Nội dung tiểu luận
Lời mở đầu
Phần thứ nhất: Mô tả tình huống
Phần thứ hai: Xác định mục tiêu xử lý tình huống
Phần thứ ba: Phân tích nguyên nhân và hậu quả
Phần thứ t: Xây dựng các phơng án và lựa chọn phơng án
Phần thứ năm: Kế hoạch tổ chức thực hiện phơng án
Phần thứ sáu: Kiến nghị và kết luận
1
Lời mở đầu
Vấn đề dân tộc và tôn giáo là một vấn đề có ý nghĩa chiến lợc của cách
mạng xã hội chủ nghĩa. Dân tộc, tôn giáo vừa là sản phẩm của quá trình phát
triển lâu dài của lịch sử, đợc hình thành trên một phạm vi lãnh thổ nhất định,
có bản sắc văn hoá đặc trng. Giải quyết tốt vấn đề dân tộc và tôn giáo thực
chất là xác lập những quan hệ công bằng, bình đẳng trong cộng đồng các dân
tộc cùng chung sống trên một phạm vi địa phơng hay một quốc gia.
Huyện Krông pa có hơn 10 dân tộc anh em từ khắp mọi miền đất nớc về
đây. Sinh sống từ lâu đời, trong đó dân tộc Gia Rai chiếm 68% dân số của
Huyện. Trong cách mạng giải phóng dân tộc, các dân tộc anh em đã cùng
nhau chung lng đấu cật, sống chết có nhau, thủy chung một lòng, trung thành
với cách mạng với Đảng, Bác Hồ làm cách mạng giải phóng dân tộc, giải
phóng quê hơng Krông Pa vào ngày 17/3/1975.
Sau ngày giải phóng (17/3/1975) nhân dân các dân tộc của Huyện cùng
với nhân dân cả nớc dới sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là của Đảng bộ
huyện bắt tay vào công cuộc kiến thiết quê hơng, khắc phục những vết thơng
chiến tranh do đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai để lại. Từ chỗ không đờng, không
chợ, không trờng học, không bệnh viện. Đến nay cơ sở hạ tầng đợc xây dựng,
dân tộc thiểu số ở bên trong đã tổ chức tập hợp, lôi kéo và ép buộc hàng trăm
ngời dân tộc thiểu số trong đó chủ yếu là thanh niên, phụ nữ kéo về trụ sở xã
E biểu tình rải truyền đơn, yêu sách, gây bạo loạn, đòi lấy lại đất đai một cách
vô căn cứ. Hiện tợng vụ việc tại xã E là rất nghiêm trọng, không phải đơn
thuần là vụ việc khiếu kiện mà tính chất gây rối bạo loạn xã hội, phục vụ cho
mục đích của bọn xấu.
Nh vậy, trong quản lý Nhà nớc nói chung và giải quyết những vấn đề xử
lý tình huống nảy sinh về lĩnh vực dân tộc và tôn giáo là một nhiệm vụ tơng
đối phức tạp, nhạy cảm và không ít khó khăn đòi hỏi chính quyền các cấp,
nhất là chính quyền cơ sở xã, thị trấn nơi có nhiều dân tộc sinh sống cần phải
có kế hoạch và giải pháp đúng đắn để giải quyết kịp thời, thoả đáng vừa có
tính chất cấp bách trớc mắt, vừa mang tính chất lâu dài trong sự nghiệp xây
dựng và giữ vững ổn định chính trị ở địa phơng.
Qua vụ việc phát sinh trên, có thể rút ra những nguyên nhân chủ yếu
sau:
- Về chủ quan: Trớc hết là những khuyết điểm của các cấp ủy Đảng,
chính quyền và các tổ chức đoàn thể ở địa phơng cả một thời gian dài chậm đợc nhận thức và sửa chữa những khuyết điểm nh: Cán bộ còn xa dân, cha thực
sự gần dân, thậm chí còn có hiện tợng xa dân, quan liêu, không nắm vững đợc
tình hình trong dân, tham nhũng gây mất lòng tin trong đồng bào các dân tộc
trên địa bàn. Việc thực hiện các chính sách về dân tộc, tôn giáo thực hiện cha
đến nơi đến chốn cả trong nhận thức và thực tiễn tổ chức thực hiện, dẫn đến
cha giải quyết thoả đáng một số yêu cầu chính đáng của nhân dân, cá biệt có
trờng hợp nhân dân đề nghị nhng cha đợc giải quyết hoặc giải quyết nhng còn
chậm trễ dẫn đến tình trạng đơn th, khiếu kiện kéo dài.
- Về khách quan: Các thế lực thù địch và bọn phản động trong và ngoài
nớc lợi dụng, kích động, lôi kéo một số ngời nhẹ dạ, cả tin và thiếu hiểu biết,
làm việc xấu gây ảnh hởng đến an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội ở buôn,
thôn và làm rạn nứt mối đoàn kết lâu đời, thủy chung giữa các dân tộc trên địa
bàn Huyện.
3
126.000ha dân số 68000 ngời, trong đó 68% là đồng bào dân tộc Gia Rai chia
thành 14 đơn vị hành chính gồm 13 xã 1 thị trấn trong đó 8 xã đặc biệt khó
khăn thuộc chơng trình 135, với 126 thôn buôn tổ dân phố (Kinh 46 thôn,
buôn khối phố, đồng bào dân tộc thiểu số 80 buôn) Huyện có 16% dân số có
tôn giáo bao gồm: tin lành Việt Nam (MN) 5.592 tín đồ; Thiên chúa giáo
3.665 tín đồ; phật giáo 1.229 phật tử.
Sau 31 năm ngày giải phóng (17/3/1975) nhân dân các dân tộc Krông
Pa đoàn kết, chung sức chung lòng bắt tay vào công cuộc kiến thiết quê hơng.
Khắc phục những vết thơng chiến tranh do Mỹ và bè lũ tay sai để lại. Dới sự
lãnh đạo của Đảng bộ huyện, điều hành quản lý của chính quyền Huyện, xã,
thị trấn, sự giúp đỡ tạo điều kiện của cấp trên kinh tế - xã hội phát triển, an
ninh chính trị đợc củng cố, trật tự xã hội đợc giữ vững. Hệ thống chính trị ở cơ
sở đợc củng cố vững chắc, nhân dân các dân tộc phấn khởi, tin tởng yên tâm
sản xuất, nhịp độ tăng trởng kinh tế năm sau cao hơn năm trớc, đời sống nhân
dân các dân tộc trên địa bàn Huyện đợc cải thiện. Tăng trởng kinh tế bình
quân hàng năm của 5 năm (2001 - 2005) đạt 14,6% riêng năm 2005 đạt 18%.
Bên cạnh những thành tựu nêu trên, những năm qua vẫn còn xảy ra
những khuyết điểm, yếu kém kéo dài, chậm đợc khắc phục đó là: Tình trạng
tham nhũng ở một số cán bộ chủ chốt có chức, có quyền trong đó có cả cán
bộ ở một số xã, lấn chiếm mua bán đất đai, chặt phá rừng. Nền kinh tế tăng trởng cha vững chắc, còn phụ thuộc phần lớn vào điều kiện tự nhiên và sự đầu t,
hỗ trợ của nhà nớc và của tỉnh. Các vấn đề văn hoá - xã hội chuyển biến chậm,
cha đáp ứng đợc yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Trình độ dân trí còn ở
mức thấp, đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân nhất là vùng sâu, vùng xa
còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Hệ thống chính trị chất lợng cha cao, công tác
lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của cấp uỷ đảng, chính quyền từ Huyện đến các
xã, thị trấn nhiều lúc, nhiều nơi còn thiếu các biện pháp tích cực. Điều phải
quan tâm suy nghĩ đó là đời sống nhân dân lao động nhất là đồng bào dân tộc
thiểu số vùng căn cứ địa cách mạng trong những năm kháng chiến đã một
lòng một dạ trung thành với cách mạng cùng "chia lửa" vì sự nghiệp giải
5
tỉnh, một số manh động tràn vào trụ sở tỉnh uỷ, gây xô xát và chống lại lực lợng cảnh sát bảo vệ làm cho một số đồng chí bị thơng nặng. Riêng Huyện
Krông Pa đã có 96 ngời dân tộc thiểu số tham gia bạo loạn, biểu tình ở PleiKu
(ESai 15 ngời, Ccăm 30 ngời, Uar 20, Exiêm 31ngời). Bọn cầm đầu đa ra các
yêu sách mang tính chính trị đòi ta phải công bố cho dân tộc thiểu số đợc
thành lập "Nhà nớc Đêga", "Ngời Kinh về với ngời Kinh, ngời dân tộc tự quản
lấy ngời dân tộc" Nhà nớc phải thực hiện chính sách u đãi cho đồng bào dân
tộc trong y tế, giáo dục... Cũng phải nói ngay rằng bọn phản động, ngoan cố
không nhiều nhng bằng thủ đoạn vừa lừa mị, vừa thúc ép khống chế chúng đã
huy động đợc một lực lợng đông đảo quần chúng đi tham gia ở một số nơi
trong tỉnh vào vụ biểu tình ngày 2/2/2001.
6
Đây là một vụ việc rất nghiêm trọng, theo thông báo số 349 -TB/TW
ngày 5/2/2001 đã chỉ rõ "Không đơn thuần về vấn đề đi khiếu kiện mà đã
mang tính chất bạo loạn chính trị".
Tiếp đến sự kiện sáng ngày 10/4/2004 là những ví dụ điển hình của sự
yếu kém bất cập của hệ thống chính trị ở xã, thị trấn không nắm đợc dân,
không giải quyết kịp thời những yêu cầu chính đáng của nhân dân đã dẫn tới
việc kẻ địch lợi dụng chỗ yếu, lôi kéo kích động đồng bào dân tộc thiểu số đi
biểu tình. Riêng sự kiện sáng ngày 10/4/2004 tại xã E Huyện Krôngpa có hơn
300 ngời dân tộc thiểu số của xã E chủ yếu là phụ nữ, thanh niên từ các buôn
làng của xã kéo về trụ sở xã biểu tình, rải truyền đơn, yêu sách, gây bạo loạn
"đòi lấy lại đất đai một cách vô căn cứ, đòi tự do tôn giáo, dân chủ, đòi thành
lập nhà nớc Đêga"... Một số đối tợng quá khích đã dùng đá, gậy tấn công lực
lợng công an viên, dân quân làm 5 đồng chí bị thơng, làm thiệt hại một số
trang thiết bị của xã.
Hiện nay, tình hình an ninh chính trị và mọi mặt đời sống xã hội ở các
xã của Huyện có ngời tham gia biểu tình tại PleiKu vào ngày 2/2/2001, đặc
biệt là xã E đã đi vào ổn định. Hệ thống chính trị ở cơ sở đợc củng cố, kiện
huấn luyện chuẩn bị lực lợng cho kế hoạch chống phá ta lâu dài, lợi dụng tố
cáo ta vi phạm nhân quyền, kỳ thị, chủng tộc, đàn áp chính trị, tôn giáo, lên án
ta trên trờng quốc tế.
4. Điều rất đáng phải quan tâm là gần đây, mối liên hệ giữa tổ chức
phản động "Nhà nớc Đêga tự trị" trong nớc với bọn phản động bên ngoài do
KSor Kơk cầm đầu đợc tổ chức khá chặt chẽ, bên cạnh đó có sự chỉ đạo và
phối hợp với các thế lực phản động khác, chủ yếu là Mỹ.
Trớc tình hình trên, đòi hỏi chính quyền các cấp đặc biệt là chính quyền
cơ sở cần khẩn trơng triển khai một số chủ trơng, giải pháp chủ động, tích cực
phòng chống âm mu thủ đoạn "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các
thế lực phản động; chú trọng đến việc vừa đảm bảo ổn định chính trị - xã hội
phát triển kinh tế, chăm lo đời sống cho nhân dân, đồng thời tiếp tục triển khai
các biện pháp tích cực thực hiện nghị quyết của Bộ chính trị về "chiến lợc an
ninh quốc gia" và thực hiện chỉ thị số 01 của Ban thờng vụ Tỉnh ủy về phòng
và chống bạo loạn. Tiến hành phân tích những nội dung trên là cơ sở xác định
mâu thuẫn của những tình huống xảy ra: mâu thuẫn địch ta (đối kháng) hay
mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân (không đối kháng), mức độ của từng mâu
thuẫn và sự đan xen những mâu thuẫn ấy. Mặt khác cần chủ động xây dựng
các giải pháp, đề ra các phơng thức hoạt động quản lý của chính quyền cơ sở
nhằm mục đích:
- Thể hiện cho đợc chính quyền nhà nớc thực sự là của dân, do dân và vì
dân; giải quyết kịp thời thoả đáng các lợi ích hợp pháp của nhân dân, tạo điều
kiện thuận lợi về môi trờng xã hội để các thành viên trong cộng đồng phát
triển kinh tế cải thiện đời sống và tự do trong khuôn khổ của pháp luật.
- Đấu tranh, chuyên chính với các đối tợng tiêu cực, phản động đồng
thời tổ chức giáo dục, tuyên truyền cho mọi ngời dân hiểu biết về chính sách
của Đảng, pháp luật của nhà nớc để họ cùng với chính quyền đấu tranh với các
luận điệu xuyên tạc, lừa mị của các thế lực thù địch.
8
3. Tạo những tiền đề, nhân tố để điểm nóng không tái phát, xử lý giải
quyết những vấn đề mâu thuẫn trớc mắt nhng cũng đồng thời có những giải
pháp tìm ra căn nguyên sinh ra điểm nóng.
4. Căn cứ vào các nguyên nhân về khách quan và chủ quan nảy sinh sự
việc nêu trên, chính quyền cơ sở (chủ thể quản lý) cần phải lựa chọn phơng án
để giải quyết sao cho vừa dập tắt đợc (điểm nóng) xảy ra nhng cũng đồng thời
9
giữ vững đợc sự ổn định lâu dài, hạn chế đến mức thấp nhất xảy ra những vụ
việc tơng tự trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nớc ở xã, thị trấn.
10
Phần thứ ba
Phân tích nguyên nhân hậu quả
1. Nguyên nhân
1.1. Về nguyên nhân khách quan: Vụ việc ngày 2/2/2001 một số ngời
ở Huyện kéo về PleiKu biểu tình và vụ việc sáng ngày 10/4/2004 tại xã E đã
phản ánh rõ âm mu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc
và tôn giáo để thực hiện âm mu "Diễn biến hoà bình", chia rẽ khối đại đoàn
kết dân tộc, móc nối lôi kéo biểu tình, gây bạo loạn tạo sự mất ổn định về
chính trị xã hội, làm ảnh hởng đến sự phát triển sản xuất và ổn định đời sống
của nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh Gia Lai và Huyện Krông Pa nói
riêng.
Mặt trái của cơ chế thị trờng chi phối đời sống xã hội, sự phân hóa giàu
nghèo giữa thị trấn với xã, giữa các khu dân c là đồng bào Kinh với đồng bào
dân tộc thiểu số ngày càng có khoảng cách giãn ra. Mặc dù Đảng và Nhà nớc
chính trị và kinh nghiệm thực tiễn nhng thiếu năng động nên không đáp ứng
đợc với yêu cầu đổi mới. ở các xã đa số là ngời dân tộc thiểu số thì cán bộ lại
ít đợc đào tạo do đó nhận thức về chính trị, xã hội về ý thức pháp quyền còn
hạn chế nên việc tổ chức quản lý Nhà nớc ở cơ sở hiệu quả cha cao.
Một số cán bộ chính quyền vi phạm chủ trơng, đờng lối, chính sách của
Đảng, pháp luật nhà nớc, quan liêu, tự mãn, t tởng nặng thành tích, không nắm
dân, không nghe dân, mất dân chủ, vô trách nhiệm kéo dài nhng chậm đợc
ngăn chặn và xử lý. Cán bộ ở một số xã trình độ năng lực còn hạn chế nhất là
thôn, buôn trình độ học vấn thấp, đôi khi còn nảy sinh t tởng tự ty, ỷ lại, thiếu
nhiệt tình và sáng tạo trong vận động nhân dân để kẻ xấu lôi kéo những ngời
nhẹ dạ cả tin tham gia vào các hoạt động gây rối trật tự xã hội.
Việc thực hiện các chính sách đối với những ngời có công với nớc,
chính sách đối với đồng bào miền núi, dân tộc thiểu số, việc triển khai thực
hiện các chơng trình quốc gia, chơng trình xoá đói giảm nghèo, chơng trình
132, chơng trình 134, chơng trình 135... bớc đầu đã mang lại hiệu qua nhng
trong quá trình thực thi vẫn còn nhiều thiếu xót, nhng lại chậm đợc phát hiện
và sửa chữa. Một số xã cha thật sự quan tâm đúng mức thiếu sự huy động
nguồn lực vật chất và tinh thần của cả cộng đồng do đó kết quả còn thấp.
Một số xã cha thực hiện tốt chủ trơng của Đảng về phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc, sinh hoạt văn hóa cộng đồng làng xã ở vùng đồng bào dân tộc
thiểu số quá nghèo nàn đã tạo thành "khoảng trống" trong đời sống tinh thần,
là điều kiện thuận lợi để kẻ địch lôi kéo đồng bào dân tộc thiểu số mà nhất là
thanh niên vào "tin lành Đêga".
Việc nâng cao dân trí và đào tạo cán bộ cũng còn những mặt yếu kém,
khuyết điểm. Việc dạy và học chữ dân tộc ở bậc học tiểu học, việc tuyển con
em ngời dân tộc thiểu số vào các trờng, việc tiếp nhận, bố trí, sử dụng các em
là ngời dân tộc thiểu số tốt nghiệp ra trờng, vẫn còn nhiều vỡng mắc, có trờng
hợp đã nảy sinh bất mãn.
Thực hiện qui chế dân chủ ở buôn làng cha tốt, những mâu thuẫn, tranh
chấp giữa đồng bào dân tộc thiểu số với một số nông lâm trờng, giữa đồng bào
vũ trang để kích động chia rẽ Kinh - Thợng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn
dân.
Tình hình an ninh chính trị sau khi xảy ra vụ việc cho đến nay thờng
xuyên nóng lên. Một số ngời dân tộc thiểu số vẫn còn t tởng vợt biên sang
Campuchia, an ninh chính trị và trật tự xã hội ở thôn, buôn cha thật sự ổn
định.
2.2. Hậu quả về khối đại đoàn kết toàn dân.
Mối đoàn kết có từ lâu đời giữa các dân tộc anh em trong cộng đồng
dân c ở những buôn, xã xảy ra vụ việc bị rạn nứt nhất là mối quan hệ Kinh thợng, phải có một thời gian lâu dài mới hàn gắn đợc. Mặc dù đã có nhiều
hình thức hoạt động củng cố khối đại đoàn kết dân tộc trên địa bàn, tuy vậy
13
mặc cảm phát sinh từ các sự kiện ngày 02/2/2001 và ngày 10/4/2004 vẫn cha
thể xoá bỏ hoàn toàn.
Đời sống xã hội trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số bị xáo trộn, thiếu
sự ổn định, trong tâm trạng của nhân dân đã có biểu hiện lo âu, thiếu an tâm
trong sản xuất và đời sống.
Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục chống phá ta về nhiều mặt chúng phục
hồi các tổ chức phản động cũ, nhen nhóm tổ chức mới, nuôi dỡng chỉ đạo bọn
Fulrô lu vong, ngụy quân, ngụy quyền cũ để tạo dựng (ngọn cờ). ở các buôn
làng đồng bào dân tộc thiểu số bọn phản động đội lốt tôn giáo ngấm ngầm
hoạt động, đe doạ, o ép, khống chế quần chúng tích cực, tạo sự hoang mang
trong nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân.
2.3. Hậu quả về kinh tế - xã hội
Bộ máy chính quyền xã, thị trấn và Huyện phải đầu t vào công tác an
ninh trật tự tốn kém nhiều thời gian công sức và kinh phí, ảnh hởng đến các
lĩnh vực công tác khác. Tốc độ phát triển kinh tế ở một số xã an ninh không
ổn định chậm lại, có một số lĩnh vực bị đình trệ do không thu hút đợc các nhà
nh: chơng trình 132 (đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số) chơng trình
134 (về đất ở, nhà dột nát), kế hoạch phát triển kinh tế các làng đồng bào dân
tộc thiểu số, đầu t cơ sở hạ tầng nh đờng nông thôn, điện trờng học, chơng
trình xoá đói giảm nghèo, khuyến nông, khuyến lâm.
Phơng án 2: Dùng lực lợng vũ trang tổ chức trấn áp
Triển khai công bố áp dụng phơng án A2 về phòng chống bạo loạn của
xã E đã xây dựng.
- Bố trí lực lợng dân quân cơ động của xã để cô lập đám đông
- Nhờ chi viện của lực lợng vũ trang cấp trên và các xã lân cận.
- Sử dụng các phơng tiện hỗ trợ nh lới sắt, vật cản đờng, xe chuyên
dùng để chốt chặn và trấn áp kịp thời các đối tợng kích động, hung hãn.
15
- Bắt tạm giam để đấu tranh xử lý các đối tợng cầm đầu theo quy định
của pháp luật.
- Khi áp dụng biện pháp cỡng chế phải xác định rõ ràng, chính xác đối
tợng áp dụng, tránh nhầm ngời, nhầm việc và phải đúng trình tự của pháp luật.
Phơng án 3: Kết hợp giáo dục thuyết phục đám đông và chuyên
chính, trấn áp đối tợng cầm đầu.
- Thực hiện đồng bộ biện pháp giáo dục thuyết phục và tổ chức lực lợng
trấn áp đối tợng cầm đầu.
- Đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc của bọn xấu và các thế lực
thù địch. Giải quyết công việc một cách rõ ràng, có tình có lý đúng với chính
sách của Đảng và quy định của pháp luật giữ vững đợc kỷ cơng phép nớc.
Đồng thời trấn áp những phần tử đứng đầu, quá khích, thể hiện vai trò chuyên
chính của chính quyền nhà nớc. Đây là biện pháp có hiệu quả nhất, đảm bảo
giải quyết đợc mục tiêu đã lựa chọn là giải tán đợc đám đông, vận động bà
con về nơi c trú ổn định đời sống.
chính sách đoàn kết dân tộc, tự do tôn giáo, sự quan tầm của Đảng và Nhà nớc
ta đối với đồng bào miền núi nói chung, Tây Nguyên, Krông Pa nói riêng.
17
Phần thứ năm
Kế hoạch tổ chức thực hiện phơng án đợc lựa chọn
Phơng án 1: Tổ chức giáo dục thuyết phục.
* Ưu điểm: - Giáo dục thuyết phục là biện pháp hàng đầu rất cần thiết
trong tổ chức quản lý Nhà nớc ở địa phơng.
- Nó phát huy đợc sức mạnh của quần chúng nhân dân tự giác tham gia
vạch các thế lực thù địch thực hiện các nhiệm vụ giữ vững an ninh chính trị
phát triển kinh tế - xã hội.
- Biện pháp giáo dục thuyết phục thực hiện tốt sẽ góp phần quan trọng
vào việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở có hiệu quả, phát huy đợc sức
mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân.
* Hạn chế: Tuy vậy biện pháp giáo dục thuyết phục cũng có những hạn
chế, nhợc điểm. Nếu tình huống nào cũng áp dụng thì dẫn đến nhu nhợc, nhất
là tình huống có yếu tố "đối kháng" với quyền và lợi ích của Nhà nớc, của tập
thể và nhân dân.
Phơng án 2: Dùng lực lợng vũ trang tổ chức trấn áp.
* Ưu điểm: - Bạo lực cách mạng là công cụ chuyên chính của các cấp
chính quyền đợc sử dụng khi xét thấy cần thiết. Thờng thì trong hoạt động
quản lý nhà nớc đợc sử dụng đồng thời 2 biện pháp. Giáo dục thuyết phục và
biện pháp cỡng chế.
- Khi áp dụng biện pháp cỡng chế phải xác định rõ ràng đối tợng áp
dụng, tránh nhầm ngời, nhầm việc.
- Trong tình huống xảy ra bạo loạn "đối tợng cầm đầu" sau khi đã
Nh tình huống đã nêu xử lý tình huống biểu tình, bạo loạn của đồng bào
dân tộc thiểu số ngày 2/02/2001 và sáng ngày 10/4/2004 tại xã E trong quản
lý Nhà nớc của chính quyền cơ sở. Tôi chọn phơng án 3 để triển khai thực
hiện vì phơng án này thực thi có hiệu quả, đạt đợc mục tiêu trớc mắt cũng nh
về lâu dài nhằm ổn định tình hình "yên ổn" một cách vững chắc.
- Giải quyết công việc có tình, có lý, đúng pháp luật vừa đảm bảo giáo
dục thuyết phục theo đờng lối, quan điểm, chính sách của Đảng và đồng thời
chuyên chính, áp dụng bạo lực đối với những kẻ cầm đầu hung hăng quá
khích.
- Hiệu quả khi thực hiện, phơng án 3 đem lại thể hiện rõ chức năng của
chính quyền nhà nớc là chuyên chính, trấn áp và tổ chức xây dựng.
- Tổ chức giáo dục thuyết phục vừa giải quyết đợc vấn đề trớc mắt nhng cũng sẽ nâng cao nhận thức của đồng bào dân tộc thiểu số về chính sách
dân tộc của Đảng và Nhà nớc trong quá trình tổ chức đời sống sau khi giải
quyết xong vụ việc.
- Tổ chức lực lợng trấn áp đối tợng cầm đầu thể hiện đợc vai trò chuyên
chính của chính quyền Nhà nớc mang tính giáo dục, răn đe đối với đối tợng vi
phạm trong 2 vụ bạo lực nêu trên. Nhng cũng có tác dụng ngăn ngừa những ai
cố tình có hành vi vi phạm, giữ vững trật tự an toàn xã hội tạo môi trờng lành
mạnh cho phát triển kinh tế, ổn định đời sống.
19
- Cùng với công tác phát động quần chúng, tấn công chính trị, tổ chức
trấn áp bọn phản động cầm đầu, bóc gỡ cơ sở ngầm trong tổ chức phản động
(tin lành Đêga) và nhà nớc Đê ga tự trị, đang khống chế quần chúng ở một số
xã, buôn làng.
- Chủ trơng triển khai thực hiện theo phơng châm: kiên quyết, khẩn trơng, đúng ngời, đúng tội, lấy giáo dục, thuyết phục, răn đe làm chính, đồng
thời xử lý nghiêm những kẻ cầm đầu, ngoan cố chống lại an ninh quốc gia,
chống lại ngời thi hành công vụ.
tâm hơn nữa công tác giáo dục ở miền núi, Tây nguyên, vùng đồng bào dân
tộc thiểu số nhằm nâng cao dân trí đây là cơ sở bền vững cho phát triển kinh tế
xã hội, giữ vững an ninh chính trị ở miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu
số.
- Làm tốt công tác tạo nguồn cán bộ là ngời dân tộc thiểu số, cán bộ
Kinh lên công tác ở miền núi vùng đồng bào dân tộc thiểu số, phải biết nói,
viết chữ dân tộc thiểu số đây là yêu cầu bắt buộc.
2. Với các xã, thị trấn.
- Cần kiện toàn, bổ sung phơng án A2 về phòng chống bạo loạn, biểu
tình của xã. Thờng xuyên tổ chức diễn tập, chủ động triển khai thực hiện kế
hoạch phòng chống, ngăn ngừa tránh chủ quan, thụ động.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã, thị trấn có năng lực, hiểu biết
sâu sắc về lĩnh vực tôn giáo, dân tộc, có thái độ phục vụ nhân dân, sâu sát cơ
sở giải quyết kịp thời những tâm t nguyện vọng của dân một cách hợp lý, thoả
đáng theo phơng châm xã nắm tới buôn, thôn, thôn buôn nắm tới từng hộ gia
đình, cán bộ phải thực sự là công bộc của dân.
- Tổ chức quản lý cần vận dụng sáng tạo giữa pháp luật với phong tục
tập quán tiến bộ của buôn thôn. Kết hợp giữa cán bộ buôn thôn với già làng
trong việc triển khai các chủ trơng chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nớc và trong tổ chức phát động quần chúng.
- Cấp ủy, chính quyền các xã có ngời tham gia khiếu kiện, biểu tình mà
nhất là xã E cần phải có nghị quyết của cấp ủy lãnh đạo về công tác an ninh
nông thôn, UBND xã xây dựng các tổ tự quản ở các buôn, phân công đảng
viên phụ trách từng tổ tự quản, thực hiện tốt pháp luật theo quy định của Nhà
nớc ở cơ sở. Đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở buôn
thôn. Xử lý nghiêm các hành vi lôi kéo của kẻ xấu làm ảnh hởng đến an ninh
nông thôn, không để phát sinh hay tái diễn biểu tình bạo loạn. Nếu xảy ra phải
giải tán ngay ở buôn, thôn không để kéo lên xã hoặc lây lan sang các xã khác.
21
dân trí, phát triển kinh tế xã hội nâng cao đời sống nhân dân, phát huy truyền
thống đoàn kết, tăng cờng công tác đào tạo bồi dỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt
ở cấp xã, thị trấn, huyện. Chống t tởng kỳ thị, hẹp hòi chia rẽ khối đại đoàn
kết dân tộc. Tăng cờng công tác lý luận và thực tiễn về công tác dân tộc, xây
dựng kế hoạch trớc mắt và lâu dài vừa đảm bảo giải quyết tốt các tình huống
đã phát sinh, mặt khác triển khai thực hiện kế hoạch có tính lâu dài trong hoạt
động quản lý công tác dân tộc ở cơ sở. Góp phần tích cực thực hiện thắng lợi
22
nghị quyết Đại hội X của Đảng về phát huy sức mạnh toàn dân tộc ngay từ cơ
sở thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu nớc mạnh xã hội công bằng dân chủ
văn minh.
23
Lời cám ơn
Qua thời gian nghiên cứu học tập bồi dỡng về quản lý hành chính nhà
nớc chơng trình chuyên viên chính ở tại Học viện hành chính Quốc gia. Đợc
trang bị những kiến thức cơ bản về nhà nớc, pháp luật, hành chính nhà nớc và
kỹ năng hành chính; quản lý nhà nớc đối với ngành, lĩnh vực. Qua học tập
nghiên cứu, lý luận để soi sáng nhiều vấn đề thực tiễn mà chúng tôi đã từng
vớng mắc. Để góp phần nâng cao nhận thức, tạo ra cầu nối giữa lý luận và
thực tiễn trong công tác, tiểu luận này chúng tôi đa ra tình huống có thật, cách
xử lý tình huống và giải quyết tình huống đã diễn ra trong thực tế.
Do thời gian học tập, nghiên cứu, tham khảo tài liệu cha nhiều; phơng
pháp viết tiểu luận theo tình huống còn mới mẻ, kinh nghiệm thực tiễn giải
quyết vấn đề còn hạn chế; năng lực nhận thức của bản thân có hạn nên tiểu