HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
__________________
TIỂU LUẬN
CHÍNH TRỊ HỌC NÂNG CAO
Đề tài: Vận động chính sách công ở một số quốc gia trên thế giới
(có liên hệ Việt Nam)
Họ và tên: Lê Tuấn Anh
Lớp: Cao học Phát thanh – Truyền hình K21.2
Hà Nội, 2016
LỜI MỞ ĐẦU
Chính sách công là một công cụ quan trọng của quản lý nhà nước. Thông qua
việc ban hành và thực thi các chính sách, những mục tiêu của Nhà nước được
hiện thực hóa. Tuy vậy, thì vận động chính sách công vẫn còn là một khái niệm
khá mới mẻ ở Việt Nam. Trong khi ở nhiều nước phát triển trên thế giới, vận
động chính sách công đã ra đời từ rất sớm và được biết đến với thuật ngữ
“lobby”, thậm chí đã trở thành một nghề nghiệp. Như ở Hoa Kỳ, “lobby” có thể
xem như biểu tượng của sự dân chủ ở Mỹ, với khoảng hơn 300 công ty hoạt
động trong lĩnh vực này, hay như ở Brussels, Bỉ - nơi đặt trụ sở của Liên minh
Châu Âu, thì cũng có khoảng 3.000 hãng lobby các loại (văn phòng giao tế nhân
sự, đại diện của các doanh nghiệp, liên đoàn nghề nghiệp...) với số nhân viên
khoảng 15.000 người. Điều đó có thể thấy được mức độ phát triển của hoạt động
“lobby” trên thế giới. Hoạt động vận động chính sách công không chỉ phát huy
phản biện xã hội, mà còn góp phần nâng cao tính dân chủ trong xã hội.
Qua quá trình tìm hiểu nghiên cứu các tài liệu, tác giả quyết định lựa chọn đề
tài “Vận động chính sách công ở một số quốc gia trên thế giới” – trong đó chủ
hiện các chương trình nhằm đạt được những mục tiêu xã hội” (Charle L.
Cochran, Eloise F. Malone); “Chính sách công là toàn bộ các chương trình của
nhà nước (phân bổ nguồn lực, phân phối và ổn định) nhằm hai mục tiêu căn
bản: cung cấp hàng hóa công cộng và cải thiện sự bất bình đẳng” (E.M.
Gramlic); “Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động
của chính quyền để đáp lại các vấn đề công cộng. Nó được kết hợp với các cách
thức, mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng như
quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những chương trình”
(Kraft và Frlong). Các nhà khoa học Mỹ lại đưa ra định nghĩa: “Chính sách
công là bản tuyên bố các mục đích chung có thể chuyển thành kế hoạch hay
chương trình có thể nêu rõ những mục tiêu cần đạt được”. Còn ở Việt Nam,
thuật ngữ “chính sách công” thường được hiểu là chính sách. Điều 26, Hiến
pháp năm 1992, sửa đổi năm 2001 nêu rõ: “Nhà nước thống nhất quản lý nền
kinh tế quốc dân bằng kế hoạch, chính sách…”. Tập bài giảng Chính trị của
Viện Khoa học Chính trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cũng định
nghĩa: “Chính sách công là chương trình hành động hướng đích của chủ thể
nắm hoặc chi phối quyền lực công cộng…Đó là chương trình hoạt động được
suy tính một cách khoa học, liên quan với nhau một cách hữu cơ và nhằm những
2
mục đích tương đối cụ thể; chủ thể hoạch định chính sách công nắm quyền lục
nhà nước; chính sách công bao gồm những gì được thực sự thi hành chứ không
phải những lời tuyên bố”. Tác giả Nguyễn Hữu Hải trong cuốn Hoạch định và
phân tích chính sách công cho rằng: “ Chính sách công là hành động ứng xử
của nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng , được thể hiện
bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển”.
Về cơ bản, cả hai định nghĩa trên về chính sách công đều tập trung vào chính
sách quốc gia với những chương trình hành động cụ thể của chính phủ nhằm đạt
được mục tiêu nhất định. Từ những quan niệm trên, có thể nhìn nhận chính sách
thực tế có tình trạng là một chính sách có thể đem lại lợi ích nhiều hơn cho một
nhóm đối tượng , một số nhóm khác bị thiệt thòi.
Từ những nhận định trên, có thể định nghĩa: chính sách công là quyết định
của các chủ thể quyền lực nhà nước, nhằm quy định mục đích, cách thức và chế
định hành động của những đối tượng liên quan, để giải quyết những vấn đề nhất
định mà xã hội đặt ra. Đó là tổng thể các chuẩn mực , biện pháp nhà nước sử
dụng để quản lý xã hội. Các chính sách không tồn tại riêng biệt mà luôn có sự
liên kết, chi phối nhau từ đó hình thành một hệ thống chính sách thống nhất với
nhau về mục tiêu hoặc tính chất và được sắp đặt theo một trật tự nhất định theo
yêu cầu của quản lý. Các chính sách tồn tại cũng không tách khỏi môi trường
của nó là những điều kiện tự nhiên và xã hội có ảnh hưởng hoặc chi phối đến
quá trình vận động và sự thành công của chính sách.
Như vậy, tóm lại, chính sách công là một trong những công cụ cơ bản được
Nhà nước sử dụng để quản lý và điều hành xã hội. Hiện nay, ở nước ta thường
sử dụng cụm từ “chính sách của Đảng và Nhà nước” bởi trên thực tế Đảng lãnh
đạo Nhà nước trên cơ sở cương lĩnh, chiến lược cũng như các định hướng chính
sách. Đó là căn cứ để Nhà nước ban hành các chính sách công. Các chính sách
này là sự cụ thể hóa đường lối, chiến lược của Đảng. Do vậy việc đề cập đến
chính sách công ở đây được hiểu là chính sách do Nhà nước ban hành.
1.2.
Nguồn gốc và khái niệm “vận động chính sách công”
Trong từ điển American Heritage Dictionary, thì vận động chính sách công
hay còn được gọi là “vận động hành lang” được định nghĩa là cố gắng gây ảnh
hưởng đến suy nghĩ của những nhà lập pháp hay các quan chức chính quyền
khác để ủng hộ hay phản đối một vấn đề cụ thể, như vận động hành lang để bảo
4
5
dự luật sẽ hoặc đang được bàn thảo tại Nghị viện. Từ đó, thuật ngữ vận động
hành lang (lobby) đã ra đời.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, thì vận động chính sách công (hay
vận động hành lang) đang được nhìn nhận như là một hiện tượng xã hội có tính
thời sự.
6
Chương 2
VẬN ĐỘNG CHÍNH SÁCH CÔNG Ở MỘT SỐ QUỐC GIA
TRÊN THẾ GIỚI
2.1.
Vận động chính sách công ở Hợp chúng quốc Hoa Kỳ
2.1.1. Cơ sở pháp lý cho hoạt động vận động chính sách công ở Hợp
chúng quốc Hoa Kỳ
Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (sau đây gọi tắt là Hoa Kỳ hay Mỹ) là nơi hoạt
động vận động hành lang (hay vận động chính sách công) diễn ra sôi nổi nhất
thế giới và vận động hành lang cũng được coi là một phần không thể thiếu của
nền chính trị Hoa Kỳ (chủ yếu trong lĩnh vực chính trị, lập pháp). Xuất hiện
ngay từ khi Hoa Kỳ mới thành lập, lobby chính là một “thói quen chính trị trong
việc hình thành các chính sách của Hoa Kỳ và thói quen này đã được luật pháp
quy định và bảo hộ. Tại Hoa Kỳ, lobby được hiểu là sự vận động các nghị sĩ,
dân biểu trong Quốc hội ở cả Thượng viện và Hạ viện để họ đưa ra hay ủng hộ
các đạo luật, các nghị quyết, các quyết định mang tính chính sách có lợi cho các
bang (bao gồm cả đàm phán, giải thưởng hoặc quản lý một hợp đồng, khoản trợ
cấp, khoản vay, giấy phép); đề cử hoặc xác nhận cá nhân vào các vị trí liên quan
thuộc thẩm quyền của Thượng nghị viện. Quy định bắt buộc những người hoạt
động lobby phải đăng kí chậm nhất là sau 45 ngày, kể từ khi người vận động
hành lang thực hiện cuộc vận động đầu tiên hoặc được thuê để thực hiện cuộc
vận động, tại bất kì thời điểm nào trước thời hạn này, người vận động hành lang
phải đăng ký với Thư ký của Thượng viện và Thư ký của Hạ viện. Ngoài ra,
phải công khai hóa các khách hàng, các cuộc tiếp xúc, các vấn đề lobby và số
tiền công được chi trả.. Quy định những hạn chế cho những người làm lobby
như việc cấm các Thượng nghị sĩ và nhân viên văn phòng Thượng viện không
được nhận quà hoặc chiêu đãi đáng giá trên 100 USD mỗi người mỗi năm,
không được tham dự những chuyến đi giải trí do tự nhân đài thọ (trừ 24 trường
hợp ngoại lệ về thể lệ quà cáp và chiêu đãi). Luật này cũng buộc những người
làm lobby mỗi năm phải báo cáo với nhà nước hai lần về số tiền họ nhận của các
công ty, nhận để làm gì và thân chủ của họ là ai; và quy định rằng, bất cứ ai
được trả tiền để vận động các nhà lập pháp và các quan chức chính phủ đều
được coi là người làm lobby, nếu người ấy dùng ít nhất 20% thì giờ của mình để
đại diện cho thân chủ trong thời gian sáu tháng. Luật này cũng yêu cầu cả những
8
lobby không chuyên nghiệp và những người chỉ vận động với công nhân viên
cấp dưới của Quốc hội hay nhà nước cũng phải đăng kí, nếu vi phạm có thể bị
phạt tới 50 ngàn USD.
- Bản hướng dẫn Đạo luật về Công khai hóa hoạt động lobby năm 2011 của
Văn phòng Thư ký Hạ viện Hoa Kỳ quy định một hình phạt tiền lên đến 200.000
USD, và hình phạt tù giam có thể lên đến 5 năm đối với bất kì nhà vận động
hành lang nào không tuân thủ thủ tục đăng kí và thủ tục báo cáo công khai.
- Ngoài ra, liên quan đến hoạt động lobby còn có Bộ luật về ngân sách liên
bang (Internal Revenue Code – IRC) và Đạo luật Đăng ký đại diện cho nước
Có rất nhiều nhóm lợi ích khác nhau như: nhóm lợi ích về kinh doanh như
các tập đoàn kinh tế, các công ty đa quốc gia; nhóm hiệp hội nghề nghiệp; nhóm
liên Chính phủ; nhóm lợi ích công; nhóm công đoàn. Các nhóm lợi ích của Hoa
Kỳ hết sức đa dạng, về thực chất là các phe phái chính trị tập hợp lại với nhau vì
một lợi ích chung nào đó. Họ đấu tranh, vận động nhằm vào các bộ phận khác
nhau của Chính phủ để bảo đảm tối đa lợi ích cho nhóm mình. Nguồn gốc ra đời
của các nhóm lợi ích nằm ở chính mục tiêu khác nhau mà họ đang theo đuổi:
Thứ nhất, các nhóm lợi ích ra đời là để nhằm bảo vệ những lợi ích của họ về
kinh tế.
Thứ hai, các nhóm lợi ích cũng là sản phẩm của các phong trào xã hội, phát
triển qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử nước Mỹ. Chẳng hạn các phong
trào đấu tranh đòi bãi bỏ chế độ nô lệ, đòi tăng lương và cải thiện điều kiện làm
việc..
Thứ ba, các nhóm lợi ích ra đời nhằm tìm kiếm lợi ích từ Chính phủ trong
lĩnh vực kinh tế và cả lĩnh vực chính trị, tinh thần. Các nhóm này có tính chất
phi tập trung hóa quyền lực chính trị với các bang và các địa phương, được hình
thành ngẫu nhiên và dựa trên nhu cầu lợi ích xã hội. Các nhóm lợi ích này hoạt
động rất năng động không chỉ dồn sức cho hoạt động chính trị mà còn cho cả
những vấn đề mà họ quan tâm và thời gian tồn tại của những nhóm này là rất
ngắn. Chúng xuất hiện khi có các vấn đề xuất hiện, rồi lại biến mất khi vấn đề
được giải quyết.
Sức mạnh của các nhóm lợi ích nằm ở lá phiếu ủng hộ cho các ứng cử viên
trong các cuộc bầu cử vào các chức vụ khác nhau của Chính phủ và những đóng
góp tài chính của họ cho các chiến dịch vận động tranh cử thông qua các Uỷ ban
10
hành động chính trị (gọi tắt là PAC). Hiện nay, các nhóm lợi ích có nhiều ảnh
hưởng ở Quốc hội là: Tổ chức nông nghiệp Liên bang Mỹ, Tổ chức công đoàn
AFL – CIO, Liên đoàn người tiêu dùng Mỹ (Consumer Federation of America
bên cạnh đó, lịch sử chính trị Mỹ cũng có rất nhiều ví dụ về những ảnh hưởng
tích cực của các nhóm lợi ích với chính sách: Vào cuối thập kỉ 90, dưới sự lobby
của các tập đoàn dược phẩm hùng mạnh, việc nhập khẩu thuốc theo đơn vào Mỹ
rất ngặt nghèo. Không chịu nổi giá thuốc leo thang, các cụ già vùng Đông Bắc
Mỹ, dưới sự tổ chức của các hội hưu trí, đã đi xe buýt sang Canada mua thuốc
trái phép. Phong trào bất tuân dân sự này ảnh hưởng mạnh mẽ đến chính quyền.
Dù cuộc chiến pháp lý giữa các tập đoàn thuốc và người tiêu dùng còn tiếp diễn,
nhưng hàng loạt tiểu bang đã mặc cả với các hãng thuốc để giảm giá cho người
nghèo hay nới lỏng quy định nhập khẩu thuốc.
2.1.3. Hoạt động vận động chính sách công tại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ
Hầu hết các thông tin về hoạt động lobby ở Hoa Kỳ đều được công khai cho
công chúng biết. Thông qua hệ thống mạng Internet người ta có thể biết được
hoạt động lobby đang diễn ra như thế nào ở Mỹ. Qua những chương trình lobby
này người ta cũng có thể đoán trước những thay đổi trong chính trường Mỹ hoặc
chính sách kinh tế, thương mại của Chính phủ. Vì bao giờ các cuộc vận động
hành lang cũng đi trước các chính sách được đưa ra. Các nhà vận động hành
lang (lobbyist) ở Mỹ có quan hệ khá tốt với giới chức, có hiểu biết về chính trị
nhưng những kiến thức về kinh doanh lại giới hạn. Người dân có thể tiếp cận
giới chức rất dễ dàng và khi là lobbyist họ càng dễ dàng tiếp cận với chính
khách Hoa Kỳ. Giới chức phải có nhiệm vụ nghe những trình bày đó trước khi
đưa ra quyết định có liên quan. Về mặt lý thuyết và nguyên tắc, vận động chính
sách công (hay vận động hành lang) là nhằm làm cho hệ thống làm luật và thi
hành luật đáp ứng lợi ích của người tiến hành vận động hành lang. Các hoạt
động vận động hành lang được tiến hành theo quy trình: các nhóm vận động
hành lang Quốc hội phải đăng ký vào cơ sở dữ liệu trung ương và sau đó những
người làm lobby tham gia một phiên họp điều trần của các nhà lập pháp để nghe
báo cáo, những chất vấn chính thức và không chính thức với các quan chức nhà
nước được bầu hay bổ nhiệm. Tiếp theo các nhà vận động hành lang sẽ gửi
những kết quả nghiên cứu hay thông tin kỹ thuật tới các quan chức có liên quan,
tìm cách quảng bá một chủ đề, soạn thảo những dự luật có khả năng được đệ
thể có quyền lợi liên quan khác. Nhưng mặt khác, điều không thể phủ nhận là
vận động phải có năng lực tài chính để chi trả cho hoạt động điều tra, thu thập
thông tin và tác động.
13
Thực tế hiện nay, tại Hoa Kỳ, trong nền chính trị hiện đại, lobby chính là
việc dùng thế lực tiền bạc để vận động và làm áp lực để Quốc hội hoặc các cơ
quan nhà nước hành động theo chiều hướng phục vụ quyền lợi của các nhóm lợi
ích. Ngay cả một số cơ quan Chính phủ trung ương và địa phương cũng dùng
tiền bạc để lobby các nhà lập pháp. Nhưng đồng tiền khi dính với quyền lực
chính trị sẽ dẫn đến nguy cơ bè đảng, cướp đi cơ hội của những nhóm yếu thế
được có tiếng nói trong quá trình ra quyết định. Đây cũng là khe hở để các thế
lực tài chính hùng mạnh có thể giành lợi thế trong các cuộc chạy đua vận động
và bóp méo công lý. Một số người vận động hành lang đã lợi dụng cơ chế này
để đóng góp tiền cho các chiến dịch chính trị và dành cho các quan chức được
bầu những đặc lợi và tất nhiên toàn bộ những đóng góp này cũng luôn luôn kèm
với kỳ vọng sẽ được đối xử thuận lợi trong một số vấn đề sau này. Và thực tế, có
thể gọi chúng là “của đút lót tế nhị được nguỵ trang khéo léo”. Còn về hình thức
hoạt động, lobby không phải lúc nào cũng ở trong phòng họp, trên các phiên họp
của nghị viện hay các uỷ ban của nghị viện, mà chủ yếu ở ngoài hành lang và
hết sức phong phú bên ngoài trụ sở nghị viện với các cấp độ khác nhau. Một số
những chuyên viên vận động hành lang có những hành động kèm theo những
quà cáp bất hợp pháp trong lúc đề đạt ý nguyện của khách hàng đến các nhà làm
luật. Những món quà đó có thể là tiền bạc hay những chuyến đi nghỉ, đi chơi xa
thật đắt tiền. Những người làm lobby luôn sẵn sàng để chiều theo sở thích, ý
muốn của những nhân vật quyền thế trong mọi tình huống. Các chuyên gia
lobby cũng bằng nhiều cách khác nhau tự tìm những con đường ngắn nhất và
hiệu quả nhất để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng. Sam Ward, một trong
những người được mệnh danh là “ông vua lobby” của Hoa Kỳ, đã triệt để áp
thực tế, con số này có thể xấp xỉ lên tới 100.000 người. Các nhóm lobby đại diện
cho lợi ích kinh doanh của các tập đoàn tư bản chiếm tới 72% như: công nghiệp
quốc phòng, dầu khí, hay phục vụ nước ngoài. Trong khi chỉ có 8% đại diện cho
các tổ chức xã hội nghề nghiệp, khoảng 5% đại diện cho các nhóm bảo vệ dân
quyền, phúc lợi xã hội, 2% đại diện cho người nghèo và chỉ 1% đại diện cho
những nhóm yếu thế trong xã hội như người già, người tàn tật.
Qua số liệu trên cho thấy, số người hành nghề vận động hành lang đại diện
cho quyền lợi của giới kinh doanh và doanh nghiệp chiếm số lượng áp đảo. Các
nhóm lobby này có một sức mạnh đáng kể trong quá trình xây dựng chính sách
15
và pháp luật ở Mỹ. Mặc dù các nghị sĩ phải chịu sự chỉ đạo của các nhóm đảng
phái trong Hạ viện và Thượng viện khi bỏ phiếu, song họ vẫn phải dành sự quan
tâm đáng kể đến ý kiến của công luận và của cử tri tại các quận hay bang của
mình. Nếu một nghị sĩ nhận được yêu cầu của một số lượng đáng kể cử tri về
một vấn đề nào đó, trong lúc ban lãnh đạo đảng yêu cầu vị này phải bỏ phiếu
khác đi, thì tiếng nói của cử tri mới là nhân tố chi phối kết quả bỏ phiếu cuối
cùng. Khi các nhóm lợi ích cùng kết thành một hiệp hội, có sự liên kết hơn, họ
sẽ hình thành một tổ chức vận động hành lang có tính chất chuyên nghiệp. Với
các chuyên gia chuyên vận động hành lang dựa vào mối quan hệ tương hỗ giữa
các nghị sĩ, tiếng nói của họ sẽ được chú ý hơn trước Quốc hội, khiến cho Quốc
hội khó có thể bỏ qua ý kiến của các liên minh trước những vấn đề chính sách
lớn. Hoặc có trường hợp các nghị sĩ phe thiểu số khi cần có tiếng nói ủng hộ thì
tiếng nói của liên minh là bằng chứng cho sự ủng hộ rộng rãi đối với quan điểm,
chính sách đó. Vận động hành lang (hay vận động chính sách công) ở Mỹ đã và
đang là một tồn tại mang tính chính trị – pháp lý – xã hội, có tác động mạnh mẽ
đến Quốc hội và Chính phủ trong tất cả các công đoạn của quá trình xây dựng
pháp luật và hình thành chính sách đối nội, đối ngoại. Có thể kể đến một ví dụ
như thế này: việc bầu cử thường rất tốn kém, nên hệ thống chính trị cần nhiều
Vận động chính sách công ở Cộng hòa Liên bang Đức
2.2.1. Quan niệm về vận động chính sách công ở Cộng hòa Liên bang Đức
Ở Cộng hòa Liên bang Đức (sau đây gọi tắt là Đức), thì vận động chính sách
công được nhìn nhận như một “nhánh quyền lực thứ năm”, bên cạnh quyền lập
pháp, hành pháp, tư pháp và báo chí. Không những vậy, hoạt động này còn được
nhìn nhận một cách tích cực, được pháp luật bảo hộ và có những tiêu chuẩn nhất
định. Vận động chính sách công ra đời ở Đức từ rất sớm. Nó đã phát triển mạnh
trong một nhà nước đa nguyên, dân chủ và tôn trọng tự do ngôn luận, báo chí,
hiệp hội. Trong lịch sử, việc vận động chính sách công đã xuất hiện từ khi thiết
lập nhà nước Đức năm 1871. Với việc thành lập nhà nước Cộng hòa Liên bang
Đức năm 1949 thì hàng loạt các tổ chức đại diện cho lợi ích của các nhóm xã hội
đã ra đời. Đến những năm 1970 và đặc biệt là từ những năm 1990 đến nay thì
hoạt động vận động chính sách công ở Đức đã diễn ra rất sôi động với sự xuất
hiện đa dạng những hiệp hội, tổ chức đại diện cho các nhóm lợi ích, phạm vi chủ
thể và hình thức vận động chính sách đã không ngừng được mở rộng và đa dạng
hóa. Mục tiêu của những chủ thể vận động chính sách công, trước hết là hướng
17
tới Nghị viện và Chính phủ, họ cung cấp thông tin cần thiết cho những chủ thể
này, thông qua đó tác động đến các chính sách.
Cộng hòa Liên bang Đức ngày nay là một nhà nước đa nguyên và mở. Hệ
thống chính trị Đức đặc trưng bởi hệ thống chính trị đa đảng, với nhà nước có
cấu trúc liên bang, có sự phân quyền mạnh giữa trung ương và địa phương.
Chính vì vậy, các hiệp hội ở Đức rất phát triển, ước tính đến nay có khoảng
600.000 hiệp hội. Hiện tại, ở Đức có hai tổ chức quan trọng hoạt động chuyên
nghiệp trong vận động chính sách công là Hiệp hội tư vấn chính sách Đức
DeGePol (tiếng Đức là Deutsche Rat fur Politikberatung e.V.) và Tổ chức tư vấn
phẩm về sự nguy hại của thuốc lá, nhưng ủng hộ việc không thể cấm thuốc lá ở
mọi nơi vì đó là một phần của sự tự do lựa chọn. Sự đa dạng trong cách giải
thích, tiếp cận về vận động chính sách công đều cho thấy những đặc trung cơ
bản của hoạt động này ở Đức. Theo đó vận động chính sách công trước hết phải
là hành động hợp pháp, phải tác động đến những chủ thể có quyền ra quyết định
và cơ chế tác động chủ yếu thông qua việc cung cấp thông tin chính xác, minh
bạch.
2.2.2. Cơ sở pháp lý của hoạt động vận động chính sách công ở Cộng hòa
Liên bang Đức
Cơ sở pháp lý của hoạt động vận động chính sách ở Đức được quy định rõ
trong Bộ quy tắc thủ tục của các Bộ Liên bang (Joint Rules of Procedure of the
Federal Ministries) ở điều 47 của quy định cơ sở pháp lý cho hoạt động của các
chủ thể vận động chính sách. Điều 48 cũng quy định về việc mời các tổ chức đại
diện các nhóm lợi ích địa phương và các tổ chức đại diện của các cá nhân có liên
quan đến dự thính các phiên họp của các Uỷ ban của Hạ viện. Ngoài ra, nhằm
ngăn chặn những tiêu cực từ hoạt động vận động chính sách, hướng tới cơ chế
minh bạch, Luật hình sự và Luật công vụ ở Đức cũng có những quy định liên
quan, chẳng hạn như Bộ luật hình sự quy định về việc cán bộ, công chức tham
nhũng, nhận hối lộ.. tại các điều 108 khoản e, các điều từ 331 đến điều 335. Luật
công vụ cũng quy định về các loại hành vi của công chức không được làm chẳng
hạn nghiêm cấm công chức nhân quà và lợi ích từ bên thứ ba, kể cả các chuyến
du lịch, lời mời, các hoạt động giải trí hay bất cứ hoạt động nào có tính tư lợi.
19
2.2.3. Thực tiễn vận động chính sách công ở Cộng hòa Liên bang Đức
Trước hết, cần phải khẳng định lại một lần nữa, rằng vận động chính sách
công ở Đức được thực hiện bởi nhiều loại chủ thể khác nhau. Đó có thể là Hiệp
hội doanh nghiệp, tổ chức công đoàn, các tổ chức phi chính phủ (NGO) và các
kiến nghị sửa đổi này đến được các chủ thể ra quyết định, đồng thời, đưa ra
được nội dung chính của báo cáo vận động chính sách công ra thảo luận tại các
diễn đàn hay hội thảo quan trọng. Việc gửi các báo cáo vận động đến một nghị
sĩ hay nói chuyện với một quan chức Chính phủ trong quá trình diễn ra một sự
kiện là cách thức vận động hợp pháp nhằm gây ảnh hưởng. Báo cáo vận động
chính sách công có thành công hay không phụ thuộc vào việc báo cáo đó có
mang tính thuyết phục, dựa trên những lập luận có căn cứ hay không. Chính các
nghị sĩ cũng có bộ phận giúp việc có chuyên môn cao. Các báo cáo vận động
chính sách công mà các chủ thể vận động đưa ra sẽ không thể được xem xét, nếu
như không đưa ra được những phản biện hay lập luận thuyết phục. Đồng thời
trong chiến lược vận động của mình, các nhà vận động chính sách công cũng nỗ
lực gây ảnh hưởng lên nhận thức chung, thông qua phương tiện thông tin đại
chúng. Ở giai đoạn này, họ tận dụng tối đa các nguồn lực báo chí, công luận, các
diễn đàn để đưa ra những quan điểm và lập luận. Đặc biệt, ở Đức còn có các
chương trình truyền hình về phân tích chính sách, các nhà vận động chính sách
công sẽ được tham gia với tư cách là khách mời. Trong các chương trình như thế
này, họ có thể bày tỏ quan điểm của mình, tranh luận với các khách mời khác về
chính sách liên quan. Các chủ thể vận động thường có quan hệ tốt với các đối
tác truyền thông, với các chiến dịch truyền thông, họ tác động lên mọi chủ thể,
thậm chí cả trong các tài liệu giảng dạy ở các trường đại học, thông qua việc tài
trợ các ấn phẩm sách, hay các hình thức quảng cáo..
Vận động chính sách công ở Đức là những hoạt động minh bạch, hợp pháp,
hướng tới bảo vệ nhóm lợi ích cụ thể. Theo danh sách các hiệp hội của Hạ viện
Đức thì tính đến tháng 9/2015 có khoảng 2.221 hiệp hội vận động chính sách
công ở cấp quốc gia. Danh sách này do Chủ tịch Hạ viện Đức đề xuất và được
cập nhật thường xuyên, có thể truy cập trực tuyến. Việc đăng ký danh sách là tự
nguyện và chỉ cần rất ít thông tin như tên hiệp hội, địa chỉ, hội đồng quản lý và
điều hành, các lợi ích, số thành viên, các nhà vận động chính sách công và địa
chỉ văn phòng ở Berlin. Riêng vấn đề ngân sách của hiệp hội đó thì không cần
21
trong đó. Điều quan trọng là phải tạo ra môi trường, cơ hội để các nhóm lợi ích
được tranh luận công khai. Do vậy, cần luật hóa hoạt động vận động chính sách
22
công, quy định rõ điều kiện của các chủ thể vận động chính sách, hình thức vận
động chính sách và đưa hoạt động này vào nề nếp. Nhìn chung, xu hướng kiểm
soát việc vận động chính sách công không minh bạch bằng việc luật hóa các
điều kiện chủ thể, hình thức vận động và cơ chế giám sát hoạt động vận động
chính sách.
Có thể thấy rằng, vận động chính sách công là một hiện tượng xã hội có tính
thời sự ở Đức, sở dĩ cơ chế vận động chính sách công ở Đức có thể ra đời và
phát triển được khá tốt là do nước Đức có hệ thống chính trị đa đảng, với nhà
nước có cấu trúc liên bang và phân quyền mạnh giữa trung ương và địa phương.
23
Chương 3
VẬN ĐỘNG CHÍNH SÁCH CÔNG Ở VIỆT NAM
3.1.
Quan niệm về vận động chính sách công ở Việt Nam
Ở một khía cạnh nào đó, những kiểu "chạy" giấy phép, "chạy" dự án của các
doanh nghiệp Việt Nam có thể xem là một phần của hoạt động “lobby”. Tại các
nước có nền kinh tế phát triển như Anh, Mỹ thì “lobby” là một nghề được luật
pháp công nhận. Nhưng ở Việt Nam thì những hoạt động này lại bị xem là bất
hợp pháp. Trong một bài phỏng vấn, Bà Tôn Nữ Thị Ninh, Nguyên Phó Chủ
nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội đã bày tỏ ý kiến rằng: “Mặc dù trong