Khảo sát thuật ngữ chính trị xã hội trong báo cáo chính trị tại đại hội đảng cộng sản trung quốc lần thứ XVIII năm 2012 - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ HỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
===========

LÂM TUYỀN QUÂN (LIN QUAN JUN)

KHẢO SÁT THUẬT NGỮ CHÍNH TRỊ XÃ HỘI
TRONG BÁO CÁO CHÍNH TRỊ TẠI ĐẠI HỘI
ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC
LẦN THỨ XVIII NĂM 2012

LUẬN VĂN THẠC SĨ: NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - năm 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ HỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
===========

LÂM TUYỀN QUÂN (LIN QUAN JUN)

KHẢO SÁT THUẬT NGỮ CHÍNH TRỊ XÃ HỘI
TRONG BÁO CÁO CHÍNH TRỊ TẠI ĐẠI HỘI
ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC LẦN THỨ
XVIII NĂM 2012
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số : 60.22.02.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ: NGÔN NGỮ HỌC



DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCH TW : Ban chấp hành Trung ương
CNXH

: Chủ nghĩa xã hội

ĐCS

: Đảng cộng sản

GS/TS

: Giáo sư Tiến sỹ

PGS/TS

: Phó giáo sư Tiến sỹ

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa

3


DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Thống kê một số từ đơn tiết …………………………………………28
Bảng 2.2: Phân loại thuật ngữ từ đa tiết………………………………………...34

CHƢƠNG 2: DIỆN MẠO TỪ NGỮ TRONG BÁO CÁO CHÍNH TRỊ TẠI
ĐẠI HỘI ĐCS TRUNG QUỐC LẦN THỨ XVIII NĂM 2012 ..................... 27
2.1. Khảo sát thuật ngữ chính trị xã hội trong Báo cáo chính trị........................ 27
2.1.1. Khảo sát một số hư từ có vai trò quan trọng trong việc cấu tạo thuật ngữ
trong Báo cáo ....................................................................................................... 28
5


2.1.1.1. “的” ......................................................................................................... 30
2.1.1.2. “和” ......................................................................................................... 32
2.1.1.3. “在” ......................................................................................................... 33
2.1.1.4. “向” ......................................................................................................... 33
2.1.2. Khảo sát một số thuật ngữ đa tiết .............................................................. 34
2.1.2.1. Cấu trúc thuật ngữ đa tiết ........................................................................ 35
2.1.2.2. Ngữ nghĩa của thuật ngữ đa tiết .............................................................. 36
2.2. Khảo sát về một số thuật ngữ có tần xuất xuất hiện cao trong Báo cáo…...44
2.2.1. Khảo sát thuật ngữ “经济”………………………………………………45
2.2.2. Khảo sát thuật ngữ “科学” ……………………………………………...47
2.3 Nhận xét…………………………………………………………………....49
Tiểu kết:................................................................................................................ 51
CHƢƠNG 3: KHẢO SÁT THUẬT NGỮ MỚI TRONG BÁO CÁO VÀ
LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM…………...………………………………………53
3.1.Danh sách thuật ngữ mới trong Báo cáo chính trị ........................................ 53
3.2. Đổi mới về nội dung nghĩa…………….………………………………...…55
3.3. Thuật ngữ mới trong Báo cáo chính trị đại hội Đảng lần thứ XVIII và liên hệ
với tiếng Việt……………………………………………………………………62
3.3.1. Sự tiếp xúc giữa tiếng Hán và tiếng Việt trong lịch sử……………………..63
3.3.2. Thuật ngữ mới trong Báo cáo đại hội Đảng lần thứ XVIII và liên hệ với
tiếng Việt…………………………………………………………………………………67
Tiểu kết:……………………………………………………………………… ..79

nội chính và ngoại giao. Văn kiện báo cáo của các lần đại hội của Đảng đóng vai
7


trò rất quan trọng đối với việc vận dụng và phổ biến những thuật ngữ chính trị xã
hội cho nhân dân đại chúng. Nhưng cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên
cứu sâu và cụ thể về Thuật ngữ chính trị trong các báo cáo đại hội của Đảng
Cộng Sản (ĐCS) Trung Quốc, vì thế, chúng tôi lựa chọn khảo sát thuật ngữ
chính trị trong báo cáo đại hội ĐCS Trung Quốc lần thứ XVIII năm 2012– một
trong những báo cáo mang tính trọng đại trong lịch sử Trung Quốc – báo cáo
đường lối mới nhất của ĐCS Trung Quốc trong giai đoạn xây dựng “Kế hoạch
2015” xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Trung Quốc.
Trong bài luận văn này, tôi đi vào nghiên cứu, khảo sát hệ thuật ngữ chính
trị xã hội mới xuất hiện trong Báo cáo của BCH TW ĐCS Trung Quốc tại đại hội
ĐCS Trung Quốc lần thứ XVIII, có liên hệ với tiếng Việt, luận văn muốn góp
phần vào việc nghiên cứu sự phát triển của thuật ngữ chính trị xã hội Trung
Quốc nói chung và một số ảnh hưởng tới tiếng Việt nói riêng.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Ngôn ngữ phát triển theo thời gian, mang tính lịch sử cụ thể. Vì vậy để có
cái nhìn toàn diện về lịch sử phát triển của một ngôn ngữ nào đó thì việc nghiên
cứu diện mạo của từng bộ phận của nó trong từng giai đoạn là rất cần thiết. Sự
phát triển của ngôn ngữ nói chung gắn liền với sự phát triển của xã hội. Nghiên
cứu thuật ngữ trong ngôn ngữ học cũng là một trong những đóng góp lớn của
ngành nghiên cứu ngôn ngữ học.
Trên thế giới đã từng xuất hiện nhiều nhà ngôn ngữ học công bố những
công trình nghiên cứu ngôn ngữ mang tầm vóc lớn như nhà ngôn ngữ học người
Mỹ Bloomfield Leonard. Ông là một trong những nhà ngôn ngữ học dẫn đầu cho
sự phát triển ngôn ngữ học cấu trúc tại Hoa Kỳ trong những năm 1930, 1940. Sự
ảnh hưởng của cuốn sách “Language”, London, 1935 của ông đã mô tả toàn diện
ngôn ngữ học cấu trúc Mỹ. Ngoài những đóng góp cho nền ngôn ngữ Hoa Kỳ,

nhưng hiện tại chưa có một tác phẩm nào nghiên cứu vể thuật ngữ chính trị xã
9


hội trong các báo cáo chính trị đại hội ĐCS Trung Quốc cũng như Việt Nam.
Nên trong bài luận văn này, tôi đi sâu tìm hiểu nghiên cứu diện mạo thuật ngữ
chính trị xã hội trong “Báo cáo đại hội ĐCS Trung Quốc lần thứ XVIII năm
2012”, tìm ra những thuật ngữ mới xuất hiện trong giai đoạn 1978 đến 2012,
thông qua cuốn từ điển “现代汉语新词语词典” “Từ điển tân từ ngữ Hán ngữ
hiện đại” do Kháng Thế Dũng, Lưu Hải Nhuận chủ biên, nhà xuất bản Từ Thư,
Thượng Hải, Trung Quốc, tháng 4 năm 2000 và cuốn “Nghiên cứu về lịch sử tư
tưởng” do Kim Quan Đào, Lưu Thanh Phong chủ biên, nhà xuất bản Pháp Luật,
từ đó liên hệ so sánh với từ tiếng Việt ở Việt Nam.
3. Phạm vi nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu
Khảo sát thuật ngữ và thuật ngữ chính trị xã hội trong “Báo cáo chính trị
của BCH TW ĐCS Trung Quốc tại đại hội ĐCS Trung Quốc lần thứ XVIII năm
2012”.
Phạm vi thời gian: Khảo sát các thuật ngữ trong “Báo cáo chính trị tại đại
hội Đảng Cộng Sản Trung Quốc lần thứ XVIII năm 2012” so sánh đối chiếu với
từ điển “现代汉语新词语词典” “Từ điển tân từ ngữ Hán ngữ hiện đại” do
Kháng Thế Dũng, Lưu Hải Nhuận chủ biên, nhà xuất bản Từ Thư, Thượng Hải,
Trung Quốc, tháng 4 năm 2000, cuốn “Nghiên cứu về lịch sử tư tưởng” do Kim
Quan Đào, Lưu Thanh Phong chủ biên, nhà xuất bản Pháp Luật.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu:
Thông qua khảo sát từ đơn tiết và từ đa tiết trong báo cáo đại hội ĐCS
Trung Quốc lần thứ XVIII năm 2012, chúng tôi rút ra được danh sách các thuật
ngữ và thuật ngữ mới mới xuất hiện trong báo cáo đại hội đảng lần thứ 19, sau
đó phân tích đặc điểm của các thuật ngữ này về mặt cấu trúc, nội dung. Luận văn


11


Chương 2. Diện mạo từ ngữ trong báo cáo chính trị tại đại hội ĐCS Trung Quốc
lần thứ XVIII năm 2012
Chương 3. Khảo sát thuật ngữ mới trong Báo cáo và liên hệ với Việt Nam.

CHƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1.

Khái quát về thuật ngữ chính trị xã hội
1.1.1. Thuật ngữ
1.1.1.1.

Thế nào là thuật ngữ?

Thuật ngữ là một đề tài có sức cuốn hút đối với nhiều nhà nghiên cứu
khoa học trên thế giới cũng như ở Trung Quốc. Hiện nay trong ngôn ngữ học có
một số lượng vô cùng lớn các định nghĩa khác nhau về thuật ngữ, thậm chí còn
có thể viết cả một cuốn sách về “Khái niệm thuật ngữ là gì?”. Vậy thế nào là
thuật ngữ?
Có những định nghĩa chỉ ra sự phân định giữa một bên là thuật ngữ còn
một bên là từ thông thường. Cả về hình thức và nội dung không thể tìm thấy ranh
giới thực nào giữa từ thông thường, từ phi chuyên môn với từ của vốn thuật ngữ.
Đường ranh giới hiện thực, khách quan giữa hai loại từ này về thực chất là một
đường ranh giới ngoài ngôn ngữ. Nếu như từ thông thường, từ phi chuyên môn
tương ứng với đối tượng thông dụng, thì từ của vốn thuật ngữ lại tương ứng với
đối tượng chuyên môn mà chỉ có một số lượng hạn hẹp các chuyên gia biết đến.
Thuật ngữ - đó không phải là một từ đặc biệt mà chỉ là từ có chức năng đặc biệt
– đó là chức năng gọi tên.

khoa học, nghệ thuật, cuộc sống xã hội…”[26; tr.236].
13


Ở Việt Nam, các nhà ngôn ngữ học cũng hết sức quan tâm đến lĩnh vực
thuật ngữ và những định nghĩa về thuật ngữ ngày một đầy đủ hơn và chính xác
hơn.
Năm 1962, trong “Giáo trình Việt ngữ, tập II”, Đỗ Hữu Châu đã đưa ra
định nghĩa thuật ngữ trong đó đồng thời có sự nhấn mạnh rằng thuật ngữ không
phải chỉ biểu thị khái niệm khoa học mà còn chỉ tên một sự vật, một hiện tượng
khoa học nhất định. Theo ông,“Thuật ngữ là những từ chuyên môn được sử dụng
trong phạm vi một ngành khoa học, một nghề nghiệp hoặc một ngành kỹ thuật
nào đấy. Có thuật ngữ của ngành vật lí, ngành hóa học, ngành toán học, thương
mại, ngoại giao, chính trị xã hội…Đặc tính của những từ này là phải cố gắng chỉ
có một nghĩa, biểu thị một khái niệm hay chỉ tên một sự vật, một hiện tượng khoa
học, kỹ thuật nhất định” [1; tr3].
Trong giáo trình “Từ vựng tiếng Việt” xuất bản năm 1978 và tiếp đến là
giáo trình “Từ vựng học tiếng Việt” xuất bản năm 1985, tái bản 1998, Nguyễn
Thiện Giáp đã đưa ra quan niệm ngắn gọn nhưng nêu được đầy đủ những đặc
trưng cần và đủ của thuật ngữ. Theo ông, “Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt
của ngôn ngữ. Nó bao gồm những từ và những cụm từ cố định là tên gọi chính
xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của
con người” [5; tr308-309]. Thuật ngữ theo Nguyễn Thiện Giáp có thể được cấu
tạo dựa trên cơ sở từ hoặc hình vị có ý nghĩa sự vật cụ thể. Nội dung của thuật
ngữ ít nhiều tương ứng với ý nghĩa của các từ tạo nên chúng.
Qua những định nghĩa được nêu trên ta có thể thấy thuật ngữ là từ và cụm
từ nhưng không giống với từ và cụm từ thông thường. Từ ngữ thông thường có
thể biểu thị sắc thái tình cảm, sắc thái phụ như thái độ đánh giá con người, khen,
chê…, có thể mang tính đa nghĩa, có thể có đồng nghĩa, trái nghĩa, có thể có
đồng âm, trong khi thuật ngữ thì chỉ đơn nghĩa và chỉ mô tả một khái niệm hay

khác.
15


*Tính hệ thống: Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu. Thuật ngữ là một bộ
phận của ngôn ngữ. Mỗi ngôn ngữ có một hệ thống riêng. Thuật ngữ của mỗi
nước cũng có hệ thống riêng. Vì vậy nói đến thuật ngữ là phải nói đến tính hệ
thống.
Có một số nhà nghiên cứu cho rằng tính hệ thống là một đặc trưng về nội
dung, một số khác lại coi đây là tiêu chuẩn về hình thức. Còn theo chúng tôi thì
nhắc đến tính hệ thống của thuật ngữ thì cần chú ý đến cả hai mặt: hệ thống khái
niệm (xét về nội dung) và hệ thống các biểu thị (xét về hình thức). Tính hệ thống
của các biểu thị thuật ngữ thường được thể hiện rõ ràng qua mối liên hệ liên
tưởng và mối quan hệ ngữ đoạn của các tín hiệu trong ngôn ngữ. Tất cả các thuật
ngữ gọi tên khái niệm đều phải cố gắng phối hợp với quốc tế, công tác điều phối
cần phải được tiến hành thông qua tổ chức tiêu chuẩn thế giới ISO.
*Tính quốc tế: Các khái niệm khoa học mà thuật ngữ biểu thị là tài sản
chung của toàn nhân loại, do đó nó mang tính quốc tế. Các ngôn ngữ như tiếng
Việt, tiếng Nhật, tiếng Hàn chịu ảnh hưởng sâu sắc của tiếng Hán, đặc biệt là về
khía cạnh từ vựng, do vậy mà vốn từ văn hóa hầu hết đều có nguồn gốc từ tiếng
Hán nên có thể nói hầu như toàn bộ hệ thống thuật ngữ đều dựa trên cơ sở các
yếu tố gốc Hán.
*Tính đơn nghĩa: Thuật ngữ chính xác là một thuật ngữ khi nói hay viết
ra thì làm cho người nghe, người đọc hiểu một và chỉ một khái niệm khoa học
tương ứng với nó. Vì thuật ngữ nằm trong một hệ thống thuật ngữ nhất định nên
thuật ngữ chỉ có một nghĩa, khác với từ thông thường có tính đa nghĩa. Tính đơn
nghĩa ở đây được hiểu là đơn nghĩa trong một ngành, một lĩnh vực chuyên môn
nhất định, nghĩa là đảm bảo tính chính xác của thuật ngữ.

16

青, 黛”( lục, thanh, đại), “绿色”(màu xanh lá), “绿树成荫”(bóng cây rợp mát),
“绿莹莹” (óng ánh xanh), “绿灯” (đèn xanh), “绿化”( lục hóa), “绿茶”(trà
xanh), “绿内障”(bệnh glôcôm), “绿卡”(thẻ xanh), “绿油油”(xanh mướt), “绿
豆”(đậu xanh). Khi đứng sau những ngữ tố khác nó lại có thể cấu thành những
thuật ngữ như “叶绿素”(chất ChlorophyII), “橄榄绿”(xanh cốm), “桃红柳绿”
(đào hồng liễu biếc), “青山绿水”(non nước xanh biếc)…Tác dụng tạo từ của
“绿” mạnh hơn nhiều so với “青, 黛”. Khi tạo ra những thuật ngữ mới tốt hơn
hết là chọn những ngữ tố có khả năng tạo từ cao, chỉ khi nào cần thêm sắc thái
tu từ hay phân biệt đặc trưng mới cần những ngữ tố có sắc thái tu từ nhưng tác
dụng tạo từ tương đối thấp.
1.1.2. Thuật ngữ chính trị xã hội
1.1.2.1.

Tiền đề xã hội của thuật ngữ chính trị xã hội

Trong hệ thống ngôn ngữ thì lớp thuật ngữ là bộ phận đặc sắc nhất, nhạy
cảm nhất xét trong quan hệ ngôn ngữ với văn hoá và phát triển, nó được xem
như bức tranh phản chiếu, là diện mạo toàn cảnh từ ngữ ghi dấu trạng thái tri
thức, trạng thái sáng tạo tiếp biến của một đất nước một dân tộc thời kỳ tiến hoá
đi lên. Chính vì vậy sự ra đời, sự hình thành của một hệ thuật ngữ mới cần có
những cơ sở tiền đề xã hội nhất định. Theo GS. TS Lê Quang Thiêm thì nó phải
cần có sáu tiền đề:

18


- Một là khái niệm phạm trù khoa học của thuật ngữ phải được biểu hiện
trong một hình thức nhất định. Hình thức đó phải là chữ viết và là chất liệu ngôn
ngữ dân tộc.
- Hai là thuật ngữ được tiếp nhận và sáng tạo do chủ thể của dân tộc, đất

tịch 主席, tư pháp 司法, thương vụ 商务, hải quân 海军, giám định 鉴定, quản lí
管理, đại biểu 代表, tuyển cử 选举, quyền lợi 权利, trách nhiệm 责任, quí tộc
贵族, an phận 安分, lí tưởng 理想, thế giới 世界, chính biến 政变, tính tình 性情,
phi pháp 非法, công lí 公理, vệ sinh 卫生, lịch sử 历史, địa lí 地理, thiên văn 天
文, sinh vật 生物, vật lí 物理, khoáng sản 矿产, hoá học 化学, công nghệ 工艺,
tài sản 财产, hộ khẩu 户口, phổ thông 普通, công bằng 公平, mại quốc 卖国,
lạm dụng 滥用, kỹ nghệ 技术, thiết yếu 必要, hợp đồng 合同, cải cách 改革,
mục tiêu 目标, chỉnh đốn 整顿, kiên trì 坚持, kiêu ngạo 骄傲, diễn viên 演员,
sản phẩm 产品, nông nghiệp 农业, địa chất học 地质学...

20


1.1.2.2.

Khái niệm thuật ngữ chính trị xã hội

Thuật ngữ chính trị xã hội là những từ ngữ chuyên môn thường được dùng
trong các ngành khoa học, chính trị xã hội mà nội dung của chúng là đánh dấu
biểu thị những sự vật, hiện tượng, khái niệm, phạm trù; những sáng chế, phát
minh, phát kiến; những tri thức trong các lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn
khác nhau về tự nhiên, xã hội, tư duy...
1.1.2.3.

Đặc trưng nghĩa thuật ngữ chính trị xã hội

Về phương diện ngôn ngữ học, mối quan hệ tương quan giữa thuật ngữ và
hệ thống thuật ngữ được chú ý đến các phạm trù đa nghĩa, đơn nghĩa của các đơn
vị ngôn ngữ. Thuật ngữ có thể biểu thị chính xác, tập trung và tiết kiệm tối đa
các khái niệm chung và riêng gắn liền với hoạt động khoa học kỹ thuật, chính trị

thuật ngữ thuộc lĩnh vực chính trị xã hội, khoa học xã hội và nhân văn được hình
thành từ các từ ngữ đời sống hàng ngày. Nói cách khác, quá trình thuật ngữ hóa
các từ ngữ thông thường đã làm giảm bớt tính bác học của thuật ngữ, làm cho
chúng có một diện mạo gần gũi với quần chúng hơn. Ví dụ: 自由资源 tài nguyên
tự do, 预算 dự toán, 个人所得税 thuế thu nhập cá nhân...市场经济 thị trường
kinh tế, 西部大开发 cuộc khai thác miền Tây lớn, 中国特色 mang đặc sắc
Trung Quốc, “三个代表” thuyết “Ba đại biểu”...
Như đã biết bất kì một loại ngôn ngữ nào đều không khép kín hoàn toàn,
tiếng Hán cũng không ngoại lệ. Quy luật phát triển bên trong của tiếng Hán
quyết định sự tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Hán và các ngôn ngữ khác, tiếng Hán
hấp thụ những yếu tố ngôn ngữ mới, bổ sung những điều còn thiếu sót cả về mặt
nội dung và hình thức của chính bản thân nó, để từ đó tạo ra diện mạo mới cho
22


tiếng Hán. Trong quá trình tiếp xúc với các ngôn ngữ khác, tiếng Hán đã nhận rất
ra nhiều khái niệm và sự vật mà bản thân tiếng Hán vốn chưa có, vì vậy nó sẽ
hấp thụ những khái niệm mới này. Ví dụ như: 超市 (market), 热狗 (hot dog), 热
线 ( hot line)… có thể nói nhu cầu tự thân của ngôn ngữ chính là nguyên nhân
bên trong hình thành nên từ ngoại lai.
Mặt khác, để có thể hình thành nên lớp từ ngoại lai thì ngoài nguyên nhân
bên trong còn có nguyên nhân bên ngoài. Những nguyên nhân bên ngoài này
thậm chí còn có tác dụng mở đường, mang tính chất quyết định cho việc ra đời
từ ngoại lai. Trong quá trình giao tiếp, người bản địa sẽ phải vận dụng tất cả các
từ bản ngữ nhưng nếu trong hệ thống từ bản ngữ còn thiếu hoặc không có những
từ liên quan đến các lĩnh vực mới thì người bản địa buộc phải tiếp thu những yếu
tố ngôn ngữ nước ngoài, sau đó sáng tạo ra từ mới phù hợp, rồi đưa những từ đó
vào trong hệ thống từ vựng ngôn ngữ của mình. Chính việc giao lưu tiếp xúc lẫn
nhau giữa các dân tộc, các nền văn hóa khác nhau là nguyên nhân bên ngoài hình
thành nên từ ngoại lai.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status