Bài tập nhóm Luật kinh doanh bảo hiểm Nhóm 9 – N02
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------
BÀI TẬP NHÓM
MÔN : LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM
Page 1
Bài tập nhóm Luật kinh doanh bảo hiểm Nhóm 9 – N02
ĐỀ BÀI:12
Tìm hiểu về bản chất và vai trò của sản phẩm bảo
hiểm nhân thọ liên kết đầu tư, từ đó nêu một số
giải pháp chính sách để phát triển loại sản phẩm
này
LỚP
: N02
NHÓM
: 09
Hà Nội, 2015
Hà Nội, 2015
số giải pháp góp phần phát triển sản phẩm này ở Việt Nam.
Page 4
Bài tập nhóm Luật kinh doanh bảo hiểm Nhóm 9 – N02
Thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện
Qua quá trình tìm hiểu chúng em đã có cái nhìn tổng thể về bảo hiểm nhân
thọ nói chung và sản phẩm BHNTLKĐT nói riêng, qua đó cập nhật và củng cố
thêm nhiều thông tin về các sản phẩm bảo hiểm. Tuy nhiên, do kiến thức còn hạn
chế cũng như nguồn tài liệu về sản phẩm bảo hiểm này có rất ít nên cũng gặp phải
một số những vướng mắc nhất định trong việc thu thập thông tin để thực hiện bài
tập. Sản phẩm BHNTLKĐT là một sản phẩm bảo hiểm mới tại Việt Nam, cũng
chưa được quy định trong các văn bản pháp luật cụ thể, nên đây cũng được coi là
một thiếu sót của pháp luật nước ta. Có thể nói, vướng mắc lớn nhất trong quá trình
nghiên cứu đề tài này chính là do không có đủ cơ sở pháp lý nhất định và kiến thức
chuyên ngành còn hạn chế nên việc trình bày và tổng hợp bài chưa thể đầy đủ.
Page 5
Bài tập nhóm Luật kinh doanh bảo hiểm Nhóm 9 – N02
NỘI DUNG
I. Những vấn đề lý luận chung
1. Khái niệm bảo hiểm
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm
Theo Dennis Kessler: Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh
của số ít.
Theo Monique Gaullier: Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là
hữu hình đó là những giấy tờ trên đó có in biểu tượng của doanh nghiệp bảo hiểm,
in tên gọi của sản phẩm, in những nội dung thỏa thuận…nhưng khách hàng không
chỉ ra được màu sắc, kích thước,hình dáng hay mùi vị của sản phẩm. Nói cách
khác sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vô hình – người ta không thể cảm nhận sản
phẩm bảo hiểm qua các giác quan của mình. Tính vô hình của sản phẩm bảo hiểm
làm cho việc giới thiệu, chào bán trở nên khó khăn hơn. Đa số các sản phẩm hữu
hình có thể được trưng bày trong các cửa hàng, được vẽ trên các biển hiệu hay tờ
rơi quảng cáo… do đó khách hàng dễ dàng nhận biết được sự tồn tại của sản phẩm.
Tuy nhiên đối với các sản phẩm bảo hiểm thì không như vậy. Khi mua sản phẩm
bảo hiểm, người mua chỉ nhận được lời hứa, lời cam kết về những bảo đảm vật
chất trước các rủi ro.
- Tính không thể tách rời và không thể cất trữ:
Sản phẩm bảo hiểm không thể tách rời – tức là việc tạo ra sản phẩm dịch vụ bảo
hiểm trùng với việc tiêu dùng sản phẩm đó (quá trình cung ứng và quá trình tiêu
thụ là một thể thống nhất). Thêm vào đó, sản phẩm bảo hiểm không thể cất trữ
được – có nghĩa là khả năng sử dụng dịch vụ bảo hiểm vào một thời điểm nào đó
sẽ không thể cất vào kho dự trữ để sử dụng vào một thời điểm khác trong tương lai.
Điều này hoàn toàn khác biệt với sản phẩm hữu hình. Tính không thể tách rời và
không thể cất trữ đòi hỏi doanh nghiệp bảo hiểm phải chú trọng đến lượng thời
gian dành cho bán hàng và cần nâng cao năng lực của các bộ phận cung cấp dịch
vụ.
Page 7
Bài tập nhóm Luật kinh doanh bảo hiểm Nhóm 9 – N02
- Sản phẩm bảo hiểm là dịch vụ thương mại theo cam kết trong hợp đồng bảo
hiểm.
- Sản phẩm bảo hiểm có tính tài sản.
Giá trị của sản phẩm bảo hiểm được xác định bằng tiền. Khi giao kết hợp
đồng bảo hiểm thì người mua bảo hiểm chấp nhận trả cho doanh nghiệp bảo hiểm
phi nhân thọ.
- Theo tính bắt buộc thì sản phẩm bảo hiểm bao gồm: bảo hiểm bắt buộc ( bảo
hiểm cháy nổ, bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm công
trinh…….) ; bảo hiểm tự nguyện.
3. Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ liên kết đầu tư.
* Khái niệm: Sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư là sản phẩm bảo hiểm nhân
thọ mà ngoài những quyền lợi bảo hiểm giống như sản phẩm BHNT thuần túy, bên
mua bảo hiểm còn được tham gia vào quỹ đầu tư của DNBH và được chia lãi đầu
tư từ quỹ này.1
* Đặc điểm
Thứ nhất, các yếu tố như hoạt động đầu tư, chi phí và chi phí quản lý, lợi
nhuận của quỹ…đều được tách biệt và công bố rõ với khách hàng theo định kỳ
Thứ hai, Rủi ro và lợi nhuận từ hoạt động đầu tư của hợp đồng bảo hiểm: Được
chuyển từ doanh nghiệp bảo hiểm sang cho bên mua bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm
sẽ là người lựa chọn việc phí bảo hiểm của mình sẽ được đầu tư vào đâu bằng việc
sở hữu một số đơn vị của quỹ đầu tư (tương ứng với số phí đóng bảo hiểm). Thông
thường doanh nghiệp bảo hiểm sẽ đưa ra các quỹ đầu tư khác nhau với mức độ rủi
ro cũng sẽ khác nhau. Rủi ro càng cao lợi nhuận cũng sẽ càng nhiều và ngược lại.
Giá trị mà bên mua bảo hiểm nhận được khi đáo hạn hợp đồng là giá trị của các
đơn vị quỹ đầu tư khi đáo hạn. Như vậy khi quỹ đầu tư hoạt động tốt, bên mua bảo
hiểm sẽ là người được hưởng lợi do giá trị của một đơn vị quỹ đầu tư đã tăng lên.
1 Một số vấn đề pháp lý về sản phẩm bảo hiểm nhân thọ - Ths Trần Vũ Hải – Tạp chí Luật học số 8/2011
Page 9
Bài tập nhóm Luật kinh doanh bảo hiểm Nhóm 9 – N02
Ngược lại trong trường hợp rủi ro giá trị của các đơn vị đầu tư không tăng hoặc bị
giảm sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm sẽ được nhận,
mà không có sự bù đắp nào từ phía doanh nghiệp bảo hiểm. Thậm chí có những
- Sản phẩm BHNT liên kết đầu tư đơn vị (unit-linked life), là sản phẩm BHNT
thuộc nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư và có các đặc điểm:
• Cơ cấu phí bảo hiểm và quyền lợi bảo hiểm được tách bạch giữa phần bảo
hiểm rủi ro và phần đầu tư. Bên mua bảo hiểm được linh hoạt trong việc xác
định phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm theo thoả thuận tại hợp đồng bảo
hiểm.
• Bên mua bảo hiểm được quyền lựa chọn đầu tư phí bảo hiểm của mình để
mua các đơn vị của các quỹ liên kết đơn vị do doanh nghiệp bảo hiểm thành
lập, được hưởng toàn bộ kết quả đầu tư và chịu mọi rủi ro đầu tư từ các quỹ
liên kết đơn vị đã lựa chọn tương ứng với phần phí bảo hiểm đã đầu tư. Việc
mua, bán các đơn vị quỹ chỉ được thực hiện giữa doanh nghiệp bảo hiểm và
bên mua bảo hiểm.
• Doanh nghiệp bảo hiểm được hưởng các khoản phí do bên mua bảo hiểm trả
theo thoả thuận tại hợp đồng bảo hiểm.3
Như vậy, ở sản phẩm BHNT liên kết đầu tư chung, bên bảo hiểm được
hưởng kết quả đầu tư từ quỹ đầu tư chung và không thấp hơn mức cam kết tối
thiểu do DNBH đưa ra. Còn ở sản phẩm BHNT liên kết đầu tư đơn vị, bên mua
bảo hiểm được quyền lựa chọn đầu tư phí bảo hiểm của mình để mua các đơn vị
của một hoặc nhiều quỹ đầu tư liên kết đơn vị do DNBH thành lập, được hưởng
toàn bộ kết quả đầu tư và chịu rủi ro đầu tư từ các quỹ liên kết đơn vị đã lựa chọn
tương ứng với phần phí bảo hiểm đã đầu tư. Về nguyên tắc, phí bảo hiểm trong các
sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư được tách bạch giữa phần phí dành cho bảo
hiểm và phí dành cho đầu tư. Trong phần phí dành cho đầu tư, bên mua bảo hiểm
có tư cách như là nhà đầu tư ủy thác, chịu trách nhiệm đối với khoản đầu tư của
mình theo thỏa thuận với DNBH.
II. Bản chất và vai trò của sản phẩm bảo hiểm nhân thọ liên kết đầu tư
1. Bản chất của sản phẩm bảo hiểm nhân thọ liên kết đầu tư
3 Thông tư 135/2012/TT-BTC hướng dẫn triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị
thông thường, để sản xuất một sản phẩm nhất định, chủ thể kinh doanh phải bỏ ra
các chi phí, sau đó bán hàng mới có được doanh thu nhưng đối với sản phẩm
Page 12
Bài tập nhóm Luật kinh doanh bảo hiểm Nhóm 9 – N02
BHNT , DNBH sẽ nhận phí bảo hiểm từ bên mua bảo hiểm ( về bản chất là doanh
thu ) rồi sau đó mới phải trả tiền bảo hiểm ( về bản chất là chi phí ) khi xảy ra sự
kiện bảo hiểm. Chính vì vậy đã có quan điểm cho rằng kinh doanh bảo hiểm doanh
bảo hiểm nói chung và BHNT nói riêng có chu trình kinh doanh đảo ngược.
Đối với sản phẩm BHNT việc định phí bảo hiểm là qua trình kĩ thuật phức
tạp liên quan đến quy luật số đông, bằng tỉ lệ tử vong cũng như các yếu tố kĩ thuật
khác. Mỗi sản phẩm bảo hiểm được thiết kế, do quyền lợi của khách hàng khác
nhau nên việc định phí cũng khác nhau.
Ba là, sản phẩm BHNT rất đa dạng và có tính đa mục đích trong từng sản
phẩm.
Do tính chất là nghiệp vụ bảo hiểm con người nên BHNT dựa trên nguyên
tắc khoán số tiền bảo hiểm chứ không dựa trên nguyên tắc bồ thường ngang bằng
tổn thất như trong bảo hiểm phi nhân thọ. Chính vì vậy khả năng đóng phí của
khách hàng sẽ là yếu tố quyết định đén việc lựa chọn sản phẩm bảo hiểm phù hợp.
Do đó để đáp ứng khả năng nộp phí khác nhau, cung với những nhu cầu khác nhau,
DNBH phải thiết kế nhiều sản phẩm BHNT để phù hợp với từng nhóm khách hàng
nhất định vì thế tồn tại nhiều loại sản phẩm BHNT trên thị trường bảo hiểm và các
sản phẩm mới xuất hiện ngày càng đa dạng.
Bốn là, sản phẩm BHNT được thể hiện thông qua hợp đồng BHNT và các
hoạt động của DNBH để đáp ứng nhu cầu liên quan của khách hàng trong quá trình
thực hiện hợp đồng.
Cơ chế để DNBH cung cấp sản phẩm, BHNT là thông qua hợp đồng BHNT.
Cơ chế hợp đồng được pháp luật đảm bảo bằng các quy định nhằm tạo vị thế bình
đẳng giữa các bên tham gia. Các cam kết của DNBH về sản phẩm bảo hiểm được
tăng thêm quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm. Về lý thuyết, lãi suất kĩ thuật
thường dựa trên các căn cứ như lãi suất huy động vốn không kì hạn của ngân hàng
thương mại,lãi suất bình quân trái phiếu Chính phủ vv..
Cơ sở kĩ thuật cơ bản cuối cùng của sản phẩm BHNT là việc định phí bình
quân. Trên thực tế, mức phí bảo hiểm thực hay còn gọi là mức phí tự nhiên mà bên
Page 14
Bài tập nhóm Luật kinh doanh bảo hiểm Nhóm 9 – N02
mua bảo hiểm phải nộp sẽ khác nhau từng năm, từng giai đoạn trong cuộc đời
người được bảo hiểm vì mức độ rủi ro ở mỗi giai đoạn cuộc đời là khác nhau. Tuy
nhiên trên thực tế các DNBH cung cấp sản phẩm BHNT đều đưa ra mức phí bằng
nhau mà bên mua bảo hiểm phải nộp cho từng năm tránh những phiền toái trong
quá trình quản lí bảo hiểm. Ở những năm đầu, mức bảo hiểm sẽ cao hơn so với
mức phí thực, còn những năm cuối lại thấp hơp mức phí thực.
Sáu là, sản phẩm BHNT thường được DNBH cung cấp với thời hạn tương đối dài.
Khác với bảo hiểm phi nhân thọ đa số chỉ có thời hạn từ một năm trỏ xuống
thì sản phẩm BHNT có thời hạn bảo hiểm là tương đối dài. Điều này đảm bảo cho
khả năng đầu tư của doanh nghiệp từ nguồn phí bảo hiểm, từ đó đảm bảo được tính
tiết kiệm của hợp đồng bảo hiểm,thời hạn bảo hiểm dài cũng giúp cho bên mua bảo
hiểm có khả năng nộp phí bảo hiểm để tham gia những hợp đồng bảo hiểm có giá
trị lớn, đạp ứng được nhu cầu bảo hiểm, tiết kiệm và đầu tư của mình. Riêng đối
với sản phẩm bảo hiểm tứ kì, do chỉ có tính chất bảo hiểm thuần túy nên có thể
được cung cấp với thời hạn bảo hiểm ngắn, thường là một năm.
Thời hạn bảo hiểm dài cũng ảnh hưởng đến kĩ thuật quản lí đối với sản phẩm
bảo hiểm cũng như các quy định pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi cho người được
bảo hiểm hoặc người được thụ hưởng, không như các sản phẩm bảo hiểm phi nhân
thọ, trong pháp luật về kinh doanh BHNT ghi nhận nhiều quy định bảo vệ quyền
lợi người tham gia bảo hiểm như gia hạn nộp phí, miễn truy xét.vv..
Thứ hai, Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ liên kết đầu tư là sản phẩm bảo hiểm
chịu tổn thất khi các giá trị các đơn vị quỹ giảm.
Thứ ba,Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ liên kết đầu tư là một kênh đầu tư của
khách hàng thông qua các công ty bảo hiểm nhân thọ. Sản phẩm này giúp cho
khách hàng thỏa mãn đồng thời hai nhu cầu là được bảo vệ và tham gia đầu tư.
2. Vai trò của sản phẩm bảo hiểm nhân thọ liên kết đầu tư.
Bảo hiểm nhân thọ liên kết đầu tư là một nghiệp vụ của bảo hiểm nhân thọ
do đó nó có đầy đủ những vai trò của bảo hiểm nhân thọ đó là:
Page 16
Bài tập nhóm Luật kinh doanh bảo hiểm Nhóm 9 – N02
- Góp phần ổn định tài chính cho người tham gia hoặc người được hưởng quyền lợi
bảo hiểm.
- Góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước và tăng thêm quyền lợi cho
người lao động
- Là công cụ để thu hút vốn đầu tư hữu hiệu
- Tạo ra số lượng công ăn việc làm lớn cho người lao động
- Là biện pháp đầu tư hợp lý cho giáo dục và góp phần tạo nên một tập quán, một
phong cách sống mới.
Ngoài ra, sản phẩm bảo hiểm nhân thọ liên kết đầu tư còn có một số vai trò
sau:
2.1 Vai trò của sản phẩm bảo hiểm nhân thọ liên kết đầu tư đối với công ty
bảo hiểm nhân thọ.
Đầu tiên phải kể đến đó là việc chuyển giao rủi ro đầu tư cho các chủ hợp
đồng. Các công ty bảo hiểm nhân thọ ngày càng thấy khó khăn hơn trong việc đảm
bảo các khoản lợi tức đã cam kết với chủ hợp đồng, nhất là trong bối cảnh thị
trường tài chính luôn có những biến động và các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
thường là dài hạn.
Thứ hai đó là hiệu quả sử dụng vốn. Những yêu cầu về khả năng thanh toán
Thứ ba là tính minh bạch. Đối với các hợp đồng tham gia chia lãi truyển
thống thì việc xác định khoản mục đầu tư hoặc thu nhập đầu tư sẽ không rõ ràng và
minh bạch bằng hợp đồng liên kết đầu tư
Thứ tư là khả năng chuyển đổi khoản mục đầu tư giữa các quỹ. Các công ty
bảo hiểm cho phép các chủ hợp đồng chuyển đổi danh mục một số lần nhất định
mà không tính phí phụ trội.
III. Thực trạng và một số giải pháp, chính sách để phát triển sản phẩm bảo
hiểm nhân thọ liên kết đầu tư.
Page 18
Bài tập nhóm Luật kinh doanh bảo hiểm Nhóm 9 – N02
1. Tiềm năng phát triển và những kết quả đạt được trong việc kinh doanh sản
phẩm bảo hiểm nhân thọ liên kết đầu tư ở nước ta hiện nay.
1.1 Tiềm năng phát triển
Theo ông Robert A. Cook, Chủ tịch và Giám đốc Điều hành Manulife Châu
Á, cơ hội phát triển tại thị trường Châu Á rất lớn. Tầng lớp trung lưu tại Châu Á dự
kiến sẽ đạt 1,7 tỉ người trước năm 2020 và con số này dự kiến sẽ còn tăng gấp đôi
lên 3,2 tỷ người vào năm 2030. Khi một người bước vào tầng lớp trung lưu, họ sẽ
sẵn sàng hơn trong việc sử dụng một phần thu nhập để đầu tư vào các giải pháp
hưu trí hay bảo vệ tài chính như bảo hiểm nhân thọ.
Người Châu Á cũng đang già đi nhanh do tuổi thọ tăng lên. Do đó, nhu cầu
về hưu trí hay các giải pháp bảo vệ sức khỏe và y tế sẽ tăng rất nhanh. Xu hướng
này đang có những tác động đáng kể đến ngành bảo hiểm nhân thọ trong khu vực.
Giờ đây, tập trung vào khách hàng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Chúng tôi
phải cải tiến phương thức đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cao của khách hàng mà
vẫn đảm bảo được mọi tiêu chuẩn về chất lượng. Điều này có nghĩa là chúng tôi có
khả năng cung cấp những sản phẩm phù hợp với nhu cầu của khách hàng đồng thời
phải không ngừng đầu tư về con người và nguồn lực để đảm bảo thực hiện được
điều đó.
chính) ước đạt 5.650.133 hợp đồng, tăng 10,07% so với cùng kỳ năm trước. Trong
đó, sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp chiếm tỷ trọng đa số (56,44%), tiếp đến là sản
phẩm tử kỳ (22,12%), sản phẩm liên kết đầu tư (19,99%), các sản phẩm còn lại
chiếm 1,4%. Các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao về số lượng hợp đồng có
hiệu lực bao gồm PVI Sunlife, Generali, Aviva, Prévoir, Hanwha, VCLI4.
Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 135/2012 ngày 15 tháng 8 năm 2012
quy định về việc triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị của các doanh
nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ (Bảo hiểm liên kết đơn vị là sản phẩm bảo
hiểm nhân thọ thuộc nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư).
2. Những khó khăn, vướng mắc
Trong quá trình triển khai sản phẩm bảo hiểm nhân thọ liên kết đầu tư vẫn còn
gặp phải một số khó khăn, vướng mắc xuất phát từ một số nguyên nhân sau:
4 https://luattaichinh.wordpress.com/2015/03/02/tong-quan-thi-truong-bao-hiem-viet-nam-nam-2014/
Page 20
Bài tập nhóm Luật kinh doanh bảo hiểm Nhóm 9 – N02
Thứ nhất, thị trường chứng khoán của Việt Nam chưa phát triển mạnh mẽ. Số
lượng cổ phiếu, chứng chỉ quỹ niêm yết tăng nhanh nhưng chưa thật sự đa dạng và
phong phú, hiện vẫn còn thiếu các loại quỹ đầu tư, nhất là quỹ đầu tư ủy thác. Bên
cạnh đó, hiểu biết của người dân về tài chính, chứng khoán và đầu tư có bài bản
còn rất ít, tập trung chủ yếu ở các thành phố, đô thị lớn. Vì vậy lượng “khách hàng
tiềm năng’ của loại hình bảo hiểm này chắc chắc rất hạn chế.
Thứ hai, chịu áp lực cạnh tranh lớn từ các định chế tài chính khác như công
ty chứng khoán, quỹ đầu tư, ngân hàng đầu tư… với sản phẩm đa dạng, liện lợi và
hấp dẫn.
Thứ ba, chịu ảnh hưởng của sự thay đổi về chính sách thuế, phí quản lý tài
sản đầu tư của Nhà nước
Như vậy, chúng ta thấy rằng sản phẩm bảo hiểm nhân thọ liên kết đầu tư sẽ
của sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư của các danh nghiệp bảo hiểm.Đồng thời,
cần phát triển kinh tế đất nước để thị trường chứng khoán được ổn định và phát
triển.
Về phía khách hàng: cần có những hiểu biết về loại sản phẩm này cũng như
tài chính, chứng khoán để có thể tham gia loại sản phẩm này có hiệu quả.
KẾT LUẬN
Qua việc tìm hiểu về bản chất và vai trò của sản phẩm bảo hiểm nhân thọ liên
kết đầu tư, chúng ta đã nhận thấy tiềm năng và những lợi ích của sản phẩm này. Để
bảo hiểm nhân thọ liên kết đầu tư thực sự phát triển và trở thành sự lựa chọn tin
cậy của khách hàng thì trong thời gian tới, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và
doanh nghiệp bảo hiểm cần phải có những chính sách cụ thể, phù hợp với tình hình
thị trường.
Page 22
Bài tập nhóm Luật kinh doanh bảo hiểm Nhóm 9 – N02
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 (sửa đổi, bổ sung 2010)
2. Quy chế triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết chung” ban hành theo Quyết
định số 96/2007/QĐ-BTC ngày 23/11/2007
3. Thông tư 135/2012/TT-BTC hướng dẫn triển khai sản phẩm bảo hiểm liên
kết đơn vị
4. Một số vấn đề pháp lý về sản phẩm bảo hiểm nhân thọ- Ths Trần Vũ HảiTạp chí Luật học số 8/2011 Tr 25-37
5. Phát triển sản phẩm bảo hiểm nhân thọ liên kết đầu tư – Võ Đình Trí – Tạp
chí phát triển kinh tế số 7/2008.
Một số trang web
https://luattaichinh.wordpress.com/