GIẢI QUYẾT vấn đề dân tộc VÀ tôn GIÁO - Pdf 35

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO
1, Vấn đề dân tộc và những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa
Mác - Lênin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc.
a) Khái niệm dân tộc.
Khái niệm dân tộc thường được dùng với hai nghĩa:
- (Tộc người) dùng để chỉ cộng đồng người cụ thể nào đó có
những mối liên hệ chặt chẽ, bền vững, có sinh hoạt kinh tế
chung, có ngôn ngữ chung của cộng đồng và trong sinh hoạt
văn hóa có những nét đặc thù so với những cộng đồng khác;
xuất hiện sau cộng đồng bộ lạc; có kế thừa và phát triển hơn
những nhân tố tộc người ở cộng đồng bộ lạc và thể hiện thành
ý thức tự giác của các thành viên trong cộng đồng đó.
- (Quốc gia dân tộc) dùng để chỉ một cộng đồng người ổn định,
bền vững hợp thành nhân dân của một quốc gia, có lãnh thổ
chung, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung, có truyền
thống văn hóa, truyền thống đấu tranh chung trong quá trình
dựng nước và giữ nước.
Với nghĩa như vậy, khái niệm dân tộc và khái niệm quốc gia có
sự gắn bó chặt chẽ với nhau, dân tộc bao giờ cũng ra đời trong
một quốc gia nhất định và thực tiễn lịch sử chứng minh rằng
những nhân tố hình thành dân tộc chín muồi thường không tách
rời với sự chín muồi của những nhân tố hình thành quốc gia.
Đây là những nhân tố bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau trong quá
trình phát triển.
b) Hai xu hướng phát triển của dân tộc và vấn đề dân tộc trong
xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Nghiên cứu về dân tộc và phong trào dân tộc trong chủ nghĩa
tư bản. V.I.Lênin đã phân tích và chỉ ra hai xu hướng phát triển
có tính khách quan của nó:
+ Xác lập cộng đồng độc lập dân tộc riêng rẽ:
- Hình thành: các hệ thống quốc gia, dân tộc độc lập các hệ thống quốc

tạo ra xã hội đó.
Khi nghiên cứu về dân tộc, quan hệ dân tộc và những xu hướng
phát triển của nó, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định rằng, chỉ
trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội, khi tình trạng áp bức giai
cấp, tình trạng người bóc lột người bị thủ tiêu thì tình trạng áp
bức dân tộc cũng bị xóa bỏ.
Với thắng lợi của cách mạng vô sản, giai cấp công nhân đã trở
thành giai cấp cầm quyền tạo tiền đề cho tiến trình xây dựng
chủ nghĩa xã hội, đồng thời cũng mở ra quá trình hình thành và
phát triển của dân tộc xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, dân tộc xã hội chủ nghĩa chi xuất hiện khi sự cải tạo,
xây dựng từng bước cộng đồng dân tộc và các mối quan hệ xã
hội, quan hệ dân tộc theo các nguyên lý của chủ nghĩa xã hội
khoa học. Đồng thời, dân tộc xã hội chủ nghĩa cũng chỉ có thể


ra đời từ kết quả toàn diện trên mọi lĩnh vực của công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội từ kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa tư tưởng.
Dân tộc trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội có sự vận
động mới theo hướng ngày càng tiến bộ, văn minh. Trong đó,
hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc sẽ phát huy
tác dụng cùng chiều, bổ sung, hỗ trợ cho nhau và diễn ra trong
từng dân tộc, trong cả cộng đồng quốc gia. Quan hệ dân tộc sẽ
là biểu hiện sinh động của hai xu hứơng đó trong điều kiện của
công cuộc xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa.
Tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội đã tạo ra những điều kiện
thuận lợi để xây dựng quan hệ dân tộc bình đẳng, hợp tác giúp
đỡ nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc. Sự xích lại gần nhau
trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng sẽ là nhân tố quan trọng cho
từng dân tộc nhanh chóng đi tới phồn vinh hạnh phúc. Mỗi dân

- Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng
Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc trong mối quan hệ giữa các dân tộc.
Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng có nghĩa là: các dân tộc lớn hay nhỏ (kể cả bộ
tộc và chủng tộc) không phân biệt trình độ phát triển cao hay thấp đều có nghĩa
vụ và quyền lợi ngang nhau; không một dân tộc nào được giữ đặc quyền đặc lợi
và có quyền đi áp bức bóc lột dân tộc khác, thể hiện trong luật pháp của mỗi
nước và luật pháp quốc tế.
Trong một quốc gia có nhiều dân tộc, quyền bình đẳng giữa các dân tộc phải
được pháp luật bảo vệ và được thể hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội,
trong đó việc phấn đấu khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế,
văn hoá do lịch sử để lại có ý nghĩa cơ bản.
Trên phạm vi giữa các quốc gia - dân tộc, đấu tranh cho sự bình đẳng giữa các
dân tộc trong giai đoạn hiện nay gắn liền với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa
phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa sôvanh; gắn liền với cuộc đấu tranh xây dựng
một trật tự kinh tế thế giới mới; chống sự áp bức bóc lột của các nước tư bản
phát triển đối với các nước chậm phát triển về kinh tế.
Thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở để thực hiện quyền dân tộc
tự quyết và xây dựng mối quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa các dân tộc.
- Các dân tộc được quyền tự quyết
Quyền dân tộc tự quyết là quyền làm chủ của mỗi dân tộc đối với vận mệnh dân
tộc mình, quyền tự quyết định chế độ chính trị – xã hội và con đường phát triển
của dân tộc mình. Quyền tự quyết bao gồm quyền tự do độc lập về chính trị tách
ra thành lập một quốc gia dân tộc độc lập vì lợi ích của các dân tộc (chứ không
phải vì mưu đồ và lợi ích của một nhóm người nào) và cũng bao gồm quyền tự
nguyện liên hiệp với các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi để có đủ
sức mạnh chống nguy cơ xâm lược từ bên ngoài, giữ vững độc lập chủ quyền và
có thêm những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển quốc gia - dân tộc.
Khi xem xét, giải quyết quyền tự quyết của dân tộc cần đứng vững trên lập
trường của giai cấp công nhân. Triệt để ủng hộ các phong trào dân tộc tiến bộ
phù hợp với lợi ích chính đáng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

sách dân tộc của các đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa.
2, Tôn giáo và những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin trong việc
giải quyết vấn đề tôn giáo.
a) Khái niệm tôn giáo:
- Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hoang đường và hư ảo hiện
thực khách quan. Qua sự phản ánh của tôn giáo mọi sức mạnh tự phát của tự
nhiên và xã hội đều trở thành thần bí.
- Tôn giáo là sản phẩm của con người, gắn với những điều kiện lịch sử tự nhiên
và lịch sử xã hội xác định. Do đó xét về mặt bản chất, tôn giáo là một hiện
tượng xã hội phản ánh sự bất lực, bế tắc của con người trước tự nhiên và xã hội.


- Ở một mức độ nhất định tôn giáo có vai trò tích cực trong văn hoá, đạo đức xã
hội như: đoàn kết, hướng thiện, quan tâm đến con người….Tôn giáo là niềm an
ủi, chỗ dựa tinh thần của quần chúng lao động.
- Về phương diện thế giới quan, thế giới quan tôn giáo là duy tâm, hoàn toàn đối
lập với hệ tư tưởng và thế giới quan Mác - Lênin khoa học và cách mạng.
- Sự khác nhau giữa chủ nghĩa xã hội hiện thực và thiên đường mà các tôn giáo
thường hướng tới là ở chỗ trong quan niệm tôn giáo thiên đường không phải là
hiện thực mà là ở thế giới bên kia. Còn những người cộng sản chủ trương và
hướng con người vào xã hội văn minh, hành phúc ngay ở thế giới hiện thực, do
mọi người xây dựng và vì mọi người.
b) Nguyên nhân tồn tại của tín ngưỡng, tôn giáo:
- Nguyên nhân nhận thức: Trong quá trình xây dựng CNXH và trong chế
độ XHCN trình độ dân trí chưa thật cao, nhiều hiện tượng tự nhiên và xã hội
đến nay khoa học chưa giải thích được. Do đó trước sức mạnh tự phát của giới
tự nhiên và xã hội mà con người vẫn chưa thể nhận thức và chế ngự được đã
khiến cho một bộ phận nhân dân đi tìm sự an ủi, che chở và lý giải chúng từ sức
mạnh của thần linh.
- Nguyên nhân kinh tế: Trong CNXH, nhất là trong TKQĐ còn nhiều

phải hết sức thận trọng, tỉ mỉ và chuẩn xác; vừa đòi hỏi giữ
vững nguyên tắc, đồng thời phải mềm dẻo, linh hoạt, đúng như
tinh thần của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
quan điểm của Đảng ta là: không "tuyên chiến" với tôn giáo mà
tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của
nhân dân.
Giải quyết vấn đề tôn giáo trong quá trình xây dựng chủ nghĩa
xã hội cần dựa trên những quan điểm sau:
Một là, chủ nghĩa Mác- Lênin, hệ tư tưởng chủ đạo của xã
hội xã hội chủ nghĩa và hệ tư tưởng tôn giáo có sự khác nhau cơ
bản về thế giới quan, nhân sinh quan và con đường mưu cầu
hạnh phúc cho nhân dân. Với hệ thống tín điều và giáo lý của
mình, tôn giáo phần nào hạn chế khả năng vươn lên làm chủ
của con người. Vì vậy, khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực
của tôn giáo trong đời sống xã hội phải gắn liền với quá trình
cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới; là yêu cầu khách quan
của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Hai là, một khi tín ngưỡng tôn giáo còn là nhu cầu tinh thần
của một bộ phận quần chúng nhân dân, thì chính sách nhất
quán của nhà nước xã hội chủ nghĩa là tôn trọng và bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng của
công dân. Mọi công dân theo tôn giáo hoặc không theo tôn giáo
đều bình đẳng trước pháp luật, đều có quyền lợi và nghĩa vụ
như nhau. Cần phát huy những nhân tố tích cực của tôn giáo,
đặc biệt là những giá trị đạo đức; chủ nghĩa nhân đạo và tinh
thần yêu nước. Nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm tự do tín


ngưỡng của công dân. Đó là sự thể hiện bản chất của nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa, thể hiện sự quan tâm của đảng cộng sản

nghiệp đấu tranh cách mạng, xây dựng chủ nghĩa xã hội của
những phần tử phản động đội lốt tôn giáo. Đấu tranh loại bỏ
mặt chính trị phản động trong lĩnh vực tôn giáo là nhiệm vụ
thường xuyên, đòi hỏi phải nâng cao cảnh giác kịp thời chống
lại những âm mưu và hành động của các thế lực thù địch lợi
dụng tôn giáo chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân,


nhằm bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng xã hội mới - giải
quyết vấn đề này vừa phải khẩn trương, kiên quyết, vừa phải
thận trọng và có sách lược đúng.
Năm là, phải có quan điểm lịch sử khi giải quyết vấn đề tôn
giáo:
Ở những thời kỳ lịch sử khác nhau, vai trò, tác động của từng
tôn giáo đối với đời sống xã hội không giống nhau. Quan điểm
thái độ của các giáo hội, giáo sĩ, giáo dân về các lĩnh vực của
đời sống xã hội luôn có sự khác biệt. Vì vậy, cần phải có quan
điểm lịch sử cụ thể khi xem xét, đánh giá và ứng xử đối với
những vấn đề có liên quan đến tôn giáo.
Có những tôn giáo khi mới xuất hiện như một phong trào bảo
vệ lợi ích của người nghèo, người bị áp bức và nô lệ. Nhưng rồi,
tôn giáo ấy lại biến thành công cụ của giai cấp bóc lột, thống
trị. Có những giáo sĩ suốt đời hành đạo luôn luôn đồng hành
cùng với dân tộc, nhưng cũng có những người đã hợp tác với
các thế lực phản động, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc. Có
những vị chân tu luôn "kính Chúa yêu nước", thiết tha sống "tốt
đời, đẹp đạo", nhưng lại có những người lầm đường lạc lối nghe
theo kẻ địch phản bội Tổ quốc và suy đến cùng cũng phản lại
cả lợi ích của giáo hội. Điều khiến cho nhà nước xã hội chủ
nghĩa luôn cần có thái độ, cách cư xử phù hợp với từng trường

quần chúng ở mọi tầng lớp, từ thời xưa cổ cho đến ngay cả chính ngày hôm nay.
3/ Nhiều tôn giáo khuyến khích con người từ bỏ trí óc lý luận và suy xét để chấp
nhập những đức tin huyễn hoặc, vô căn cứ.
4/ Nhiều tôn giáo khuyến khích con người tráo chuyển trách nhiệm trong quyết
định, hành vi và hậu quả của cá nhân họ ra thành trách nhiệm của “Thượng Đế”.
5/ Nhiều tôn giáo phủ nhận giá trị và khả năng đạo đức cơ bản tự nhiên của con
người.
6/ Tôn giáo không biến đổi kịp với sự tiến hóa về mặt khoa học, xã hội lẫn cả về
mặt tâm linh của con người do đó trở thành chướng ngại vật trên đường tiến hóa
của nhân loại.
7/ Nhiều tôn giáo tiếp tục gìn giữ và truyền dạy những giáo điều cổ hủ, lầm lạc
và vô đạo đức (nếu so sánh với tiêu chuẩn xã hội và tâm lý ngày nay).
8/ Các tín đồ cực đoan dùng những giáo điều cổ hủ, lầm lạc và vô đạo đức trong
tôn giáo họ để làm căn bản và lý do cho các hành động độc ác. Tùy vị thế và
khả năng của các thành phần cực đoan nầy, các hành động độc ác của họ có thể
có tai hại rộng lớn, lâu dài và sâu xa đến vô số người vô can khác.
9/ Bản chất mơ hồ, phức tạp và chuyển đổi không ngừng của tôn giáo làm cho
đại đa số tín đồ không thể nhận ra được những bản chất tiêu cực cơ bản và quan
trọng của nó. Các tổ chức tôn giáo (các “chuyên viên” về tôn giáo) nếu có nhận
ra được các bản chất tiêu cực nầy đi nữa thì cũng vì quyền lợi riêng mà ém dấu
hay không truyền bá chúng đến cho tín đồ.





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status