàm phán của mình, có tính tới những ngành
có tiềm năng có lợi thế so sánh.
Thứ hai, các cơ quan quản lý Việt Nam đã nhận thấy tiến trình gia nhập
WTO có thể kéo dài và phức tạp, do đó đã nỗ lực để tập hợp đủ hỗ trợ trong
nước cho tiến trình gia nhập này. Yếu tố thứ hai được ủng hộ bởi các cuộc
tham vấn ở cấp chính trị và tầm nhìn rõ ràng về chi phí, lợi ích và các ưu tiên
trong các cuộc đàm phán gia nhập. Xây dựng một chiến lược đàm phán phù
hợp gồm cả các vấn đề vượt quá thẩm quyền của Bộ Thương mại và Chính
phủ đã có quan điểm chung về chiến lược đàm phán gia nhập WTO. Rõ ràng,
vấn đề này không bị coi là một quyết định kỹ trị do một nhóm quan chức
kiểm soát mà đã được rất nhiều cơ quan chính phủ và Đảng Cộng sản xem xét
6
Quản lý nhà nước về kinh tế đối ngoại


GV. Nguyễn Thị Tuyết Nhung

cũng như được tham vấn với các ngành trong nước. Việt Nam đang đạt được
nhiều tiến bộ trong việc xây dựng một tiến trình mở, chính thức để đảm bảo
quyền của các hiệp hội doanh nghiệp và các tổ chức dân sự trong việc xây
dựng các văn bản pháp lý.
Thứ ba, do thời gian kéo dài, độ phức tạp cao và phạm vi rất rộng của
Thỏa thuận gia nhập, Chính phủ Việt Nam đã xây dựng một “lộ trình” xác
định các hoạt động khác nhau trong quá trình gia nhập và giai đoạn thực thi.

CÁC QUY ĐỊNH VỀ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU KHI VIỆT NAM KÍ
KẾT VỚI WTO VÀ ĐÁNH GIÁ VỀ TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP
KHẨU KHI VIỆT NAM KÍ KẾT VỚI WTO.
1. Các quy định và thủ tục của WTO về hàng hóa nhập khẩu khi Việt
Nam kí kết với WTO (www.wto.org) được xây dựng dựa trên một số
nguyên tắc chung.
1.1. Đối xử tối huệ quốc (MFN):
Nguyên tắc không phân biệt đối xử này quy định rằng việc nhập khẩu
khẩu hàng hóa và dịch vụ từ một Thành viên WTO sẽ được đối xử không kém
thuận lợi hơn việc nhập khảu hàng hóa và dịch vụ từ bất kỳ Thành viên nào
khác. Đối xử MFN là vô điều kiện. Trên thực tiễn, trong hầu hết các trường
hợp điều này có nghĩa một nước không thể áp dụng mức thuế nhập khẩu đối
với sản phẩm nhập khẩu từ một Thành viên cao hơn so với mức thuế áp dụng
đối với sản phẩm tương tự từ bất kỳ Thành viên nào khác. Các Khu vực Mậu
dịch tự do như Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và liên minh thuế
quan nếu thỏa mãn một số điều kiện nhất định sẽ được coi là ngoại lệ của
nguyên tắc MFN.
1.2. Đối xử quốc gia:
Nguyên tắc không phân biệt đối xử này quy định rằng sản phẩm và dịch
vụ nhập khẩu sẽ được hưởng đối xử không kém thuận lợi hơn đối xử dành
cho sản phẩm tương tự trong nước. Trên thực tiễn, nguyên tắc này quy định
các Chính phủ không được phân biệt đối xử đối với hàng nhập khẩu khi áp
dụng các luật lệ và quy định trong nước, như các quy định về thuế hay bảo vệ
người tiêu dùng và môi trường. Tuy nhiên, sự phân biệt đối xử đối với hàng
nhập khẩu vẫn có thể được thực hiện thông qua các biện pháp tại biên giới,
đặc biệt là thuế quan. Đối với thương mại dịch vụ, việc dành đối xử quốc gia
không phải là tự động do nguyên tắc này phải được đàm phán trong từng phân
ngành hay thậm chí từng dịch vụ cụ thể.

8

Vòng đàm phán đa phương lần thứ 9, Vòng đàm phán Đôha vì sự phát triển

9
Quản lý nhà nước về kinh tế đối ngoại


GV. Nguyễn Thị Tuyết Nhung

(DDR) được bắt đầu vào năm 2001 đang được tiến hành. Bảo hộ nông nghiệp
tại các nước phát triển là nội dung cản trở chính của vòng đàm phán này.
1.3.Minh bạch hóa:
Luật và quy định của các nước ảnh hưởng tới ngoại thương và đầu tư
nước ngoài phải được công bố và cung cấp cho tất cả các bên, các thủ tục để
thực thi luật lệ và quy định phải công khai. Hơn nữa, quy chế thương mại của
mỗi Thành viên phải được WTO rà soát định kỳ để đảm bảo sự tuân thủ với
các quy định của WTO.
1.4.Giải quyết tranh chấp:
Để thực hiện chức năng giám sát các quy tắc đã được thỏa thuận trong
các Hiệp định của mình, WTO có cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các
Thành viên.
Bất kỳ quốc gia hoặc lãnh thổ hải quan có đầy đủ thẩm quyền quản lý
các mối quan hệ thương mại quốc tế của mình cũng có thể gia nhập WTO.
Hiện nay, hơn 75% các quốc gia và lãnh thổ hải quan trên thế giới là Thành
viên của tổ chức này và hơn 10% quốc gia, tổ chức nữa đang trong quá trình
gia nhập.
Kết quả mà Việt Nam đàm phán được là trong khoảng thời gian 12 năm
(không muộn hơn, trước thời điểm trên, nếu Việt Nam chứng minh được với
đối tác nào là kinh tế Việt Nam hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường thì
đối tác đó sẽ ngừng áp dụng chế độ "phi thị trường" đối với Việt Nam. Chế độ
"phi thị trường" này chỉ có ý nghĩa trong n 31/12/2018) WTO chấp nhận coi

Nam hoặc sẽ áp dụng một mức thuế tuyệt đối hoặc một mức thuế phần trăm;
đối với bia, Việt Nam sẽ chỉ áp dụng một mức thuế phần trăm.
Có, hàng hoá nhập khẩu vẫn có thể phải chịu các loại thuế trong nước
khác như thuế giá trị gia tăng, thuế doanh thu, thuế tiêu thụđặc biệt, tuỳ theo
chính sách của từng nước. Nhưng trị giá các loại thuế trong nước hoặc các
loại phí đánh vào hàng hoá nhập khẩu không được vượt quá trị giá của cùng
loại thuế, phí đó đánh vào hàng hoá trong nước. Đây chính là một nội dung
của đãi ngộ quốc gia.

11
Quản lý nhà nước về kinh tế đối ngoại


GV. Nguyễn Thị Tuyết Nhung

Ngoài các loại thuế trong nước thông thường như trên, nếu có dấu hiệu
phá giá hay trợ cấp thì hàng hoá nhập khẩu có thể phải chịu cả thuế chống phá
giá hoặc thuế đối kháng.
Phương pháp đánh thuế đối với hàng nhập khẩu: có 2 phương pháp
chính.
+ Đánh thuế theo phần trăm trị giá hàng hóa, gọi là thuế phần trăm
hay thuế theo trị giá. Ví dụ mặt hàng trị giá 100$, thuế suất là 5% thì thuế
quan phải thu sẽ bằng 100$ x 5% = 5$.
+ Đánh thuế theo đơn vị đo lường (khối lượng, thể tích, dung tích),
gọi là thuế tuyệt đối. Ví dụ, thuế suất 1$/lít rượu thì khi nhập khẩu 100 lít
rượu (bất kể trị giá), nhà nhập khẩu sẽ phải trả 1$ x 100 lít = 100$.
+ Phương pháp thứ ba chính là sự kết hợp của hai phương pháp trên,
gọi là thuế gộp . Ví dụ với thuế suất 5% + 1$/lít, giả sử mỗi lít rượu giá 20$
thì số thuế quan phải thu sẽ là
(20$ x 100 lít x 5%) + (1$ x 100 lít) = 100$ + 100$ = 200$.

phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc và thiết bị điện - điện tử.
Việt Nam đạt được mức thuế trần cao hơn mức đang áp dụng đối với nhóm
hàng xăng dầu, kim loại, hóa chất, phương tiện vận tải.
Việt Nam cũng cam kết cắt giảm thuế theo một số hiệp định tự do hoá
theo ngành của WTO (giảm thuế xuống 0% hoặc mức thấp). Đây là hiệp định
tự nguyện của WTO nhưng các nước mới gia nhập đều phải tham gia một số
ngành. Những ngành mà Việt Nam cam kết tham gia là sản phẩm công nghệ
thông tin (ITA), dệt may và thiết bị y tế.
Việt Nam cũng tham gia một số phần với thời gian thực hiện sau từ 3 – 5
năm đối với các ngành thiết bị máy bay, hóa chất và thiết bị xây dựng.
1.9. Về hạn ngạch thuế quan.
Việt Nam bảo lưu quyền áp dụng với đường, trứng gia cầm, lá thuốc lá và
muối. Đối với 4 mặt hàng này, mức thuế trong hạn ngạch là tương đương mức
thuế MFN (nguyên tắc tối huệ quốc của WTO), cụ thể trứng 40%, đường thô
25%, đường tinh 40-50%, thuốc lá lá 30%, muối ăn 30%. Mức thuế ngoài hạn
ngạch cao hơn rất nhiều.

13
Quản lý nhà nước về kinh tế đối ngoại


GV. Nguyễn Thị Tuyết Nhung

Tổng hợp cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu trong vòng đàm phán gia
nhập WTO đối với một số nhóm hàng quan trọng
Cam kết với WTO
TT Ngành hàng/ Mức thuế suất

1.


20

20

14

5 năm

- Thịt lợn

30

30

15

5 năm

- Sữa nguyên liệu

20

20

18

2 năm

- Sữa thành phẩm


80

65

35

5 năm

- Rượu

65

65

45-50

5-6 năm

- Thuốc lá điếu

100

150

135

3 năm

- Xì gà


17,7

13

5-7 năm

- Xi măng

40

40

32

4 năm

- Phân hóa học (thuế suất bình quân)

0,7

6,5

6,4

2 năm

- Giấy (thuế suất bình quân)

22,3


38

25

4 năm

Một số sản phẩm công nghiệp

ngay khi gia
nhập (thực tế
- Dệt may (thuế suất bình quân)

37,3

13,7

13,7

đã thực hiện
theo hiệp định
dệt may với
EU, Hoa Kỳ)

- Giày dép

50

14
Quản lý nhà nước về kinh tế đối ngoại



90

100

70

7 năm

+ Loại không quá 5 tấn

100

80

50

10 năm

+ Loại thuế suất khác hiện hành 80%

80

100

70

7 năm

+ Loại thuế suất khác hiện hành 60%


100

95

70

7 năm

- Xe tải

- Xe máy

1.10 Một số biện pháp quản lý nhập khẩu Việt Nam áp dụng theo quy
định WTO.
a. Cấp phép nhập khẩu tự động:
- Là biện pháp quản lý nhập khẩu thông qua giấy phép nhưng giấy phép này
được cấp cho tất cả các thương nhân nào thỏa mãn điều kiện quy định
cấp phép và không nhằm mục đích hạn chế số lượng nhập khẩu.
- Điều kiện để được cấp phép nhập khẩu: Có đăng ký kinh doanh
+ Theo Luật Doanh nghiệp; mặt hàng nhập khẩu không thuộc Danh mục
cấm nhập khẩu;
+ Thỏa mãn các điều kiện cụ thể theo quy định của pháp Luật nước nhập
khẩu các mặt hàng thuộc lĩnh vực kinh doanh có điều kiện như dược
phẩm, xăng dầu, thuốc lá nguyên liuv.v...
b.Thủ tục trực tiếp tại hải quan cửa khẩu:
Với yêu cầu này, nhà nhập khẩu chỉ cần làm thủ tục kê khai và nộp thuế
với cơ quan hải quan cửa khẩu là hoàn thành

2.Đánh giá tình hình xuất nhập khẩu khi Việt Nam kí kết với WTO

đồng đều. Những nước có nền kinh tế phát triển thấp được hưởng lợi ít hơn. Ở
mỗi quốc gia, sự "phân phối" lợi ích cũng không đồng đều. Một bộ phận dân
cư được hưởng lợi ít hơn, thậm chí còn bị tác động tiêu cực của toàn cầu hoá;
nguy cơ phá sản một bộ phận doanh nghiệp và nguy cơ thất nghiệp sẽ tăng
lên, phân hoá giàu nghèo sẽ mạnh hơn. Điều đó đòi hỏi phải có chính sách
phúc lợi và an sinh xã hội đúng đắn; phải quán triệt và thực hiện thật tốt chủ
trương của Đảng: "Tăng trưởng kinh tế đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển".
Ba là: Hội nhập kinh tế quốc tế trong một thế giới toàn cầu hoá, tính tuỳ
thuộc lẫn nhau giữa các nước sẽ tăng lên. Trong điều kiện tiềm lực đất nước
có hạn, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, kinh nghiệm vận hành nền kinh tế
thị trường chưa nhiều thì đây là khó khăn không nhỏ.
Bốn là : Theo cam kết khi gia nhập WTO “Việt Nam là nền kinh tế phi thị
trường” chỉ tồn tại trong vòng 12 năm ( không sớm hơn ngày
31/12/2018).Hiện nay nước ta vẫn còn nặng nền kinh tế bao cấp.Muốn thoát
ra khỏi tình trạng làm thay việc các tổng công ty ,doanh nghiệp nhà nước.
16
Quản lý nhà nước về kinh tế đối ngoại


GV. Nguyễn Thị Tuyết Nhung

Phải tạo nên tính độc lập ,bình đẳng trong cộng đồng doanh nghiệp nghĩa là
thực thi trọn vẹn những cam kết vào WTO,chúng ta mới là thành viên chững
chạc ,có vị trí bình đẳng của WTO. Vì nền kinh tế thị trường theo WTO là
những nền “ thương mại tự do” tuyệt đối,các doanh nghiệp tham gia thị
trường hoàn toàn độc lập với Chính phủ nước họ”.Các doanh nghiệp chỉ phục
tùng pháp luật , đóng thuế theo luật trong nước cũng như nước mà họ đầu tư
đến.Họ không chịu bất cứ một mệnh lệnh hành chính nào đến từ các cấp
chính quyền.Do vậy, Việt Nam sẽ gặp nhiều bất lợi như:

thành một thị trường thống nhất, một "làng toàn cầu".
- Sự đổi mới và cạnh tranh quyết liệt giữa các doanh nghiệp là động lực lớn
thúc đẩy tiến trình toàn cầu hoá. Các doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty
18
Quản lý nhà nước về kinh tế đối ngoại


GV. Nguyễn Thị Tuyết Nhung

xuyên quốc gia đóng vai trò đắc lực trong việc hình thành nền kinh tế toàn
cầu.
Những nét nổi bật của toàn cầu hoá là sự phát triển nhanh chóng của
thương mại thế giới. Thương mại quốc tế tăng có nghĩa là nền kinh tế của các
nước trên thế giới quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau, tính quốc tế hoá
của nền kinh tế thế giới tăng lên. Bên cạnh đó phải kể tới vai trò của các công
ty xuyên quốc gia. Các công ty này thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá trên thế
giới, ngược lại, quá trình toàn cầu hoá lại ảnh hưởng mạnh mẽ đến các công
ty xuyên quốc gia và chiến lược kinh doanh của họ. Xu hướng sáp nhập của
các Công ty xuyên quốc gia tăng lên nhanh chóng.
Tóm lại, toàn cầu hoá là một tất yếu lịch sử, khách quan, tác động đến
mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế văn hoá, xã hội trên thế giới. Nó tạo ra
những cơ hội phát triển cho các nước nhưng cũng tạo ra nhiều thách thức đối
với tất cả các quốc gia, dân tộc. Trong một thế giới mà tính phụ thuộc lẫn
nhau giữa các nước ngày càng tăng thì không một quốc gia nào có thể phát
triển đuợc nếu không có mối liên hệ nào với bên ngoài. Các quốc gia, khu vực
đều phải tham gia trào lưu toàn cầu hoá, tham gia quá trình hội nhập ở các
mức độ nhất định, nếu không muốn bị tut hậu, bỏ rơi. Có điều những vấn đề
mà toàn cầu hoá đặt ra đối với các nước đang phát triển là như thế nào.
Trong Tuyên bố Bangkok tháng 2- 2000 của Hội nghị Liên hiệp quốc về
thương mại và phát triến nêu rõ: "toàn cầu hoá là một quá trình đang diễn ra

Theo tạp chí Third World Resurgence (Malaysia), No108- 109, vào đầu
năm 1996, tổng số nợ nước ngoài của các nước đang phát triển là 1,8 nghìn tỉ
USD trong đó khu vực Mỹ La Tinh nợ 655 tỉ; Châu Phi: 340 tỉ; Châu á: 857
tỉ.
Báo cáo phát triển con người (UNDP) năm 1997 nêu rõ, các nước nghèo
cần 80 tỉ USD hàng năm để giảm đói nghèo, tạo ra y tế cơ bản, giáo dục, nước
sạch, trong khi đó thế giới hàng năm chi gấp 10 lần số tiền đó (780 tỉ USD)
vào chi phí quân sự.
Điều đó cho thấy sự xoá nợ của các nước tư bản phát triển đối với các
quốc gia nghèo là cần thiết và cấp bách.Tuy nhiên, cũng thấy rõ một thực tế là
viện trợ cũng như xoá nợ luôn đi kèm theo những điều kiện chính trị hoặc
kinh tế, làm cho sự phụ thuộc vào bên ngoài của các nước đang phát triển
tăng lên.
Toàn cầu hoá kinh tế còn dẫn đến cục diện kinh tế giữa các nước ngày
càng dựa vào nhau. Một mặt, nó thúc đẩy tiến trình hiện đại hoá của các nước
đang phát triển, mặt khác, nó làm cho chủ quyền kinh tế quốc gia bị tổn
thương. Một khi các ngành then chốt trong nền kinh tế quốc dân bị các công
ty nước ngoài nắm và khống chế thì quốc gia đó sẽ khó mà giữ được độc lập
về kinh tế và chính trị. Chủ quyền quốc gia ngày càng bị hạn chế trên hai
phương diện: xói mòn quyền lực của Nhà nước và lu mờ bản sắc dân tộc. Một
mặt, toàn cầu hoá tạo điều kiện để nhân dân các nước giao lưu, hiểu biết lẫn
nhau, làm phong phú nền văn hoá đất nước; mặt khác, trong xu thế giao lưu
văn hoá quốc tế, văn hoá đồi truỵ, chủ nghĩa vị kỷ, tà giáo sẽ xâm nhập vào,
ảnh hưởng đến sức mạnh dân tộc.
Đó là chưa nói tới việc rủi ro kinh tế có thể xảy ra trong quá trình toàn cầu
hoá. Sự phụ thuộc, hội nhập lẫn nhau về kinh tế dẫn đến việc khủng hoảng
hay chấn động kinh tế của một số quốc gia có thể lan sang toàn khu vực và
toàn cầu.
Tóm lại, toàn cầu hoá kinh tế là con dao hai lưỡi, vừa có mặt tích cực, vừa
có mặt tiêu cực. Vì thế, các nước đang phát triển cần phải chủ động nắm bắt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status