CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN
DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ
VỪA
1.1.
Cơ sở lý luận về cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng
thương mại
1.1.1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.1.1. Khái niệm
Theo Luật Doanh nghiệp ngày 29/11/2005 : “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên
riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của
pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền
và nghĩa vụ dân sự, hoạt động theo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn
bộ hoạt động kinh tế va chịu sự quản lý của Nhà nước bởi Luật Doanh nghiệp và các quy
định khác của pháp luật. Nói cách khác, doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế được thành
lập và tổ chức sản xuất ra sản phẩm để sản xuất kinh doanh hoặc cung ứng dịch vụ nhằm
thỏa mãn nhu cầu của thị trường và kết quả thu về là lợi nhuận, tích lũy được vốn để tiếp
tục tái đầu tư phát triển kinh doanh ngày càng cao hơn.
Loại hình DNNVV phát triển khá phổ biến ở các nước đang phát triển, nhất là các nước
trong khu vực ASEAN. Ở Việt Nam, nhóm doanh nghiệp này có vị thế quan trọng trong
quá trình thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Theo Điều 3 của Nghị định số 90/2201/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 về trợ giúp
phát triển DNNVV thì DNNVV được định nghĩa : “ DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh
doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không
quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hằng năm không quá 300 người.”
Theo Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30 tháng 06 năm 2009 về
trợ giúp phát triển DNNVV, thì : “ DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh
theo quy định của pháp luật, được chia thành ba cấp : siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô
(tỷ VNĐ)
vốn
Số
lao
động
(tỷ (người)
VNĐ)
Nông, lâm nghiệp & thủy
sản
Công
nghiệp
và
xây
dựng
Thương mại và dịch vụ
kinh tế tư nhân, việc khởi sự kinh doanh và mở rộng quy mô đầu tư, đổi mới công
nghệ, thiết bị được thực hiện chủ yếu bằng một phần vốn tự có và tín dụng khác
như vay, mượn bạn bè, người thân hay từ các tổ chức tài chính khác trong xã hội.
DNNVV thường hướng vào những lĩnh vực phục vụ trực tiếp đời sống, những sản
phẩm có sức mua cao, thị trường tiêu thụ lớn, nên huy động được các nguồn lực xã
hội, các nguồn vốn còn tiềm ẩn trong dân.
DNNVV có vốn đầu tư ban đầu ít nên chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp thường ngắn dẫn đến khả năng thu hồi vốn nhanh tạo điều kiện cho doanh
nghiệp kinh doanh hiệu quả. Với quy mô vừa và nhỏ các doanh nghiệp này rất linh
hoạt, dễ thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của thị trường, thích hợp với điều
kiện sử dụng các trình độ kỹ thuật khác nhau như thủ công, cơ khí và bán cơ khí
để sản xuất ra những sản phẩm thích ứng với yêu cầu của nhiều tầng lớp dân cư có
thu nhập khác nhau.
Dễ khởi nghiệp, phát triển rộng khắp ở cả thành thị và nông thôn, thông thường
để thành lập một doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ cần vốn đầu tư ban đầu không lớn,
mặt bằng sản xuất nhỏ hẹp, quy mô nhà xưởng vừa phải. Đặc điểm này làm cho
doanh nghiệp nhỏ và vừa năng động, phát triển ở khắp mọi nơi, mọi ngành nghề;
tạo điều kiện cho nền kinh tế khai thác mọi tiềm năng, tạo ra một thị trường cạnh
tranh lành mạnh hơn.
-
Về lao động:
Phần lớn các DNNVV sử dụng nhiều lao động giản đơn, quy mô lao động nhỏ,
trình độ tay nghề chưa cao, đa số là sử dụng lao động hộ gia đình, thuê và tuyển
dụng ở các tỉnh. Lao động thủ công còn chiếm tỷ trọng lớn.
Trình độ quản lý và tay nghề của người lao động còn hạn chế. Đội ngũ quản lý còn
thiếu trình độ, kỹ năng quản lý, sử dụng kinh nghiệm là chủ yếu, chưa có chuyên
môn. Tuy Việt Nam có lực lượng lao động dồi dào, trình độ học vấn tương đối cao
tiến, hiện đại. Việc sử dụng các công nghệ lạc hậu dẫn đến chất lượng sản phẩm
không cao, tính độc đáo không cao, giá trị gia tăng trong tổng giá trị sản phẩm nói
chung thấp, tính cạnh tranh trên thị trường kém. DNNVV cũng gặp nhiều khó
khăn trong việc tìm kiếm, thâm nhập thị trường và phân phối sản phẩm do thiếu
thông tin về thị trường. Khả năng tiếp cận thị trường kém, đặc biệt đối với thị
trường nước ngoài. Nguyên nhân chủ yếu là do các DNNVV thường là những
doanh nghiệp mới hình thành, công tác tiếp thị còn kém hiệu quả và cũng chưa có
nhiều khách hàng truyền thống. Thêm vào đó, quy mô thị trường của các doanh
nghiệp này thường phục vụ cho nhu cầu của địa phương, việc mở rộng ra các thị
trường mới là rất khó khăn đã hạn chế năng lực cạnh tranh của các DNNVV.
-
Về năng lực quản trị :
Một đặc điểm của DNNVV nước ta hiện nay là sản xuất kinh doanh theo cách tự
phát, tự điều hành, quản lý còn mang tính gia đình. Quản trị nội bộ của các
DNNVV còn yếu, nhất là quản lý tài chính, ý thực chấp hành các chế độ chính
sách chưa cao, còn lúng túng trong việc liên kết, nhất là kiên kết trong cùng một
hội ngành nghề. Khả năng liên kết của các DNNVV còn hạn chế do tư tưởng
mạnh ai nấy làm, và do chất lượng sản phẩm chưa đáp ứng yêu cầu DN lớn. Trong
khi đó ở nhiều nước DNNVV chính là đơn vị cung cấp nguyên phụ liệu cho các
DN lớn, tạo thành chuỗi cung ứng hiệu quả.
Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế
1.1.1.3.
-
Các DNNVV cung cấp một lượng sản phảm hàng hóa dịch vụ đáng kể cho nền
-
miền trong một quốc gia.
Các DNNVV có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế địa phương, khai thác
tiềm năng, thế mạnh của từng vùng.
Phát triển các DNNVV sẽ giúp các địa phương khai thác thế mạnh về đất đai, tài
-
nguyên, lao động trong mọi lĩnh vực phục vụ phát triển kinh tế địa phương.
Các DNNVV góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và
phân công lao động giữa các vùng, địa phương. Sự phát triển của DNNVV có thể
góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động trong một
nước, thu hút ngày càng nhiều lao động ở nông thôn, chủ yếu tập trung vào ngành
phi nông nghiệp, công nghiệp và đã giúp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế địa
phương, cơ cấu ngành, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của quốc gia.
1.1.2. Dịch vụ cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Dịch vụ ngân hàng
Khái niệm :
Hiện nay chưa có định nghĩa thống nhất về dịch vụ. Tính đa dạng, phức tapk, vô
hình của các loại hình dịch vụ làm cho việc thống nhất khái niệm dịch vụ trở nên
khó khăn. Không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới, mỗi quốc gia đều có những
cách hiểu về dịch vụ khác nhau, chính vì vậy trong hiệp định về thương mại dịch
vụ ( GATS) của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cũng không đưa ra khái
niêm về dịch vụ mà thay vào đó là sự liệt kê dịch vụ thành 12 ngành lớn gồm 155
phân ngành. Còn trong từ điển bách khoa Việt Nam giải thích : dịch vụ là hoạt
động phục vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt.
Trên thế giới, vấn đề dịch vụ ngân hàng được hiểu theo nghĩa rộng, tức là toàn bộ
Đặc điểm:
Giống như các loại hình dịch vụ khác, dịch vụ ngân hàng cũng mang những đặc trưng
cơ bản sau
•
Tính vô hình
Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt sản phẩm dịch vụ ngân hàng với các sản
phẩm của các ngành sản xuất khác. Cũng giống như các dịch vụ khác, dịch vụ
ngân hàng cũng không có hình thái vật chất cụ thể. Khách hàng tiếp nhận và tiêu
dùng dịch vụ ngân hàng thông qua hoạt động giao tiếp, tiếp nhận thông tin và kết
quả là nhu cầu được đáp ứng. Cũng có một đặc điểm đặc biệt là khách hàng chỉ có
thể đánh giá được chất lượng dịch vụ sau khi đã mua và sử dụng chúng. Dịch vụ
ngân hàng cũng có điểm khác hàng hóa vật chất ở chỗ không có sản phẩm dở
•
dang, không lưu trữ được.
Tính đồng thời
Dịch vụ ngân hàng có đặc điểm này là do việc cung ứng và tiêu dùng dịch vụ luôn
xảy ra đồng thời, không tách rời nhau. Dịch vụ ngân hàng chỉ được cung ứng khi
khách hàng có nhu cầu sử dụng đáo ứng một số điều kiện nhất định của nhà cung
cấp là ngân hàng. Điều này sẽ ảnh hưởng tới việc xác định giá cả dịch vụ nhằm
đảm bảo lợi ích của cả hai bên. Các ngân hàng đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu
của khách hàng thì sẽ càng thu được khoảng cách giữa việc cung ứng và tiêu dùng
dịch vụ ngân hàng. Kết quả là ngân hàng sẽ ngày càng có nhiều khách hàng hơn
•
Bảo quản vật có giá
Tài trợ các hoạt động của
Chính phủ
Cung cấp dịch vụ ủy thác
Dịch vụ ngân hàng mới phát triển gần đây
Cho vay tiêu dùng
Tư vấn tài chính
Quản lý tiền
Dịch vụ cho thuê thiết bị
Cho vay tài trợ dự án
Bán các dịch vụ bảo hiểm
Cung cấp kế hoạch hưu trí
sản xuất kinh doanh hoặc thực hiện các dự án lớn, phương án sản xuất kinh doanh.
• Theo đó, dịch vụ cho vay đối với DNNVV là hình thức cho vay mà theo đó
NHTM cho DNNVV sử dụng một khoản tiền để dùng vào mục đích và thời gian nhất
định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi
1.1.2.3. Các hình thức cho vay đối với DNNVV
• Dịch vụ cho vay là một trong những dịch vụ kinh doanh của yếu, mang lại phần
thu nhập lớn cho ngân hàng. Dịch vụ cho vay thực hiện tốt thì ngân hàng sẽ vững
mạnh và phát triển, ngược lại thì ngân hàng sẽ đi đến chỗ phá sản. Cùng với sự
phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế với nhiều loại hình kinh tế đa dạng và phức tạp
thì dịch vụ cho vay cũng ngày càng phát triển, phong phú đa dạng về hình thức,
thể loại, phương thức. Các dịch vụ cho vay đối với DNNVV bao gồm
• Dịch vụ cho vay từng lần
• Dịch vụ cho vay từng lần là dịch vụ cho vay mà mỗi lần vay vốn người vay và tổ
chức tín dụng đều làm thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. Từng
khoản vay là nột hợp đồng tín dụng và gắn với một phương án sử dụng vốn cụ thể.
Dịch vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản, do vậy ngân hàng có thể kiểm soát
từng món vay tách biệt.
• Dịch vụ cho vay theo hạn mức tín dụng
• Đây là dịch vụ cho vay mà ngân hàng và khách hàng xác định và thỏa thuận một
hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định, thông thường không
quá 12 tháng. Khác với dịch cho vay từng lần, trong dịch vụ này ngân hàng sẽ
không định kỳ hạn nợ cho từng món tiền vay mà chỉ khống chế theo hạn mức tín
dụng có nghĩa là vào một thời điểm nào đó nếu dư nợ vay của khách hàng lên tới
mức tối đa cho phép thì khi đó ngân hàng sẽ không phát tiền vay cho khách hàng.
Ưu điểm của dịch vụ này là thủ tục cho vay đơn giản, khách hàng chủ động được
nguồn vốn vay. Tuy nhiên, do các lần vay không tách bạch thành các kỳ hạn nợ cụ
hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư
phục vụ đời sống. Để tiến hành cho vay, ngân hàng sẽ căn cứ vào hồ sơ vay vốn để
tiến hành thẩm định dự án đầu tư, nếu chấp thuận cho vay ngân hàng sẽ ký hợp
đồng tín dụng. Không chấp thuận cho vay ngân hàng sẽ có giấy gửi tới khách hàng
nêu rõ lý do không cho vay.
•
Dịch vụ cho vay trả góp
•
Đây là dịch vụ cho vay nhằm giúp người vay có điều kiện để mua sắm máy
móc thiết bị. Theo đó ngân hàng và khách hàng sẽ xác định và thỏa thuận số tiền
lãi vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong
thời hạn cho vay. Phương thức cho vay này thường áp dụng đối với người vay có
phương án trả nợ gốc và lãi vay khả thi bằng các khoản thu nhập chắc chắn, ổn
định.
•
Dịch vụ cho vay hợp vốn
•
Dịch vụ cho vay hợp vốn là dịch vụ trong đó một nhóm các ngân hàng cùng
vay đối với một dự án hoặc phương án vay vốn của khách hàng. Trong cho vay
hợp vốn, một ngân hàng là đầu mối dàn xếp, phối hợp với các ngân hàng khác.
Việc cho vay được thực hiện theo chế độ đồng tài trợ và quy chế tín dụng của các
Trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp luôn cần phải cải
tiến kỹ thuật thay đổi mẫu mã mặt hàng, đổi mới công nghệ máy móc thiết bị để
tồn tại đứng vững và phát triển trong cạnh tranh. Trên thực tế không một doanh
nghiệp nào có thể đảm bảo đủ 100% vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh. Vốn
vay của ngân hàng đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ
bản, mua sắm máy móc thiết bị cải tiến phương thức kinh doanh. Từ đó góp phần
thúc đẩy tạo điều kiện cho quá trình phát triển sản xuất kinh doanh đựơc liên tục.
•
Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của DNNVV
•
Khi sử dụng vốn vay, các doanh nghiệp phải tôn trọng hợp đồng tín dụng
phải đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn và phải tôn trọng các điều khoản
của hợp đồng cho dù doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hay không. Do đó đòi hỏi
các doanh nghiệp muốn có vốn vay của ngân hàng phải có phương án sản xuất
khả thi. Không chỉ thu hồi đủ vốn mà các doanh nghiệp còn phải tìm cách sử
dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh chóng vòng quay vốn, đảm bảo tỷ suất lợi
nhuận phải lớn hơn lãi suất ngân hàng thì mới trả được nợ và kinh doanh có lãi.
Trong quá trình cho vay, ngân hàng thực hiện kiểm soát trước, trong và sau khi
giải ngân buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả.
•
Góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho DNNVV
•
Trong nền kinh tế thị trường hiếm doanh nghiệp nào dùng vốn tự có để sản
• Dịch vụ cho vay là một trong những dịch vụ mang lại doanh thu chủ yếu cho các
NHTM, do đó, chất lượng dịch vụ cho vay luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu
•
ở các ngân hàng.
Chất lượng dịch vụ cho vay của DNNVV được hiểu là sự đáp ứng về số lượng và
chất lượng đối với nhu cầu vay vốn của khách hàng và đảm bảo các yếu tố an toàn
và lợi nhuận đối với ngân hàng. Như vậy, để hiểu dược khái niệm chất lượng dịch
vụ cho vay, chúng ta cần tiếp cận trên 3 giác độ, đó là : ngân hàng và khách hàng
•
•
Dưới mỗi góc độ, chất lượng cho vay lại được thể hiện một cách khác nhau.
Đối với ngân hàng
Chất lượng dịch vụ cho vay được thể hiện qua mức độ an toàn và sinh lời của các
khoản cho vay cấp cho khách hàng. Chất lượng dịch vụ cho vay tốt được phản ánh
thông qua độ an toàn cao, ngân hàng không đứng trước nguy cơ bị mất vốn, bên
cạnh đó, khách hàng còn thanh toán lãi cho ngân hàng, tức là đảm bảo tính sinh
lời, giúp ngân hàng có thể ổn định và phát triển. Chất lượng dịch vụ cho vay tốt
được phản ánh thông qua tốc độ tăng trưởng cho vay cao, tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn
thấp và nằm trong phạm vi quy định, cơ cấu cho vay hợp lý, lợi nhuận từ hoạt
động cho vay cao.
• Đối với khách hàng
• Chất lượng dịch vụ cho vay được thể hiện ở sự đáp ứng nhu cầu vốn của khách
hàng với một lãi suất hợp lí, thủ tục đơn giản, nhanh gọn, thuận tiện, hình thức và
thời hạn cho vay hợp lí, phù hợp với tình hình, tiến độ sản xuất kinh doanh. Trong
thấy được sự cần thiết của nâng cao chất lượng dịch cho vay ta hãy xem xét ý
nghĩa và vai trò của việc nâng cao chất lượng cho vay đối với DNNVV
•
Đối với DNNVV
• Đối với doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng, chất lượng dịch vụ cho
vay cao tức là khoản vay chính đáng của doanh nghiệp được đáp ứng một cách
kịp thời, nhanh chóng, quá trình giải ngân phù hợp với yêu cầu kinh doanh, chi
phí vốn vay thấp, thủ tục nhanh gọn và hiệu quả sử dụng vốn cao.
• Khi nhận được vốn tài trợ phù hợp của ngân hàng, DNNVV có thể đầu tư theo
mục đích vay vốn nhằm cải thiện công nghệ, mở rộng hoạt động sản xuất kinh
doanh, nâng cao năng suất…từ đó đem lại thu nhập cao hơn cho doanh nghiệp.
Do đó, các DNNVV luôn muốn chọn cho doanh nghiệp một ngân hàng có chất
lượng cho vay tốt.
• Đối với NHTM
• Dịch vụ cho vay là một trong những hoạt động sinh lời quan trọng nhất của các
NHTM. Khi ngân hàng tìm cách nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay tức là ngân
hàng tìm cách mở rộng dịch vụ cho vay một cách đảm bảo, để có thể vừa mở rộng
vừa thu hồi lãi và gốc đúng hạn. Nghĩa là nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay sẽ
làm tăng doanh thu cho ngân hàng. Nhờ đó, ngân hàng có thể tiếp tục mở rộng tín
dụng cũng như cá dịch vụ khác.
• Nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay cũng giúp tăng tuy tín của ngân hàng, từ đó
thu hút được khách hàng mới, tăng cường khả năng cạnh tranh của ngân hàng. Đó
cũng là mục tiêu phát triển bền vững của các NHTM, cạnh tranh bằng cách nâng
cao chất lượng dịch vụ. Do đó, nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay là xu thế phát
•
•
triển tất yếu của các NHTM.
•
Dịch vụ cho vay có chất lượng phải tuân thủ các quy định pháp luật của
Nhà nước: Luật các tổ chức tín dụng, các quy chế cho vay, các văn bản của Ngân
hàng Nhà nước và các văn bản có liên quan.
•
Khi thực hiện dich vụ cho vay, phải luôn đảm bảo tuân thủ các quy trình
cho vay, nguyên tắc cho vay vì nó giúp phòng ngừa rủi ro, đánh giá chất lượng
cho vay. Dịch vụ cho vay của NHTM dựa trên một số nguyên tắc nhất định nhằm
đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời. Các nguyên tắc này được cụ thể hóa
trong quy định của Ngân hàng Nhà nước và các NHTM. Có thể kể đến ba nguyên
tắc cơ bản
Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn và lãi với thời gian xác định đã thỏa
thuận trong hợp đồng cho vay.
Khách hàng phải cam kết sử dụng vốn vay đúng mục địch đã thỏa thuận
trong hợp đồng tín dụng
Ngân hàng chỉ được tài trợ dựa trên phương án có hiệu quả.
Đóng góp của dịch vụ cho vay của ngân hàng vào sự phát triển kinh tế - xã hội
• Thông qua cho vay đối với DNNVV thì các ngân hàng đã góp phần vào sự phát
triển chung của kinh tế - xã hội, tăng việc làm, thúc đẩy sản xuất… Tuy nhiên,
đây là một chi tiêu khó có thể đánh giá chính xác.
1.3.2. Nhóm chỉ tiêu định lượng
•
Vì các chỉ tiêu định tính rất khó xác định hiệu quả thực hiện, nên người ta
thường sử dụng các chỉ tiêu định tính làm các chỉ tiêu chủ yếu để đánh giá chất
lượng của dịch vụ cho vay. Đây là các chỉ tiêu rất quan trọng với các NHTM,
thông qua các chỉ tiêu này, ngân hàng có thể xác định một cách tương đối chính
xác về chất lượng dịch vụ cho vay đối với DNNVV của ngân hàng. Do đó, việc
tính toán cần đảm bảo sự chính xác và đầy đủ
Nhóm chỉ tiêu phân tích quy mô, cơ cấu khoản vay DNNVV
1.3.2.1.
•
Quy mô dịch vụ cho vay DNNVV
Doanh số cho vay
•
Là chỉ tiêu cơ bản khi đánh giá một cách khái quát và có hệ thống đối với
những khoản vay tại một thời điểm. Khi xác định doanh số cho vay, chưa có sự
đánh giá cụ thể về chất lượng và phần ròng của những khoản vay trong một thời
cho vay của ngân hàng.
•
•
Tỷ trọng dư nợ DNNVV
•
•
Chỉ tiêu này cho thấy biến động tỷ trọng dư nợ cho vay DNNVV trong tổng
dư nợ cho vay của một ngân hàng qua các thời kỳ khác nhau, cho phép nghiên
cứu biến động quy mô, khối lượng cho vay DNNVV
•
Chỉ tiêu này cũng có thể dùng so sánh giữa các ngân hàng khác nhau để
thấy được thế mạnh của ngân hàng này so với thế mạnh của ngân hàng khác
trong dịch vụ cho vay DNNVV. Tuy nhiên, có thể coi đây như một chỉ tiêu định
lượng để có thể thấy rõ bản chất, vai trò của dịch vụ cho vay DNNVV trong một
ngân hàng.
1.3.2.2. Nhóm chỉ tiêu phân tích chất lượng dịch vụ cho vay DNNVV
Tỷ lệ nợ quá hạn
•
•
Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đến hạn thoả
nhiêu đồng không thể thu hồi được vốn.
•
Hệ số này ở mức 0% là tốt nhất, ở mức 1% là có vấn đề, ngân hàng cần chú trọng xem xét nguyên nhân để tìm biện
pháp khắc phục.
1.3.2.3. Chỉ tiêu lợi nhuận từ dịch vụ cho vay DNNVV
• Tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ cho vay đối với DNNVV
•
• Chỉ tiêu này cho phép thấy rõ hơn vị trí của dịch vụ cho vay DNNVV trong hoạt
động của ngân hàng. Thu từ dịch vụ cho vay DNNVVcó hiệu quả cao sẽ đóng góp lớn
vào thu nhập ngân hàng. Nếu dịch vụ cho vay DNNVV có hiệu quả không tốt thì thu
không được nợ gốc và lãi mà còn làm tăng chi phí của ngân hàng, nên sẽ kéo theo lợi
nhuận giảm tương ứng.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ cho vay DNNVV
1.4.1. Nhân tố chủ quan
Chính sách tín dụng của ngân hàng đối với DNNVV
•
C
hính sách tín dụng là một tập hợp các biện pháp mang tính đặc thù của mỗi
ngân hàng để định hướng cho hoạt động tín dụng.
•
Cần có một sự phối hợp chăt chẽ, ăn ý, uyển chuyển giữa các bộ phận từ đó
chất lượng dịch vụ cho vay mới có thể được nâng cao.
Chất lượng khâu thẩm định tín dụng của ngân hàng
•
Quá trình thẩm định tín dụng là quá trình ngân hàng phân tích đánh giá năng lực
khách hàng trên các phương diện năng lực tài chính của khách hàng, tính khả
thi của phương án kinh doanh, dự án đầu tư, quan hệ sở hữu, giá trị của tài sản
đảm bảo, khả năng chi trả nợ đầy đủ đúng hạn của khách hàng. Đây là khâu
quan trọng nhất trong quá trình xét duyệt, ra quyết định cung cấp dịch vụ cho
vay. Trong quá trình thẩm định, ngân hàng sẽ chọn lọc ra những cơ hội đầu tư
tốt, hiệu quả, đảm bảo tính sinh lời và an toàn cho ngân hàng. Nếu quá trình
thẩm định mắc phải những sai sót thì hậu quả xảy ra là khôn lường. Quá trình
thẩm định muốn có hiệu quả, nó lại phụ thuộc vào các nhân tố thông tin tín
dụng đầy đủ, chính xác, năng lực thẩm định, tư cách đạo đức của cán bộ tín
dụng, quy trình thẩm định được xây dựng khoa học, bao quát, xem xét đến mọi
khía cạnh của vấn đề. Kết thúc quá trình thẩm định, ngân hàng sẽ quyết định
mức cấp tín dụng, thời hạn, phương án trả nợ, lãi suất. Chất lượng thẩm định
ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. Chất lượng thẩm định tốt thì mới đảm bảo
chất lượng tín dụng và ngược lại.
Cơ sở vật chất, trình độ công nghệ kĩ thuật của ngân hàng
•
Đây là một nhân tố ảnh hưởng khá lớn đến chất lượng dịch vụ cho vay của ngân
hàng. Trong thời đại hiện nay, công nghệ đóng một vai trò quyết định. Cơ sở
vật chất khang trang hiện đại, công nghệ tiên tiến chính xác, gọn nhẹ không chỉ
tạo hình ảnh đẹp trong mắt khách hàng mà còn hỗ trợ rất lớn trong các khâu của
hoạt động tín dụng. Các giao dịch cũng như trao đổi, liên hệ thông tin giữa ngân
•
Cũng như rất nhiều những lĩnh vực khác, trong dịch vụ cho vay của ngân hàng,
con người là nhân tố đóng vai trò quan trọng nhất. Con người ở đây bao gồm
đội ngũ lãnh đạo ngân hàng và các cán bộ, nhân viên ngân hàng. Xét đến nhân
tố con người, chúng ta đề cập đến các khía cạnh trình độ, kinh nghiệm, năng
lực, nhận thức và tư cách đạo đức của đội ngũ lãnh đạo, nhân viên ngân hàng.
•
Đội ngũ lãnh đạo có năng lực, kinh nghiệm sẽ ra những quyết định chỉ đạo sáng
suốt, phù hợp với tình hình. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ tín dụng được trang bị
đầy đủ kiến thức, có năng lực tốt sẽ giúp cho quá trình thẩm định đạt kết quả tốt,
từ đó ra những quyết định đúng đắn trong việc cung cấp dịch vụ cho vay tới
khách hàng. Có nhiều trường hợp, ngân hàng phải chịu thiệt thòi, thua lỗ do khả
năng thẩm định dự án của cán bộ tín dụng có nhiều hạn chế. Tuy nhiên, kiến
thức, kinh nghiệm còn chưa đủ. Bên cạnh việc trang bị kiến thức, đào tạo năng
lực cho cán bộ, các ngân hàng không thể bỏ qua việc trau dồi tư cách đạo đức
cho đội ngũ lãnh đạo cũng như đội ngũ cán bộ nhân viên ngân hàng. Thực tế cho
thấy, có rất nhiều trường hợp, khách hàng câu kết với cán bộ tín dụng để lừa đảo
ngân hàng. Chính vì vậy, vấn đề tư cách đạo đức cần được xem trọng, thậm chí
hơn cả năng lực, kinh nghiệm. Một cán bộ tín dụng kém về năng lực kinh
nghiệm có thể trau dồi, học hỏi theo thời gian, nhưng một cán bộ không có tư
cách đạo đức có thể là một mối nguy hiểm thường trực đối với ngân hàng.
1.4.2. Các nhân tố thuộc về khách hàng
•
B
ên cạnh các nhân tố chủ quan, nhân tố khách quan cũng có tầm ảnh hưởng lớn
đến chất lượng dịch vụ cho vay đối với DNNVV. Chất lượng dịch vụ cho vay