MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đề tài có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn:
- Về lý luận, hợp tác xã (HTX) là một tổ chức kinh tế vừa có ý nghĩa kinh tế
vừa mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc. Có thể nói, ý tưởng HTX là một ý
tưởng hợp tác kinh tế vĩ đại của các bậc tiền bối. Ý tưởng này đã hình thành
một cách tự nhiên từ những đòi hỏi, nhu cầu thực tế của con người trong
hoạt động kinh tế. Những lý luận về kinh tế hợp tác mà nòng cốt là hợp tác
xã đã được Mác, Ăngghen, LêNin nghiên cứu và đi vào hoạt động thực tiễn
của nước Nga. Dựa trên cơ sở lý luận đó cùng với việc hiểu được vị trí, vai
trò, ý nghĩa của “Kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể trở thành nền
tảng vững chắc của nền kinh tế”1. Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới,
chuyển nền kinh tế sang hoạt động theo cơ chế thị trường, HTX cũng được
đổi mới cả về nội dung, hình thức hoạt động, biểu hiện cụ thể ở việc ban
hành Luật HTX (năm 1996). Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động theo mô
hình HTX kiểu mới của các HTX nông nghiệp vấp phải rất nhiều khó khăn
làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp. Tổng kết 5 năm thực hiện
chuyển đổi HTX theo Luật HTX (1996), Hội nghị Trung ương 5 khóa IX
(3/2002) đã ra Nghị quyết về: Tiếp tục đổi mới phát triển và nâng cao hiệu
quả kinh tế tập thể, trong đó nhấn mạnh Nhà nước phải tạo điều kiện thuận
lợi cho HTX nông nghiệp phát triển. Trên cơ sở Nghị quyết của Đảng và
thực tiễn hoạt động của HTX kiểu mới, kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI
(ngày 26/11/2003) đã thông qua Luật HTX mới (Luật HTX năm 2003 có
hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2004).
1 Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
1
đối với huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình là phải đánh giá đúng tình hình và
kết quả hoạt động của các HTX, rút ra những kinh nghiệm và đề ra những giải
pháp tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả kinh tế của các HTX nông nghiệp
kiểu mới.
Đề tài “Phát triển hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn huyện
Thái Thụy, tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay”, để nhìn lại quá trình
hoạt động của HTX DVNN trong những năm qua, rút ra những hạn chế, những
bài học thành công. Từ đó, đề ra các giải pháp góp phần thực hiện mục tiêu,
các yêu cầu đặt ra đối với hoạt động của một HTX DVNN. Hướng tới mục tiêu
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong những năm sắp tới của huyện.
2. Tình hình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến đề tài
Đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả HTX nông nghiệp là một
trong những vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm. Trong suốt quá trình
cách mạng XHCN ở nước ta, vấn đề HTX nông nghiệp là chủ đề được nhiều
cơ quan khoa học, nhiều nhà nghiên cứu xem xét dưới nhiều góc độ, phạm vi
và mức độ khác nhau. Có thể nêu một số công trình tiêu biểu như:
- Lương Xuân Quỳ, Nguyễn Thế Nhã, “Đổi mới tổ chức và quản lý
HTX trong nông nghiệp nông thôn”, Nxb Nông nghiệp, 1999. Các tác giả đã
khái quát toàn bộ quá trình phát triển của các hình thức tổ chức, quản lý các
HTX trong nông thôn Việt Nam từ trước đến khi chuyển sang kinh tế thị
trường và phân tích thực trạng mô hình tổ chức quản lý các HTX ở một số địa
phương tiêu biểu. Trên cơ sở đó phác họa một số phương hướng và giải pháp
chủ yếu để xây dựng mô hình tổ chức có hiệu quả cho các loại hình HTX.
- Nguyễn Văn Bình, Chu Tiến Quang, Lưu Văn Sùng, “ Kinh tế hợp
tác, hợp tác xã ở Việt Nam- Thực trạng và định hướng phát triển”, Nxb Nông
nghiệp, 2001. Các tác giả đã hệ thống hóa quá trình hình thành, phát triển các
lọai hình kinh tế hợp tác, hợp tác xã trên thế giới và ở Việt Nam với những
3
4
chủ yếu đi vào làm rõ những yếu kém của mô hình hợp tác xã kiểu cũ, luận
giải sự cần thiết, thực trạng chuyển đổi mô hình HTX theo Luật HTX (1996);
các công trình nghiên cứu sau năm 2001, nghiêng về nghiên cứu sự phát triển
của kinh tế tập thể theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX.
Cho đến nay chưa có đề tài nghiên cứu cụ thể về HTX dịch vụ nông
nghiệp trên địa bàn Thái Thụy, Thái Bình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của khóa luận là vận dụng lý luận cơ bản về HTX và
HTXNN để đánh giá tình hình phát triển HTX DVNN của huyện Thái Thụy,
tỉnh Thái Bình, từ đó đưa ra một số phương hướng, giải pháp nhằm phát triển
HTX DVNN của huyện Thái Thụy trong thời gian tới.
Để đạt được mục đích đó, khóa luận có những nhiệm vụ:
- Luận giải cơ sở lý luận về phát triển HTX, HTX nông nghiệp kiểu mới, HTX
DVNN.
- Khái quát và đánh giá thực trạng phát triển HTX DVNN trên địa bàn huyện
Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
- Phân tích phương hướng, đề xuất các giải pháp phát triển HTX DVNN trên
địa bàn huyện Thái Thụy.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là HTX DVNN trên địa bàn huyện
Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Giới hạn nghiên cứu từ năm 2008 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu để tài
Khóa luận dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng
Hồ Chí Minh; đường lối, quan điểm, những tổng kết kinh nghiệm của Đảng
và chính sách pháp luật của Nhà nước; kế thừa có chọn lọc các công trình
nghiên cứu khoa học có nội dung nghiên cứu gần với đề tài.
Tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương pháp để nghiên cứu đề tài:
KIỂU MỚI Ở NƯỚC TA
1.1 Quan điểm về hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới
1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - LêNin về hợp tác xã nông nghiệp
Lịch sử phát triển của xã hội loài người chính là lịch sử của sự phát
triển LLSX, đi với nó là một QHSX phù hợp. Sự hợp tác giữa người và người
không chỉ vì yêu cầu của sản xuất mà còn cả yêu cầu của cuộc sống để nương
tựa nhau, hỗ trợ nhau và bảo vệ cho nhau.
Trong lý luận “hiệp tác” của mình, Mác đã làm rõ các nội dung sau:
Thứ nhất, hiệp tác là một hiện tượng khách quan của xã hội loài người
và đã xuất hiện rất sớm kể từ khởi đầu nền văn minh của loài người và không
ngừng phát triển theo sự phát triển của LLSX, tuy nhiên mỗi chế độ xã hội
khác nhau có nội dung và hình thức hiệp tác khác nhau. Hiệp tác tư bản chủ
nghĩa là sự hiệp tác của những người lao động làm thuê tự do, bán sức lao
động của mình cho nhà tư bản, còn hiệp tác XHCN theo C.Mác là sự hiệp tác
của những người sản xuất tự do và bình đẳng liên hiệp lại để tiến hành lao
động xã hội theo một kế hoạch chung và hợp lý.
Thứ hai, hiệp tác diễn ra đồng thời với quá trình phân công lao động,
do đó có các phạm vi hiệp tác khác nhau: cá biệt, đặc thù và trên toàn xã hội
và còn diễn ra trên phạm vi thế giới với các hình thức hết sức đa dạng và
phong phú.
Thứ ba, hiệp tác mang lại nhiều lợi ích có thể sánh như khoa học là lực
lượng tự nhiên mà nhà tư bản khai thác nó không tốn một đồng xu, do đó nó
cũng có lợi nhất định cho người lao động và cho toàn bộ nền kinh tế quốc
dân. Tuy nhiên việc khai thác lợi thế của sự hiệp tác không tốt cũng sẽ gây ra
những tác hại to lớn không thể lường trước được.
7
Phát triển lý luận về hợp tác của C. Mác, Lênin đã luận giải sự cần
Phải cho chế độ HTX hưởng một số đặc quyền kinh tế, tài chính, ngân
hàng; sự ủng hộ mà nhà nước XHCN của chúng ta mang lại cho nguyên tắc tổ
chức mới của dân cư phải là như vậy3”
Cũng chính Lê nin đã phát triển quan điểm mác - xít về kinh tế hợp tác
và nêu lên các nguyên tắc và hình thức tổ chức kinh tế hợp tác. Nguyên tắc đầu
tiên của hợp tác là tự nguyện, không cưỡng ép nông dân vào HTX bằng bất cứ
hình thức nào, ngoài ra phải tôn trọng nguyên tắc cùng có lợi, quản lý dân chủ
và có sự giúp đỡ của nhà nước. Bước đi của hợp tác là phải tiến hành từng
bước, phù hợp với quá trình phát triển KT-XH, tức là theo qui luật QHSX phải
phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX. Trong chính sách kinh tế mới
(NEP) Lênin nêu ra bước đi của hợp tác là từ thương mại rồi dần đi vào sản
xuất. Lênin nhấn mạnh tính thiết thực, cụ thể, phù hợp với từng ngành, từng
lĩnh vực SXKD, phù hợp với phong tục, tập quán và dân trí của từng vùng.
Cuối cùng Lênin đã khẳng định vai trò của HTX đối với sự nghiệp xây
dựng CNXH ở nước Nga lúc bấy giờ, coi đây là một trong 2 yếu tố làm lên
thành công của CHXH “Nhiệm vụ thứ hai của chúng ta là tiến hành công tác
văn hoá trong nông dân. Mà công tác văn hoá trong nông dân lại nhằm mục
tiêu kinh tế - đó chính là thực hiện chế độ hợp tác xã. Nếu chúng ta tổ chức
được toàn thể nông dân vào hợp tác xã thì chúng ta đứng vững được hai chân
trên miếng đất xã hội chủ nghĩa”.
1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã nông nghiệp
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất sớm, có thể là người Việt Nam đầu tiên,
nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm quốc tế về hợp tác xã và truyền bá vào
nước ta, trong tác phẩm “Đường kách mệnh” viết vào năm 1927.
“Hợp tác xã” trong “Đường kách mệnh” là tác phẩm lý luận điển hình,
mẫu mực về hợp tác xã (HTX), là biểu hiện sinh động của sự gặp gỡ giữa văn
3 V.I.LêNin, Bàn về chế độ hợp tác xã, NXB Sự thật,1977
9
10
các tỉnh, ǎn lời nǎm lần, Nhà buôn F bán sỉ cho phố G các phủ, ǎn lời sáu lần,
G bán lẻ cho H, ǎn lời bảy lần. H bán lẻ cho người uống, ǎn lời tám lần. Thế
là người làm ra chè thua thiệt, người uống chè cũng thua thiệt. Nếu có HTX
thì tránh khỏi những điều ấy.
Bác đã nhấn mạnh lợi ích mà các xã viên nhận được khi tham gia vào
các HTX. Bác giải thích: Hợp tác xã là thể chế HTX viên đơn lẻ thành số
đông, từ đó tạo thành sức mạnh mà nhu cầu và lợi ích chung, trước hết là lợi
ích kinh tế là sợi dây gắn kết xã viên; xã viên tham gia HTX càng đông lợi ích
đem lại cho xã viên càng lớn, tạo mục đích kép: từng xã viên khá hơn và cộng
đồng đoàn kết hơn.
“... Nếu chúng ta đứng riêng ra, thì sức nhỏ, mà làm không nên việc.
Thí dụ mỗi người mang một cái cột, một tấm tranh ở riêng mỗi người một
nơi, thì lều chẳng ra lều, nhà chẳng ra nhà. Nhóm những cột ấy, tranh ấy, sức
ấy, làm ra một cái nhà rộng rãi bề thế rồi anh em ở chung với nhau, ấy là hợp
tác. Lại thí dụ 10 người muốn ǎn cơm, mỗi người riêng một nồi, nấu riêng
một bếp, nấu rồi ǎn riêng; ǎn rồi ai nấy dọn dẹp riêng của người nấy, thế thì
mất biết bao nhiêu củi, nước, công phu và thì giờ. Hợp tác xã là "góp gạo thổi
cơm chung" cho khỏi hao của, tốn công, lại có nhiều phần vui vẻ..4."
Bác nhấn mạnh, HTX phải mang lại lợi ích thiết thực cho xã viên,
người không tham gia HTX không được hưởng lợi, có như vậy mới tạo sự
hấp dẫn của HTX đối với nhân dân.
Mặt khác, Bác đề cao tính bình đẳng của xã viên HTX khi đã là xã viên
hợp tác xã: “Hợp tác xã chỉ có hội viên mới được hưởng lợi, chỉ có hội viên
mới có quyền, nhưng những việc kỹ thuật như tính toán, xem hàng hoá, cầm
máy, vv., thì có phép mướn người ngoài”. Đã vào hội thì bất kỳ góp nhiều
góp ít, vào trước vào sau, ai cũng bình đẳng như nhau. Hợp tác xã phải tôn
4 Hồ Chí Minh (2000), toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 9
12
kinh tế tập thể đối với sự nghiệp phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Có thể khái quát các quan điểm của Đảng ta về HTX và phát triển HTX
qua các kì đại hội được thể hiện ở những nội dung sau:
Thứ nhất, kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX thời gian tới phải phát
triển đa dạng về hình thức, không giới hạn quy mô, lĩnh vực và địa bàn, bao
gồm nhiều hình thức sở hữu, với nhiều trình độ khác nhau, từ tổ hợp tác đến
HTX và lên đến trình độ cao là liên hiệp HTX. Sở hữu trong kinh tế tập thể
dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể, liên kết rộng rãi với các
thành phần kinh tế khác, không giới hạn về quy mô, lĩnh vực và địa bàn; Phân
phối vừa theo lao động, vừa theo vốn góp và mức độ tham gia của dịch vụ;
Nguyên tắc hoạt động: tự chủ; tự chịu trách nhiệm; Thành viên tập thể bao
gồm cả thể nhân và pháp nhân... cùng góp vốn, cùng góp sức trên cơ sở tôn
trọng các nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và quản lý dân chủ.
Thứ hai, kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX phải là một tổ chức kinh
tế kết hợp hài hoà giữa lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội của các thành viên và
lợi ích tập thể: Kinh tế tập thể lấy lợi ích kinh tế làm chính, bao gồm lợi ích
của các thành viên và lợi ích tập thể, đồng thời coi trọng lợi ích xã hội của
thành viên, góp phần xoá đói giảm nghèo, tiến lên làm giàu cho các thành
viên và phát triển cộng đồng. Do vậy, khi đánh giá hiệu quả kinh tế tập thể
phải trên cơ sở quan điểm toàn diện, cả kinh tế - chính trị - xã hội, cả hiệu quả
của tập thể và hiệu quả của các thành viên.
Thứ ba, khẳng định sự cần thiết phải tiếp tục phát triển rộng rãi các
hình thức kinh tế tập thể trong tất cả các ngành, lĩnh vực và địa bàn, trong đó
trọng tâm là khu vực nông nghiệp, nông thôn; phát triển kinh tế tập thể trong
nông nghiệp, nông thôn phải đảm bảo quyền tự chủ của kinh tế hộ, trang trại;
nhất quán giữa các luật, Luật Đất đai, Luật Ngân hàng, Luật các tổ chức Tín
dụng, các Luật về Thuế, Bộ Luật Dân sự, Luật về Bảo hiểm xã hội, Pháp lệnh
14
Cán bộ công chức... tạo điều kiện cho Luật HTX đi nhanh vào cuộc sống theo
hướng giảm tối đa thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh, thành viên HTX
bao gồm cả thể nhân và pháp nhân; cán bộ công chức được tham gia HTX với
tư cách là xã viên; phân định rõ chức năng quản lý của Ban quản trị và chức
năng điều hành của Chủ nhiệm; Chủ nhiệm có thể là xã viên hoặc ngoài HTX
do ban quản trị thuê; HTX tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong lựa chọn ngành,
nghề kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu, đa dạng lĩnh vực hoạt động phù hợp với
nhu cầu thị trường; ban hành đồng bộ, kịp thời các văn bản dưới luật, sửa đổi
bổ sung Điều lệ mẫu phù hợp với đặc thù của các loại hình HTX để dễ vận
dụng; hướng dẫn về tổ chức, hoạt động đối với tổ hợp tác theo Bộ luật Dân
sự.
Tạo lập môi trường tâm lý xã hội thuận lợi cho kinh tế hợp tác, HTX
phát triển bằng việc: Tăng cường tuyên truyền chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế hợp tác, HTX và các mô
hình làm ăn có hiệu quả; biểu dương, khen thưởng những cá nhân và tập thể
có thành tích và đóng góp cho kinh tế hợp tác, HTX; đưa nội dung phát triển
kinh tế hợp tác, HTX vào giảng dạy trong các trường đại học, cao đẳng, trung
học chuyên nghiệp và dạy nghề.
1.1.3.2
Chính sách của nhà nước về phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã trong nền
kinh tế thị trường
Trước thời kỳ đổi mới, các chính sách phát triển kinh tế hợp tác, HTX
của Đảng và Nhà nước được thiết kế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao
xã viên HTX. Cụ thể như sau:
- Các ngành, các địa phương chủ động xây dựng quy hoạch đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý và nghiệp vụ cho khu vực kinh tế tập thể.
- Nhà nước hỗ trợ toàn bộ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho
HTX.
- Có chính sách thu hút cán bộ quản lý và cán bộ khoa học kỹ thuật về
công tác tại HTX.
16
- Thực hiện bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với xã viên HTX và người lao
động làm việc theo hợp đồng, hưởng tiền lương, tiền công theo Bộ luật lao
động; các thành viên khác không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì tạo
điều kiện tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện theo nhu cầu.
* Chính sách đất đai:
Khuyến khích và tạo điều kiện cho hộ nông dân “dồn điền, dồn thửa”,
tập trung ruộng đất theo chính sách của Nhà nước để phát triển sản xuất hàng
hoá, mở mang ngành nghề.
- Nhà nước giao đất không thu tiền và cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho HTXNN xây dựng trụ sở, làm cơ sở SX-KD...
- HTX phi nông nghiệp được thuê đất dài hạn, giảm mức nộp thuế sử
dụng đất cho HTXNN trong một thời gian nhất định và được nộp tiền thuê đất
nhiều lần.
- Đất do HTX đầu tư để khai phá, tôn tạo, khi Nhà nước chuyển sang
chế độ cho thuê, cần trả lại chi phí cho HTX.
* Chính sách tài chính, tín dụng
- Chính sách thu: Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong một thời gian
nhất định đối với HTX nông, lâm, ngư nghiệp mới chuyển đổi hoặc thành lập.
- Thực hiện chính sách hỗ trợ đầu vào, đầu ra cho sản xuất nông
Các ngành, các địa phương, các hiệp hội ngành nghề và Liên minh
HTX hỗ trợ xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin, tìm kiếm thị trường giúp
đỡ các hộ, tổ hợp tác và HTX; tổ chức các hình thức giới thiệu sản phẩm ở
trong và ngoài nước phù hợp với trình độ hiện tại và xu hướng phát triển của
kinh tế tập thể.
18
Thực hiện rộng rãi việc ký kết hợp đồng trực tiếp giữa doanh nghiệp
chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp với nông dân qua các
HTX.
Các doanh nghiệp cung ứng vật tư, phân bón, thức ăn chăn nuôi, hướng
dẫn quy trình kỹ thuật và thu mua sản phẩm cho HTX theo các hợp đồng dài
hạn đối với những sản phẩm có khối lượng lớn, có chế độ ưu đãi các doanh
nghiệp này.
Khuyến khích nông dân và HTX sản xuất nguyên liệu mua cổ phần, trở
thành cổ đông của các doanh nghiệp chế biến nông lâm, thuỷ sản.
* Chính sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng:
Những đổi mới về chính sách đầu tư phát triển hạ tầng cũng được quan
tâm từ phía Nhà nước. Theo định hướng chính sách đã được nêu trong Nghị
quyết Hội nghị Trung ương 5 (khoá IX). Nhà nước sẽ thực hiện chính sách hỗ
trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, điện, nước, công trình thuỷ
lợi... trước hết cho phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH-HĐH;
tạo điều kiện hình thành và phát triển các vùng sản xuất hàng hoá lớn, thúc
đẩy sự hình thành và phát triển của kinh tế hợp tác, HTX.
1.2 Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới ở nước ta
1.2.1 Khái niệm về HTX, HTX NN và HTX DVNN
• Khái niệm HTX ở một số nước
HTX là một loại hình kinh tế hợp tác có ý nghĩa lớn đối với các chủ sản
của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn
các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần
phát triển kinh tế xã hội của đất nước”.
Điều 1 của HTX sửa đổi bổ sung năm 2003 được nêu như sau: “HTX là
tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi
chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập
ra theo qui định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên
20
tham gia HTX, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất
kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước. HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có
tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính
trong phạm vị vốn điều lệ, vốn tích lũy và các nguồn vốn khác của HTX theo
qui định của pháp luật.”
Theo khái niệm này, ngoài những tính chất và đặc thù do Luật HTX
(năm 1996) qui định, HTX kiểu mới do các thành viên bao gồm cả thể nhân
và pháp nhân, cả người có ít vốn và người có nhiều vốn, có thể góp sức hoặc
góp vốn xây dựng nên, trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc: tự nguyện, bình
đẳng cùng có lợi và quản lý dân chủ. HTX được thừa nhận hoạt động theo
điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp trong cơ chế thị trường như các thành phần
kinh tế khác; được khẳng định quyền “tự chủ” trong sản xuất kinh doanh;
được huy động “các nguồn vốn khác theo qui định của pháp luật” như các loại
hình doanh nghiệp khác. Trước đây, luật không qui định điều này.
Theo định nghĩa này, HTX được vay vốn bình đẳng như đối với doanh
nghiệp của các thành phần kinh tế khác, các HTX được thế chấp bằng tài sản
hình thành từ vốn vay để vay vốn ngân hàng, được vay vốn bằng tín chấp và
vay theo dự án sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, các HTX được tham gia các
lệ mẫu HTX để kinh doanh các dịch vụ phục vụ đầu vào, đầu ra của quá trình
sản xuất nông nghiệp cũng như nâng cao đời sống xã viên và cộng đồng dân
cư ở khu vực nông thôn.
Đây là loại hình HTX được tách hẳn ra để làm chức năng dịch vụ nông
nghiệp bao gồm dịch vụ các yếu tố đầu vào như dịch vụ cung ứng vật tư
(giống, phân bón, thuốc trừ sâu...); dịch vụ các khâu cho sản xuất nông nghiệp
như dịch vụ làm đất, tưới tiêu, bảo vệ thực vật...; dịch vụ các yếu tố đầu ra sản
xuất nông nghiệp như dịch vụ chế biến, bảo quản, thu mua, tiêu thụ sản
phẩm...những khâu dịch vụ này, nếu từng xã viên làm thì sẽ không hiệu quả.
Mô hình này đã triển khai đa dạng các loại hình dịch vụ như chế biến nông sản,
phát triển ngành nghề, kinh doanh thương mại, xây dựng, tín dụng...
22
1.2.2 Sự cần thiết phải phát triển HTX DVNN và những đặc trưng chủ yếu của
1.2.2.1
HTX DVNN trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay
Sự cần thiết phải phát triển HTX DVNN trong nền KTTT định hướng XHCN ở
nước ta hiện nay
KTTT định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát có ý nghĩa
chiến lược lâu dài và có tính quy luật trong thời kì quá độ lên xây dựng
CNXH ở nước ta. KTTT định hướng XHCN ở VN là một kiểu tổ chức kinh tế
vừa dựa trên nguyên tắc, quy luật của thị trường, vừa dựa trên cơ sở dẫn dắt,
chi phối của CNXH thể hiện trên 3 mặt sở hữu, quản lý và phân phối. Do vậy,
nền kinh tế ấy chịu sự tác động của quy luật cung cầu, cạnh tranh, giá trị...của
nền KTTT. Phát triển HTX DVNN là cần thiết trong nền KTTT định hướng
XHCN. Điều này được thể hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, phát triển HTX DVNN là tất yếu trong quá trình phát triển
vào sản xuất đồng thời đảm bảo đầu ra cho các sản phẩm, thì hiệu quả của sản
xuất sẽ rất cao. Phát triển HTX DVNN đã góp phần tăng nhanh tỉ trọng sản
phẩm và lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỉ trọng
sản phẩm và lao động, xây dựng kết cấu hạ tầng như thủy lợi, giao thông, bảo
vệ môi trường sinh thái, thúc đẩy cơ giới hóa nông nghiệp, áp dụng công nghệ
hiện đại tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp.
Thứ tư, phát triển HTX DVNN là do yêu cầu huy động và sử dụng tốt
các nguồn lực kinh tế ở khu vực nông thôn. Khi xây dựng các HTX DVNN,
đảm nhận nhiều loại hình dịch vụ hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện
cho xã viên tập trung sản xuất kinh doanh, mọi nguồn lực trong sản xuất được
huy động một cách triệt để. Cũng chính nhờ quá trình này việc tổ chức, quản
lý dịch vụ của HTX được hiệu quả hơn, ngày càng mở rộng và nâng cao về
chất lượng phục vụ. Sự phát triển của HTX đã tận dụng một cách có hiệu quả
các nguồn lực ở khu vực nông thôn như tín dụng nội bộ tức là chính xã viên
giúp xã viên, “tương trợ cộng đồng”, giúp nhau cùng phát triển, dịch vụ tiêu
24
thụ sản phẩm...sự ra đời và phát triển của HTX DVNN không chỉ có ý nghĩa
về kinh tế mà nó còn mang tính xã hội sâu sắc.
Như vậy, trong nền KTTT định hướng XHCN, HTX nói chung đặc biệt
là HTX DVNN đã thể hiện khá rõ vai trò của mình. Loại hình này là phương
thức làm ăn có hiệu quả góp phần thúc đẩy quá trình CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn, phấn đấu mục tiêu đến năm 2020 “nước ta cơ bản trở
thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.
1.2.2.2
Những đặc trưng chủ yếu của HTX DVNN
Thứ nhất, HTX DV nông nghiệp đầu tư kinh doanh đa lĩnh vực, đa